SKKN kinh nghiệm vận dụng phương pháp trò chơi học tập trong môn khoa học lớp 4, 5 trường tiểu học thị trấn b - Pdf 34

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tên đề tài: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp trò chơi học tập trong
môn Khoa học lớp 4, 5 trường Tiểu học Thị Trấn B.
Tác giả: Phạm Kim Thanh – Trần Thị Cẩm Thi
Đơn vị: Trường Tiểu học Thị Trấn B.
1. Lý do chọn đề tài:
Phương pháp Trò chơi học tập là một trong những phương pháp dạy học có
hiệu quả nhằm khuyến khích sự tò mò khoa học, thói quen đặt câu hỏi, tìm câu
giải thích khi các em được tiếp cận với thực tế, qua đó các em dễ dàng ghi nhớ
nội dung bài học. Nó làm thay đổi không khí lớp học, vui vẻ hơn, thân ái, thông
cảm. Quá trình học tập còn trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn. Học sinh
thấy nhanh nhẹn cởi mở hơn, tiếp thu bài tự giác, tích cực hơn và kiến thức được
hệ thống và củng cố một cách chắc chắn hơn. Với những lợi ích mà phương
pháp trò chơi mang lại, chúng tôi mạnh dạn chọn “Kinh nghiệm vận dụng
phương pháp trò chơi học tập trong môn khoa học lớp 4,5” để nghiên cứu.
2. Đối tượng nghiên cứu.
+ Phương pháp trò chơi học tập môn Khoa học lớp 5.
+ Giáo viên và học sinh lớp 5.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu là: nghiên cứu tài liệu, điều tra, đàm thoại,
quan sát, tổng kết rút kinh nghiệm.
4. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Đề tài đề cập đến sự chuẩn bị, các bước tiến hành, hình thức tổ chức cho
một trò chơi học tập.
- Chỉ ra được từng bài cụ thể để vận dụng phương pháp trò chơi học tập
trong tiết học.
- Chỉ ra được mục tiêu của từng trò chơi đó để vận dụng cho phù hợp


5. Hiệu quả đề tài:

tranh ảnh đẹp, giàu màu sắc, các em được lôi kéo vào xem một cách hồn nhiên.
Nhưng yêu cầu quan sát tập trung đưa ra một vấn đề trọng tâm nhằm đạt mục
tiêu bài học thì các em rất dễ nản. Nếu tiết Khoa học mà không có thí nghiệm thì
cũng lặp lại các lệnh: quan sát, đàm thoại, mô tả… thì dễ làm các em mệt mỏi.
Điều đó đòi hỏi giáo viên cần có sự thay đổi linh hoạt các hình thức tổ chức dạy
học.
Bên cạnh hoạt động chủ đạo là học thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè
vẫn tồn tại, cần được thỏa mãn. Nếu giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa
nhiệm vụ của hoạt động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của các em
“học mà chơi, chơi mà học” thì học sinh sẽ hăng hái say mê học tập và tất yếu
kết quả của việc dạy học sẽ đạt tốt hơn. Đây cũng là đặc thù của phương pháp
dạy học đặc biệt: Phương pháp trò chơi. Dạy học bằng phương pháp trò chơi là
đưa học sinh đến với các hoạt động vui chơi nhưng có nội dung gắn liền với bài
3


học. Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống
mệt mỏi, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng
thú, tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh.
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “ Kinh nghiệm vận dụng
phương pháp trò chơi học tập trong môn Khoa học lớp 4, 5 trường Tiểu học Thị
Trấn B” để nghiên cứu, với hi vọng giúp các em yêu thích môn Khoa học, học

tốt môn Khoa học, góp phần nâng cao chất lượng môn Khoa học lớp 4, 5.
2. Mục đích nghiên cứu:
Chúng tôi muốn giúp các em học sinh tiếp thu kiến thức khoa học lớp 4, 5
một cách chắc chắn, tiết học khoa học sinh động nhằm nâng cao chất lượng học
tập môn Khoa học của học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Kinh nghiệm vận dụng phương pháp trò chơi học tập trong môn Khoa học

giúp học sinh tự khám phá, hình thành, hệ thống kiến thức mà nó còn tạo cho
các em có sự thi đua, tính nhanh nhẹn, cởi mở, vui vẻ khi đến trường tạo điều
kiện cho sự phát triển toàn diện ở học sinh Tiểu học. Đa số học sinh rất muốn
được tham gia Trò chơi học tập vì nó làm thay đổi không khí lớp học, tập thể có
được bầu không khí vui vẻ, thân ái, thông cảm. Quá trình học tập còn trở thành
một hình thức vui chơi hấp dẫn. Học sinh trở nên nhanh nhẹn, cởi mở hơn. Học
sinh tiếp thu bài tự giác, tích cực hơn và học sinh được hệ thống và củng cố kiến
thức một cách chắc chắn hơn.

5


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Vui chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa
tuổi, đặc biệt ở lứa tuổi tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa
tuổi này. Bởi vậy phương pháp Trò chơi học tập được đánh giá cao trong giảng
dạy. Thông qua trò chơi, học sinh được tập luyện, làm việc cá nhân, làm việc tập
thể theo sự phân công với tinh thần hợp tác. Phương pháp tổ chức trò chơi
không chỉ là sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trò mà nó còn
tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy,
tưởng tượng của học sinh.
1.1. Các văn bản chỉ đạo:
- Thực hiện thông tư số 14/2001/CT.TTg ngày 01 tháng 6 năm 2001 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành V/v đổi mới nội dung chương trình giáo dục
phổ thông. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai đại trà chương trình
sách giáo khoa Tiểu học mới trên phạm vi toàn quốc từ năm học 2002 – 2003.
- Quyết định số 16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 ban
hành chương trình giáo dục phổ thông – cấp Tiểu học, trong đó có chuẩn kiến
thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học.

giáo viên và học sinh đều quan sát trên đồ dùng, ngoài ra cần dùng hỗ trợ thêm
các phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp vấn đáp gợi mở, phương
pháp thảo luận nhóm, phương pháp giảng giải minh họa.
Thực tế, qua nhiều năm giảng dạy và dự giờ hội giảng cấp trường, cấp
huyện chúng tôi nhận thấy:
+ Học sinh chưa chủ động, chưa sáng tạo và nhạy bén trong các hoạt động
học tập, các em chưa thực sự tự giác tham gia các hoạt động. Đa phần học sinh
còn chờ đợi sự phân công của giáo viên rồi tham gia hoạt động một cách gượng
ép nên không phát huy hết năng lực sáng tạo của bản thân dẫn đến kết quả học
tập chưa cao.
7


+ Ngoài ra, số học sinh muốn được tham gia, hiểu mục đích và thu được
kết quả sau trò chơi học tập chưa cao. Và vẫn còn học sinh muốn được tham gia,
nhưng chỉ tham gia với mục đích vui chơi là chính mà chưa hiểu, chưa thu được kết
quả sau trò chơi học tập và cũng có học sinh chưa muốn tham gia trò chơi.
Sở dĩ các em chưa muốn tham gia hoặc tham gia mà chưa thu được kết quả
là do một số nguyên nhân sau:
- Các em chưa hiểu mục tiêu của trò chơi: chơi để làm gì? chơi nhằm mục
đích gì?
- Các em chưa hiểu rõ cách chơi, luật chơi, sự thi đua “thưởng-phạt”, giữa
các đội chơi.
- Trò chơi giáo viên đưa ra chưa thú vị, chưa đủ hấp dẫn để lôi cuốn học sinh.
- Trò chơi quá khó, các em không thể tham gia.
- Giáo viên không chủ động về thời gian, về các tình huống xảy ra dẫn đến
tình trạng trò chơi bỏ dở hoặc kết thúc trò chơi mà không thu hoạch được gì.
Sau đây là bảng thống kê kết quả học Khoa học của học sinh sau 4 tuần đầu
năm học 2014 - 2015:


đạt

Ghi chú

đạt
8


5A

34

5B

34

4A

31

4B

29

5

29

12



20,5%

79,5%

23,5

76,5%

35,3%

64,7%

6

25

%
9

22

12

19

19,3%

80,7%



55,2%

%
Từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng học tập đòi hỏi
phải có sự nỗ lực phấn đấu của cả thầy và trò. Do đó, trong quá trình giảng dạy
chúng tôi luôn cố gắng suy nghĩ và rút ra cho mình kinh nghiệm và vận dụng
phương pháp trò chơi vào dạy học sao cho chất lượng học tập đạt một cách cao
nhất.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Không phải quá trình dạy học nào cũng đưa đến cho ta một kết quả toại
nguyện. Vì trong thực tế người dạy gặp không ít khó khăn bởi khả năng tiếp thu
và điều kiện học tập của mỗi học sinh đều khác nhau. Cũng như khả năng khác
nhau của mỗi người thầy. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là một việc làm
hết sức quan trọng; nhằm giúp giáo viên đúc kết những kinh nghiệm để có
những biện pháp và cách dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh và tình hình
thực tế.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Vấn đề đặt ra:
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh nhưng có
ba nguyên nhân chính sau đây tác động trực tiếp đến học sinh:
9


a. Về phía giáo viên:
Giáo viên khi sử dụng phương pháp trò chơi học tập lại chưa biết lựa chọn nội
dung bài dạy để vận dụng phương pháp trò chơi học tập cho hợp lý, hoặc trò chơi
đưa ra không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu bài học nên việc tổ chức trò
chơi học tập chơi chưa đạt hiệu quả cao. Thiết kế trò chơi chưa phong phú và cách
tổ chức chưa hay. Điều đó cũng là trăn trở của chúng tôi khi dạy học sinh môn

được củng cố và hệ thống hóa kiến thức. Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính
là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của con người
mới: Con người xã hội chủ nghĩa.
Tổ chức trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học, chơi là một biện pháp
học tập có hiệu quả của học sinh . Thông qua trò chơi, học sinh được tập luyện,
làm việc cá nhân, làm việc theo đơn vị tập thể theo sự phân công với tinh thần
hợp tác. Đó là phương pháp học tập mới mà trường Tiểu học cần hình thành ở
người học.
Giải pháp 2: Giáo viên cần lựa chọn nội dung bài dạy phù hợp với nội
dung trò chơi.
Không phải tiết Khoa học nào cũng cần sử dụng đến phương pháp Trò
chơi học tập. Nếu như vậy thì giáo viên đã quá lạm dụng phương pháp này. Vì
thế, với mỗi tiết dạy, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của bài học, lựa chọn
phương pháp dạy học cho phù hợp với nội dung từng phần, áp dụng linh hoạt
các phương pháp dạy học trong tiết dạy sao cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, học
sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn. Tuỳ từng bài mà giáo viên sử dụng
phương pháp Trò chơi học tập cho thích hợp. Trò chơi học tập phải đạt các yêu
cầu: Trò chơi phải thú vị để học sinh thích được tham gia; trò chơi phải thu hút
được đa số học sinh tham gia; trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện; trò chơi
không tốn nhiều thời gian, sức lực để không ảnh hưởng đến các hoạt động tiếp
theo của tiết học và quan trọng hơn, trò chơi phải có mục đích học tập, không
đơn thuần là trò giải trí.

11


Khi đã lựa chọn được phương pháp dạy học cho mỗi hoạt động, giáo viên
cần xác định rõ mục tiêu để xây dựng hình thức tổ chức cho hoạt động đó.
Giải pháp 3: Giúp học sinh xác định rõ mục đích của trò chơi.
Trước khi tổ chức cho học sinh tham gia chơi, giáo viên cần giúp học sinh


phù hợp cho sức khỏe

thức ăn?
Bài 8: Tại sao cần ăn Ai nhanh, ai đúng? Lập danh sách tên các món ăn
phối hợp đạm động

chứa nhiều chất đạm

vật và đạm thực vật?
Bài 15: Bạn cảm thấy Đóng vai

Biết nói với người lớn khi trong

thế nào khi bị bệnh?

người cảm thấy khó chịu, không
bình thường

Bài 31: Không khí có Thi thổi bong bong Phát hiện không khí không có
những tính chất gì?
Bài 37: Tại sao có

hình dạng nhất định
Chơi chong chóng Chứng minh không khí chuyển
12


gió?



Tên trò chơi

Mục đích của trò chơi

Bài 1: Con người cần Cuộc hành trình Củng cố về những điều kiện để
gì để sống?

đến hành tinh khác

duy trì sự sống của con người

Bài 12: Phòng một số Trò chơi Bác sĩ

Củng cố cách phòng một số bệnh

bệnh do thiếu chất

do thiếu chất dinh dưỡng

dinh dưỡng.
Bài 18, 19: Ôn tập: Ai chọn thức ăn Khả năng áp dụng kiến thức vào
Con người và sức hợp lí?

việc lựa chọn thức ăn hàng ngày

khỏe
Bài 22: Mây được Tôi là giọt nước

Củng cố kiến thức về sự hình


Ai nhanh, ai đúng? Củng cố các mối quan hệ vô sinh và
hữu sinh, vai trò của cây xanh đối với
sự sống trên trái đất

3.2. Trò chơi Khoa học lớp 5:
a) Trò chơi để hình thành kiến thức mới.
Tên bài

Tên trò chơi

Bài 1: Sự sinh sản

Bé là con ai?

Mục đích trò chơi
HS nhận ra, mỗi trẻ em đều có
những đặc điểm giống bố, mẹ
mình.

Bài 2,3: Nam hay nữ?

Ai nhanh, ai đúng? HS biết phân biệt đặc điểm về
mặt sinh học và xã hội của nam
và nữ.

Bài 6: Từ lúc mới sinh Ai nhanh, ai đúng? HS hiểu 1 số đặc điểm chung của
đến tuổi dậy thì

trẻ ở từng giai đoạn từ 3 đến 10


HS biết các phương pháp tách
các chất ra khỏi hỗn hợp.

Bài 37: Dung dịch

Đố bạn

HS biết phương pháp sản xuất
muối từ nước biển, sản xuất nước
cất tiêm .

Bài 39:Sự biến đổi hóa Bức thư bí mật

HS biết vai trò của nhiệt trong

học

biến đổi hoá học.
b/ Trò chơi để củng cố hoá kiến thức
Tên bài

Tên trò chơi

Mục đích của trò chơi

Bài 7: Từ tuổi vị thành Ai, đang ở giai Củng cố hiểu biết về lứa tuổi vị
niên đến tuổi già

đoạn nào?

hại.

Bài 20,21: Ôn tập con Ai nhanh, ai đúng? Củng cố cách phòng tránh 1 số
người và sức khỏe
Bài 34: Ôn tập học
kì I

bệnh thường gặp đã học.
Ô chữ kì diệu

Củng cố kiến thức về chủ đề:Con
người và sức khoẻ.

Bài 49,50: Ôn tập: vật Ai nhanh, ai đúng? Củng cố về tính chất 1 số vật liệu
15


chất và năng lượng

và sự biến đổi hoá học.

Bài 52: Sự sinh sản Ghép chữ

Củng cố về sự sinh sản ở thực vật có

của thực vật có hoa

hoa.

Tiết 63: Tài nguyên Ai nhanh, ai đúng? Hệ thống 1 số nguồn tài nguyên

Giáo viên có thể tổ chức một hoạt động học tập thành một trò chơi học
tập khi đã có đủ các điều kiện sau:
- Về đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho trò chơi.
- Về thời gian, thời điểm chơi, không gian chơi.
- Có cách chơi, luật chơi rõ ràng.
- Có cách tính điểm để phân định “thắng- thua”, khen thưởng…
Các yếu tố đó là sự chuẩn bị cụ thể chu đáo của giáo viên, góp phần quyết
định sự thành công hay không của trò chơi.
4.1. Sự chuẩn bị đồ dùng học tập cho học sinh tham gia trò chơi.
16


Đối với mỗi tiết học nói chung hay với mỗi “Trò chơi học tập” nói
riêng, giáo viên cần xác định rõ: Để phục vụ cho trò chơi này cần đến những đồ
dùng nào? dụng cụ nào? phương tiện nào? Từ đó, giáo viên dành thời gian để
chuẩn bị.
*Ví dụ những đồ dùng học tập trong trò chơi khoa học lớp 4
+Trò chơi: " Ai nhanh – ai đúng": Bài 2: Trao đổi chất ở người
GV chuẩn bị 2 bộ thẻ từ (12 tấm thẻ bìa) như dưới đây. Mỗi đội sẽ nhận 6
tấm thẻ.
Khí ô-xi

Khí các-bô-níc

Thức ăn

Nước uống

Nước tiểu, mồ hôi



- 2 bảng từ có nội dung giống nhau:
Các hành vi có nguy cơ lây
nhiễm HIV

Các hành vi không có nguy cơ
lây nhiễm HIV

+ Ví dụ: Trò chơi “ Bức thư bí mật”, Bài 38, 39: Sự biến đổi hóa học.
Thực hiện theo nhóm học sinh (4 đến 6 HS)
Mỗi nhóm cần chuẩn bị: Một ít giấm (nước chanh), một que tâm, một
mảnh giấy, diêm, nến.
+ Ví dụ: Trò chơi: “Nhà khoa học trẻ”, Bài 36: Hỗn hợp, Khoa học 5
Cần chuẩn bị:
Học sinh: mỗi nhóm chuẩn bị : một bảng con, phấn viết.
Giáo viên: Một cái chuông nhỏ hoặc cái còi.
- Sự chuẩn bị chu đáo, hấp dẫn sẽ tạo niềm hứng khởi, thu hút học sinh
tham gia. Sự rõ ràng, khoa học sẽ giúp các em dễ tìm hiểu, dễ nhận biết kiến
thức, nhiệm vụ của bản thân trong quá trình tham gia chơi. Sự chuẩn bị cho một
trò chơi không nhất thiết phải quá cầu kì, đôi khi còn dễ tìm, dễ kiếm .
Ví dụ: Để chuẩn bị “Chiếc ghế nguy hiểm” cho trò chơi bài: Thực hành
nói “không” đối với các chất gây nghiện - trang 20, (Khoa học 5) giáo viên chỉ
cần lấy luôn chiếc ghế của mình, phủ lên ghế một tấm vải tối màu để học sinh không
phát hiện được bên trong ghế là cái gì? Sự chuẩn bị này tuy đơn giản nhưng vẫn tạo
được sự tò mò, tâm trạng hồi hộp của học sinh khi đến gần chiếc ghế, chiếc ghế ấy
sẽ thu hút học sinh tham gia vào trò chơi.
Với sự chuẩn bị như vậy, giáo viên sẽ khuyến khích các em tham gia vào
trò chơi. Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng dạy học, giáo viên cần biết bố trí thời gian
18



động khác, chỉ cần từ 5 - 7 phút, đủ để học sinh đọc nhanh nội dung ghi trên các
tấm bìa rồi gắn vào: Sơ đồ nhị và nhụy của hoa.
- Việc chuẩn bị chu đáo sẽ giúp cho giáo viên tự tin, chủ động trong tiết
dạy. Bởi vậy ngoài việc chuẩn bị về đồ dùng dụng cụ, xác định thời gian, thời
điểm cho hợp lý giáo viên cần xác định địa điểm, số lượng học sinh tham gia
chơi cho mỗi trò chơi để phù hợp cả về không gian, thời gian, phù hợp với cả 3
đối tượng học sinh.
4.3. Địa diểm và đối tượng học sinh tham gia trò chơi.
Phần lớn các trò chơi được diễn ra trong lớp học. Tuy vậy, với mỗi trò
chơi cũng cần có khoảng không gian chơi cho phù hợp
Ví dụ:
- Những trò chơi để hình thành kiến thức mới, thường tất cả các học sinh
được tham gia chơi, do vậy các em có thể ngồi ngay trong bàn học theo từng đội
chơi, như trò chơi: Ai nhanh, ai đúng? (Tiết 16 – Khoa học 5), Hay trò chơi:
Chiếc ghế nguy hiểm (Tiết 20 – Khoa học 5), mặc dù đây là trò chơi để củng cố
nội dung nhưng tất cả học sinh cần được tham gia, các em cần xếp thành hàng
dọc để lần lượt đi qua chiếc ghế nguy hiểm. Bởi vậy, nếu trời không mưa, các
em sẽ xếp hàng ngoài sân rồi lần lượt đi qua chiếc ghế vào lớp. Nếu trời mưa,
giáo viên cần sắp xếp bàn ghế gọn gàng để học sinh xếp hàng trong lớp.
Những việc chuẩn bị này, dù là rất nhỏ nhưng giáo viên cũng cần để ý tới
để chủ động trong mọi tình huống.
Khi sự chuẩn bị đã chu đáo, giáo viên sẽ tổ chức trò chơi học tập cho các
em tham gia sao cho học sinh hào hứng làm việc và thu được kết quả tốt, đó là
điều hết sức quan trọng.
Giải pháp 5. Tiến hành tổ chức Trò chơi học tập.
Với mỗi trò chơi giáo viên cần tiến hành qua 3 bước sau:
Bước 1: Giáo viên nêu mục đích và hướng dẫn cách chơi, luật chơi.
20



- Em học tập được gì qua trò chơi?
Ví dụ: Trò chơi “Đóng vai”, Bài 15: Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh Khoa học lớp 4.
Bước 1: GV hướng dẫn luật chơi và cách chơi
- Mỗi nhóm sẽ đưa ra tình huống để tập ứng xử khi bản thân bị bệnh.
Bước 2: Học sinh làm việc theo nhóm:
- Các nhóm thảo luận đưa ra tình huống.
- Nhóm trưởng điều khiển các bạn phân vai theo tình huống nhóm đã đề ra.
- Các vai hội ý lời thoại và diễn xuất. Các bạn khác góp ý kiến.
Bước 3: Trình diễn, đánh giá
- Các nhóm lên đóng vai, các học sinh khác theo dõi và đặt mình vào nhân
vật trong tình huống nhóm bạn đưa ra và cùng thảo luận để đi đến lựa chón cách
ứng xử đúng.
- Nhóm nào thể hiện được sự hiểu biết tốt nhất là thắng.
Ví dụ: Trò chơi: Ai nhanh, ai đúng? Bài 14: Phòng bệnh viêm não Khoa học lớp 5
Bước 1: Giáo viên giới thiệu:
- Viêm não là một loại bệnh hết sức nguy hiểm. Nguyên nhân gây bệnh là
gì? lứa tuổi nào hay mắc bệnh? Bệnh nguy hiểm như thế nào? Các em sẽ khám
phá qua trò chơi: “Ai nhanh, ai đúng?”.
- Mỗi tổ thành một đội chơi, các em sẽ cử đội trưởng cho đội mình.
- Các em sẽ đọc thông tin trong sách giáo khoa trang 20, bàn bạc trong đội
để chọn câu trả lời tương ứng với từng câu hỏi. Sau khi cả đội thống nhất, đội
trưởng sẽ ghi đáp án theo thứ tự câu hỏi vào bảng phụ.
- Sau 7 phút đội nào có đáp án gắn lên bảng lớp nhanh nhất và đúng nhất là
thắng cuộc, đội thắng cuộc sẽ được nhận một phần thưởng xứng đáng.
22


Bước 2:
Học sinh hoạt động theo các yêu cầu trên.

- Trọng tài nhận xét, phân định “thắng - thua”, tuyên dương đội thắng cuộc.
+ Em học được gì qua trò chơi?
Học sinh có thể học tập được về: nội dung, kiến thức của bài học; về sự cẩn
thận khi làm việc; về sự nhanh nhẹn, khéo léo khi hoạt động .
Với sự chuẩn bị chu đáo, từ khâu soạn bài, chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ đến
khâu tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi và bước thu hoạch ở phần đánh giá,
nhận xét rồi đi đến nội dung bài học cần rút ra, tôi thấy kết quả việc dạy và học
ở lớp chúng tôi dạy đã có sự thay đổi.
3.2.2. Về phía học sinh:
Mục tiêu cần đạt được đó là tạo cho người học sự sôi nổi, hứng thú, thoải
mái nhằm đi đến cái đích người học tiếp cận tri thức một cách nhanh nhất, dễ
hiểu nhất, dễ nhớ nhất và dễ vận dụng nhất, không lạm dụng về thời gian, không
gây ảnh hưởng chi phối đến những vấn đề khác. Mặt khác, là động cơ thúc đẩy
người học đam mê, ham tìm tòi khám phá tri thức một cách tự giác, chủ động.
Ngay từ đầu năm học, chúng tôi làm công tác điều tra cơ bản là lấy thông
tin từng hoàn cảnh gia đình học sinh, biết điều kiện sống từng em, tìm hiểu tính
cách, cá tính, trình độ năng lực, khả năng hiểu biết của các em. Sau đó phân loại
để có các cách khác nhau giúp đỡ các em. Chúng tôi dạy tốt tất cả các môn học
được phân công phụ trách, hướng dẫn kĩ cách các em học ở nhà, cách chuẩn bị
đồ dùng học tập để mang đến lớp. Chúng tôi đặc biệt chú ý tới hai đối tượng học
sinh là nhóm đối tượng có cá tính mạnh và nhóm đối tượng tính cách e dè, nhút
nhát, ngại hoạt động để có hướng giúp đỡ cụ thể, chúng tôi luôn gần gũi trò
chuyện, quan tâm, động viên khuyến khích các em mạnh dạn thể hiện mình khi
tham gia các trò chơi, nhẹ nhàng hướng dẫn, giúp đỡ khi các em gặp khó khăn
trong các tình huống.
24


Hoạt động trò chơi mang tính thi đua, vì vậy giáo viên khuyến khích các
em có điều kiện tìm hiểu kiến thức trước ở nhà, mọi lúc mọi nơi, trong nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status