1
CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO BÁO CHÍ CỦA ĐẢNG
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Báo chí học
Mó số
:
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
2
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các phương tiện thông tin đại chúng nói chung, báo chí nói riêng, có
vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Báo chí cung cấp thông tin,
định hướng và tác động dư luận xã hội. Báo chí cách mạng còn là “người
tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể”, là vũ khí tư tưởng sắc
bén của Đảng Cộng sản.
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, báo chí nước ta đã có sự
chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng đội ngũ nhà báo. Đây là cơ
hội thuận lợi cho hệ thống báo chí nước ta phát triển. Những người làm báo
nước ta đã tranh thủ khai thác và vận dụng khá tốt thời cơ này để đổi mới,
thích nghi và có những bước tiến đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
lý luận mà cũn cú ý nghĩa thực tiễn sõu sắc, và cũng là lý do dể thực hiện đề
tài: Công tác lãnh đạo báo chí của Đảng trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu
Vấn đề lónh đạo báo chí của Đảng không phải là đề tài mới, có nhiều
công trỡnh đó đề cập đến dưới các góc độ khác nhau. Vai trũ, chức năng của
báo chí trong đời sống chính trị- xó hội khụng phải là đề tài chưa được bàn
luận và “sới sáo”. Sách “Cơ sở lý luận bỏo chớ” (Tỏc giả Tạ Ngọc Tấn- chủ
biờn, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội) đó đề cập đến nội dung này ở chương
VI: Nguyên tắc hoạt động báo chí. Tuy nhiên do khuôn khổ của một cuốn
Giỏo trỡnh nờn nội dung đề cập khá sơ lượng, mang tính khái quát chung,
không có điều kiện khảo sát thực tế. Một số bài viết trên Tạp chí Lý luận
chớnh trị và Truyền thụng cũng đó đề cập đến vấn đề này nhưng nội dung
mỗi tác phẩm cũng chỉ dừng lại ở việc nêu ra những vấn đề nổi trội ở những
năm trước, không phải là tỡnh hỡnh giai đoạn hiện tại. Chỉ là một bài báo
không thể quá dài mức quy định, nên phạm vi lý luận cũng như thực tế hạn
5
chế nhiều. Là đề tài cũ nhưng mỗi một thời điểm lại có những đổi mới về nội
dung cũng như hỡnh thức, như thay đổi các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về
báo chí trong thời kỳ đổi mới. Vẫn trên nền tảng cơ bản nhưng vận hành sông
song với tiến trỡnh phỏt triển của đất nước. Ở luận văn này tôi mạnh dạn đưa
ra một cách nhỡn trực diện với vấn đề nêu ra và cố gắng soi sáng lý luận bằng
thực tiễn sinh động.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn công tác lónh đạo báo chí của Đảng trong
giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế để tăng cường, đổi mới và nâng cao hiệu
quả công tác lónh đạo cảu Đảng đối với báo chí.
thức để nhỡn nhận đúng thực trạng những mặt tích cực, mặt hạn chế của báo
chí hiện nay, trên cơ sở đó phấn đấu thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trên lĩnh vực
được phân công. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu cung cấp thông tin để
các cơ quan có liên quan tham khảo nhằm góp phần tích cực vào sự phát triển
của báo chí vỡ sự nghiệp phỏt triển và đổi mới đất nước.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, phần nội dung
luận văn có 3 chương:
Chương I: Báo chí là công cụ quan trọng để thực hiện sự lónh đạo
của Đảng .
Chương II: Công tác lónh đạo báo chí của Đảng trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế - Những vấn đề đặt ra.
Chương III: Những giải pháp nâng cao chất lượng lónh đạo của
Đảng đối với báo chí trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
7
Chương 1
BÁO CHÍ LÀ CÔNG CỤ QUAN TRỌNG ĐỂ THỰC HIỆN
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
1.1. Vai trò của báo chí trong đời sống xã hội
Báo chí đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt trong xã
hội hiện đại ngày nay. Với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, các phương tiện
truyền thông đang ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh
chung của xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, hệ thống báo chí đã đạt được
những thành tựu to lớn, đã có những bước tiến vượt bậc, khẳng định vai trò,
vị trí của mình trong tiến trình phất triển đất nước.
Trước đổi mới, báo chí được coi là công cụ tuyên truyền của Đảng,
Nhà nước. Quan niệm đó đúng nhưng chưa đủ. Thực tiễn đổi mới đất nước đã
kẽ thỡ nhất định báo chí sẽ không làm tốt vai trũ phản biện xó hội. Do đó, mỗi
nhà báo phải được đào tạo ít nhất đạt trỡnh độ trung cấp chính trị (việc đào
tạo này không nhất thiết nhà báo phải là đảng viên); Ban tuyên giáo các cấp
cần kịp thời quán triệt các nghị quyết của Đảng đến đội ngũ các nhà báo ở cấp
mỡnh, địa phương mỡnh quản lý. Đồng thời cần làm cho các nhà báo ý thức
được sự cần thiết của việc bồi dưỡng trỡnh độ chính trị mà cú ý thức tự học
tập, nghiờn cứu. Bỏo chớ là kờnh thụng tin quan trọng, là tiếng núi đại diện
cho cho tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các giai tầng xó hội; là phương
tiện cổ vũ tập thể, tuyên truyền tập thể. Nhà báo không làm chính trị nhưng
góp phần làm cho tư tưởng chính trị “đơm hoa, kết trái” trong đời sống xó
hội. Mọi thụng tin chớnh xỏc, lý lẽ sắc bộn để cổ vũ các phong trào hành
động cách mạng, đấu tranh với cái xấu, cái ác, bênh vực công bằng, lẽ phải sẽ
tạo nên những “hiệu ứng xó hội” tốt đẹp, góp phần định hướng dư luận xó
hội. Ngược lại, sự sai lệch về thông tin sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.
9
Nhà báo cần phải ý thức được sự lợi hại của ngũi bỳt, từ đó đắn đo suy nghĩ
trước những vấn đề mỡnh phản ỏnh, trờn cơ sở tôn trọng sự thật, đặt lợi ích
cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc trên hết, đừng bao giờ để “danh lợi cá
nhân” chen vào trang viết của mỡnh. Chớnh vỡ thế, trỏch nhiệm nhà bỏo
khụng đơn thuần là phản ánh hiện thực đời sống xó hội mà ở đó ý thức công
dân, trách nhiệm xó hội phải đề cao; đạo đức nhà báo là một phần quan trọng
không thể xem nhẹ khi chọn lựa nhà báo-những chiến sĩ tiên phong trên mặt
trận tư tưởng-văn hóa. Như vậy, để báo chí làm tốt vai trũ phản biện xó hội
thỡ đạo đức nhà báo là một trong những điều cốt lừi cần quan tâm.Tri thức và
sự dấn thân cũng là một yêu cầu đối với mỗi nhà báo khi thực thi vai trũ phản
biện xó hội của bỏo chớ. Nhà bỏo khụng thể phản ỏnh tốt một vấn đề, một
lĩnh vực xó hội khi khụng hiểu về vấn đề, lĩnh vực đó. Bởi, không hiểu biết
ý nghĩa khi nó trở thành một sức mạnh thúc đẩy sự phát triển chung của xã
hội theo hướng đi lên, hướng tới cái thiện, cổ vũ tình hữu nghị, đoàn kết hợp
tác giữa các dân tộc. Kết quả hoạt động báo chí là nhằm “đạt được sự thay
đổi gì đó về thái độ, mục đích của đối tượng” và lớn hơn thế “nó có nhiệm vụ
giải thích cho quần chúng biết vì sao có một đề án như vậy, kế hoạch đó phát
triển như thế nào, nhân dân sẽ được hưởng lợi ích gì vào đề án, và những tiến
bộ gì, những thành tựu gì sẽ đạt được sau khi thực hiện đề án đó,...”. Quán
triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về mở rộng quan hệ đối ngoại, quan hệ
kinh tế quốc tế trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, “chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”.
Cùng với những nỗ lực chung của các bộ, ban, ngành trong cả nước nhằm đẩy
mạnh các hoạt động hợp tác, thảo luận đẩy nhanh quá trình gia nhập WTO,
các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã tạo được những làn sóng thông
11
tin tích cực và đa chiều vừa nâng cao nhận thức của cộng đồng, toàn dân Việt
Nam về WTO, về thương mại Việt Nam và quốc tế. Các loại hình báo chí
luôn đóng vai trò cầu nối không chỉ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, mà
còn cả trong nước và quốc tế. Các loại hình báo chí từ báo in, báo nói, báo
hình, internet,... đã thông tin nhanh nhạy, chuyển tải kịp thời và hiệu quả
những hoạt động đối ngoại lớn của Đảng và Nhà nước, những chủ trương,
chính sách đối ngoại đúng đắn và cởi mở của nước ta; những hình ảnh về một
Việt Nam hoà bình, ổn định, phát triển năng động và đầy tiềm năng tới nhân
dân trong nước và bạn bè, đối tác quốc tế. Những thông tin này không chỉ làm
cho thế giới tin tưởng vào sự ổn định và phát triển của Việt Nam, góp phần
nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn tạo sự lạc
nghiệp trong bối cảnh hội nhập.
Vai trò của báo chí trong tuyên truyền kinh tế được thể hiện trước hết
ở việc báo chí tuyên truyền, đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về hội nhập kinh tế quốc tế, trước và sau khi gia nhập WTO cho toàn thể nhân
dân hiểu và làm theo nhằm tạo sự nhất quán trong hành động của toàn xã hội,
tạo sự tin tưởng, chung sức chung lòng xây dựng và phát triển một cách ổn
định nền kinh tế, chính trị, xã hội trong cả nước từ trung ương tới cơ sở. Các
phương tiện truyền thông đã chuyển tải nhanh chóng đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước về các hoạt động hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế
một cách nhất quán nhằm tạo được môi trường thuận lợi cả trong và ngoài
nước để đẩy mạnh việc gia nhập WTO, tạo sự ổn định trong đầu tư, phát triển
kinh tế...
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, báo chí đóng vai trò
rất quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn công chúng về vấn đề
cạnh tranh, bởi trong nền kinh tế thị trường, cùng với số lượng và quy mô
doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng, môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt. Bên cạnh đó, báo chí cũng tích cực thông tin, tuyên truyền những
13
kinh nghiệm của nước ngoài trong đàm phán để gia nhập WTO; đấu tranh để
tồn tại và phát triển sau khi đã gia nhập tổ chức này.
Mặc dù, báo chí của ta đôi khi vẫn còn hiện tượng “ thật thà” dẫn đến
thua thiệt không đáng có cho doanh nghiệp, đất nước, nhưng đa số doanh
nghiệp ở Hà Nội đã đánh giá cao vai trò của báo chí, xem báo chí là kênh
thông tin quan trọng giúp doanh nghiệp hiểu biết thêm về thị trường, đối tác,
quảng bá thương hiệu, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của xã hội và các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Một khảo sát khác do Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện cũng cho thấy: “Trong các
nhập kinh tế quốc tế, việc giao lưu văn hóa quốc tế sẽ mạnh mẽ hơn.
Với mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong
hội nhập quốc tế. Trên thế giới, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều tìm mọi cách
giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa của riêng mình, vỡ mất bản sắc sẽ không còn
là một quốc gia, một dân tộc nữa. Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc đã dóng góp
chung cho nền văn minh nhân loại, làm cho nó đa dạng, phong phú, kết tinh
những tinh hoa văn hóa của các dân tộc ở khắp các châu lục. Việc giao lưu
văn hóa giữa các nước trên thế giới là rất cần thiết, nó là nguồn bổ sung, làm
giàu có thêm cho nền văn hóa mỗi dân tộc. Một nền văn hóa đóng cửa khép
kín sẽ khô héo, thiếu sức sống và kém phát triển. Vấn đề đặt ra là khi giao
lưu, hội nhập quốc tế là không chỉ tiếp thu những tinh hoa văn hoa ca nhân
laoij, đồng thời phải giữ được nền văn hóa dân tộc, không đánh mất bản sắc
của chính mình. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cần được quan tâm
ngay trong cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như trong lĩnh vực nghệ thuật, đã
xảy ra tình trạng không ít bạn trẻ đua nhau chạy theo nhạc rock, pop,
hiphop… mà quay lưng với nghệ thuật truyền thống như hát dân ca, tuồng,
chèo… Nhiều người mẹ trẻ không thuộc một bài hát ru. Ngay trong cách ăn
mặc, nói năng, cử chỉ, hành vi, giao tiếp hàng ngày, muốn giữ gìn bản sắc văn
15
hóa dân tộc cần phảI dựa trên cơ sở thuần phong mỹ tục của ông cha từ bao
đời để lại. Mỗi gia đình phải giữ được nền nền nếp gia phong, con cháu hiếu
thảo, vợ chồng thủy chung, anh em thuận hòa. Khu dân cư phải có tình làng
nghĩa xóm, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Điều cấp thiết hiện nay là phải xây
được lối sống, nếp sống thấm nhuần đạo lý của con người Việt Nam. Lối sống
thực dụng tôn thờ đồng tiền đang hủy hoại truyền thống nhân nghĩa, truyền
thống đạo đức của dân tộc.Thực tế cho thấy, khi mở rộng giao lưu văn hóa,
để thông tin không chỉ đúng mà còn hay, sinh động, hấp dẫn cho công chúng.
1.2. Vai trò của báo chí đối với sự lãnh đạo của Đảng
Từ những thành tựu quan trọng của thông tin đại chúng thời kỳ đổi
mới, xuất phát từ phương châm “đổi mới tư duy” của Đảng, Luật báo chí ban
hành năm 1990 đã thể hiện quan điểm đổi mới, khẳng định ở ngay điều 1
Chương 1: “Báo chí nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương
tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn
luận của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của
nhân dân”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi báo chí là
vũ khí sắc bén để tuyên truyền, cổ vũ, động viên, tập hợp, tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước. Báo chí luôn bám sát định hướng chính trị của Đảng,
tuyên truyền kịp thời, sâu rộng các sự kiện trọng đại của đất nước như các kỳ
Đại hội Đảng, các Hội nghị Trung ương, các kỳ họp Quốc hội... Với ưu thế
của mỗi loại hình, các đài phát thanh, truyền hình, báo in, báo mạng, tạp chí...
đã đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, góp phần nâng cao trình độ
nhận thức chính trị cho các tầng lớp nhân dân. Tóm lại, báo chí là kênh thông
tin quan trọng, là phương tiện, là công cụ đắc lực giúp Đảng, Nhà nước trong
việc lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước.
Là diễn đàn của nhân dân, báo chí luôn bám sát thực tiễn, phản ánh tiến
trình vận động của cuộc sống, kịp thời nắm bắt và phản ánh tâm tư, nguyện
17
vọng của các tầng lớp nhân dân. Thông qua báo chí, nhân dân được tự do bày
tỏ tâm tư, ý kiến của mình với Đảng, với Nhà nước. Mặt khác, nhân dân thể
hiện sự tin tưởng vào cơ quan ngôn luận bằng những hành động thiết thực
như phát hiện, đấu tranh chống tiêu cực thông qua báo chí. Rất nhiều sự kiện,
nghiên cứu bày tỏ nhận thức, quan điểm lý luận chính trị, chứng minh và
khẳng định học thuyết Mác - Lênin là đúng đắn, là hệ thống mở, luôn vận
động và phát triển; rằng chúng ta không được áp dụng máy móc mà phải vận
dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cách mạng
của từng quốc gia, dân tộc. Báo chí góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ
chính trị, nhận thức lý luận cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Bên cạnh đó, báo chí còn góp phần quan trọng vào công tác thông tin đối
ngoại, phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, làm cho bạn bè
quốc tế hiểu rõ hơn về đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng
và Nhà nước ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với
sự nghiệp đổi mới...
Báo chí là lực lượng quan trọng tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội.
Báo chí đã trở thành một lực lượng quan trọng trong quản lý nhà nước,
quản lý xã hội, vì sự tiến bộ của xã hội. Tiến bộ xã hội là quá trình phát triển
đan xen, có nhiều mâu thuẫn và thông qua mâu thuẫn để phát triển, do đó báo
chí thường xuyên phát hiện những mâu thuẫn, tổng kết thực tiễn để giải quyết
mâu thuẫn, tạo tiền đề cho sự phát triển hợp quy luật.
Báo chí đã tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn
Đảng và cải cách hành chính nhà nước, vào quá trình mở rộng và thực hành
dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương phép nước, góp phần xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Báo chí phát hiện ra những vấn đề bức xúc trong
nhân dân, phản ánh, kiến nghị các cơ quan chức năng giải quyết. Đồng thời,
19
báo chí tham gia vào việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật và những kế hoạch lớn của Nhà nước. Báo chí tham gia quản
lý, giám sát hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị, theo
triển của thị trường thế giới.
Xét về xu hướng, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các
hoạt động kinh tế vượt biên giới quốc gia, khu vực, tạo sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các nền kinh tế trong sự vận động và phát triển. Sự gia tăng này thể hiện
ở sự mở rộng mức độ và quy mô thương mại thế giới, ở sự luõn chuyển cỏc
dũng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.
Toàn cầu hóa đó và đang trở thành môt xu thế khách quan, tất yếu của
thời đại, tác động mạnh mẽ lên mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn
hóa, xó hội của thế giới trong bối cảnh loài người đang bước vào thời kỳ đổi
mới. Toàn cầu háo tác động đến sự tồn tại và phát triển của từng quốc gia, dân
tộc, tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, hiểu biết lẫn
nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trỡnh phỏt triển.
Cùng với xu hướng không gỡ cản nổi của toàn cầu, xu thế khu vực hóa
cũng đó và đang phát triển rất mạnh mẽ, đem lại hiệu quả không nhỏ cho mỗi
quốc gia. Khu vực hóa vừa là tiền đề, là biểu hiện của toàn cầu hóa, vừa là sự
phản ứng, kiềm chế quá mức của xu thế toàn cầu hóa.
Thông điêp mà toàn cầu hóa và khu vực hóa phát đi cho toàn thế giới
là: không một quốc gia nào có thể phát triển nếu không là một bộ phận của
nền kinh tế thế giới; đồng thời cũng không một quốc gia nào có thể phát
triển vững chắc, bỡnh ổn khi chỉ dựa vào toàn cầu húa mà khụng dựa vào
sức mạnh của chớnh mỡnh. Vấn đề là phải thất rừ mặt tớch cực và tiờu cực
của toàn cầu húa.
Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là
một quá trỡnh vừa hợp tỏc để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt
là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mỡnh, vỡ một trật
21
tự kinh tế quốc tế cụng bằng, chống lại những ỏp đặt phi lý của các cường
nghĩa, sự đoàn kết dân tộc và bản sắc văn hóan tộc. Trên cơ sở nhận thức đó,
Việt Nam đang thực hiện hội nhập quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy sự phát
triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững, bằng cách tận dụng tối đa lợi thế để
xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.
2.1.1. Báo chí nước ta trong xu thế hội nhập
2.1.1.1. Khỏi quỏt về tỡnh hỡnh bỏo chớ trong thời gian qua.
Hơn 20 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lónh đạo
của Đảng, có thể xem đây là thời cơ vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của
hệ thống báo chí cách mạng nước ta. Những người làm báo nước ta đó tranh
thủ khai thỏc và tận dụng khá tốt thời cơ này để đổi mới, thích nghi, phát
triển, có những bước tiến vượt bậc, đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiệp cách mạng đặt ra đối với báo chí nói riêng, đối với công tác văn hóa –
tư tưởng nói chung.
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Nền báo chí chỉ đó gặp
khụng ớt khú khăn để tồn tại trong cơ chế này, mỗi cơ quan báo chí phải tự
hạch toán kinh doanh, phải đối mặt với vấn đề lỗ - lói, bởi lẽ, Nhà nước
không cũn bao cấp như trước kia. Điều đó có nghĩa là giữa các báo sẽ xuất
hiện sự cạnh tranh: cạnh tranh về thông tin, về số lượng phát hành... tất cả
cũng nhằm thu hút lượng độc giả. Trong cơ chế thị trường, độc giả chính là
người nuôi sống tờ báo.
Có thể nói, thời kỳ đó làm cơ chế thị trường thay đổi cả diện mạo đất
nước trên nhiều phương diện. Trong bối cảnh này, các cơ quan báo chí phải
đối mặt với 2 sự lựa chọn: hặc là đổi mới để thích ứng với cơ chế thị trường,
với xó hội, hoặc là giữ nguyờn sự yếu kộm của mỡnh, tiếp tục thụng tin kiểu
bao cấp. Tất nhiờn, những cơ quan bao chí yếu kém sẽ không có cơ hội tồn tại
trong môi trường báo chí mới. Hướng đi tất yếu khách quan phù hợp với xu
23
10.000 người. Hiện nay, cả nước có gần 15.000 nhà báo được cấp thẻ hành
nghề. Bên cạnh đó cũn cú hàng chục nghỡn cộng tỏc viờn của cỏc cơ quan
báo chí trong cả nước gắn bó vưới nghề báo. So với các thê hệ trước kia, các
nhà báo thế hệ mới được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ; nhiều người thông thạo
ngoại ngữ, tin học, có tố chất và phẩm chất nhà báo; một số người khẳng định
được tên tuổi trước công chúng.
Về loại hỡnh: Bỏo chớ điện tử ra đời và phát triển đó đưa lại sự hoàn
chỉnh cho hệ thống báo chí nước ta với 4 loại hỡnh: bỏo viết, bỏo núi, bỏo
hỡnh, bỏo điện tử. Đến nay, hệ thống báo điện tử trên mạng Internet đó cú
gần 100 tờ , trong đó, có những tờ có số lượt truy cập rất lớn, như
Vietnamnet, Vnexpress, Dân trí, Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động... Hai tờ
Vietnamnet và VnExpress lọt vào top 400 trang điện tử có số lượng truy cập
lớn nhất jtreen thế giới (theo xếp hạng của Tập đoàn Amazon, Mỹ, năm
2006).
Về tư duy: Trước đổi mới, báo chí được coi là công cụ truyên truyền
của Đảng, Nhà nước. Quan niệm đó đúng, nhưng chưa đủ. Thực tiễn đổi mới
đất nước đó giỳp những người làm báo khắc phục tư duy xơ cứng, một chiều
về báo chí. Điều 1, Chương 1 Luật Báo chí, đó thể hiện rừ quan điểm đổi mới
về chức năng, nhiệm vụ của báo chí: “Báo chí nước CHXHCN Việt Nam là
phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xó hội; là diễn đàn
của nhân dân”. Ý nghĩa quan trọng của tinh thần đổi mới này là ở chỗ, đó làm
cho nội dung thông tin của báo chí phong phú, đa dạng; bám sát hơn thực tiễn
đời sống chính trị, kinh tế, xó hội của đất nước...
Về mụ hỡnh: Thực tiễn là cơ sở nền tảng của đổi mới lý luận. Quỏ
trỡnh vận động, phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường (KTTT) định
hướng XHCN thúc đẩy những người làm báo tỡm kiếm mụ hỡnh hoạt động
báo chí phù hợp. Căn cứ thực tiễn báo chí trong nước và tiếp thu kinh nghiệm
25