SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẢN HỒI NGƯỜI MẸ TRONG
GIỜ HỌC VẦN CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH LỚP 1A
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một trong những mục đích học tập của trẻ khiếm thính khi đến trường là
học tiếng Việt. Môn Tiếng Việt giúp cho học sinh khiếm thính dần hình thành
các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vốn rất hạn chế trước khi trẻ tới trường. Khi mới
vào lớp 1 trẻ khiếm thính rất hạn chế về vốn từ; thiếu kỹ năng dùng ngôn ngữ do
ít được lặp đi lặp lại, do giới hạn của trí nhớ, trẻ không được can thiệp sớm,
thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ. Vì thế trẻ phải đồng thời ghi nhớ từ nói, từ viết,
ý nghĩa của từ cũng như cách dùng từ, câu nên thời gian học tiếng Việt của trẻ
khiếm thính chậm hơn và khó khăn hơn so với trẻ bình thường.
Học vần là một phân môn rất quan trọng trong chương trình học của lớp
1. Muốn đọc được chữ đòi hỏi các em phải biết nhận diện vần, biết cách ráp vần,
dấu thanh để tạo tiếng, từ. Hạn chế về thính lực đã gây cho trẻ khiếm thính rất
nhều khó khăn trong việc nhận diện âm thanh, lời nói, cách phát âm vần, tiếng,
từ, câu. Hiện nay, tại Trung tâm Nuôi Dạy Trẻ Khuyết tật Đồng Nai thực hiện
chương trình lớp 1 trong 2 năm; năm học thứ nhất các em sẽ được học phần vần
gồm có 3 dạng cơ bản: làm quen với âm và chữ, dạy - học âm vần mới, ôn tập
âm và vần; nửa học kì 1 của năm học thứ hai các em sẽ học phần vần tiếp theo
của sách tập 2.
Phương pháp phản hồi người mẹ được giáo viên sử dụng phổ biến ở các
trường dạy trẻ khiếm thính nhưng chủ yếu trong giờ học hội thoại, chưa được sử
dụng nhiều trong quá trình dạy các môn học khác. Vận dụng phương pháp phản
hồi người mẹ trong dạy học giúp trẻ nhận thức được giá trị của công cụ ngôn
ngữ; tăng cường nhu cầu giao tiếp của trẻ; phát triển kỹ năng chú ý lắng nghe
triển ngay từ nhỏ, tiếng nói của trẻ khó nghe và không có thanh điệu.
+ Trẻ điếc sâu (mất từ trên 90 dB): Tiếp thu tiếng nói chủ yếu bằng cách nhìn
hình miệng, không dùng thính giác; mất khả năng giao tiếp bằng tiếng nói nên
tiếng nói và ngôn ngữ không thể tự phát triển được.
1.3 Học âm – vần đối với học sinh khiếm thính
- Làm quen với âm và chữ: yêu cầu cơ bản là học sinh đọc được âm, thanh và
viết được chữ ghi âm, dấu ghi thanh của bài kế trước; học sinh làm quen với nề
nếp học tập, mạnh dạn tự tin trong môi trường học tập mới.
- Dạy - học âm, vần: yêu cầu cơ bản là học sinh đọc được âm, vần và viết được
chữ ghi âm, vần; đọc và viết được tiếng, từ ứng dụng; đọc được câu ứng dụng.
- Ở phần trọng tâm của bài làm quen với âm và chữ, học sinh thực hiện đạt được
mục tiêu cơ bản. Tuy nhiên ở dạng bài dạy âm - vần, trẻ khiếm thính gặp rất
nhiều khó khăn trong quá trình phát âm, thể hiện rõ ràng nhất khi trẻ đánh vần.
Vì thế, giáo viên chỉ cần cung cấp cho học sinh nắm được cấu tạo của vần và
đọc được vần bằng hình miệng, đọc trơn tiếng có vần mới nên bỏ qua giai đoạn
đánh vần.
1.4 Phương pháp phản hồi người mẹ
Phương pháp phản hồi người mẹ do linh mục Van Uden ở Viện dạy trẻ điếc
Sint.Michielsgesrel – Hà Lan nghiên cứu và phổ biến năm 1970.
Tên gọi “Người mẹ”: đây là cách mà một người mẹ giúp đứa con nghe được
bình thường của bà nghe và nói được tiếng mẹ đẻ cách suôn sẻ.
“Phản hồi”: ngay sau khi trẻ nói được một cách tương đối trôi chảy, đứa trẻ
được khuyến khích nhìn lại, nghĩ lại cấu trúc ngôn ngữ mà trẻ đang dùng.
Phương pháp này chú trọng đến sự nhấn nhá và lặp lại trong một thời gian
dài, đây là sự bù trừ thích hợp cho những khó khăn mà trẻ điếc sâu phải gánh
chịu. Thêm vào đó, phương pháp này sử dụng hội thoại như một nền tảng của sự
phát triển giao tiếp. Vận dụng phương pháp phản hồi người mẹ trong dạy học
người giáo viên đóng vai trò quan trọng như vai trò của người mẹ trong sự hồi
đáp, dẫn dắt cuộc trò chuyện tự nhiên với trẻ con. Phương pháp phản hồi người
2
học đặc thù của việc dạy tiếng: phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp
giao tiếp, phương pháp luyện tập theo mẫu.
+ Kết hợp với các phương pháp dạy trẻ khiếm thính: phương pháp bắt chước,
phương pháp phương pháp phản hồi người mẹ, phương pháp dạy phát âm,
phương pháp luyện nghe, giao tiếp bằng chữ cái ngón tay và thủ ngữ điệu bộ.
- Sắp xếp chỗ ngồi hợp lí: Sắp xếp học sinh ngồi học theo hình vòng cung để
học sinh quan sát được lẫn nhau, khoảng cách giữa giáo viên với học sinh từ 1m
đến 1,5m. Học sinh có khả năng tập trung chú ý kém nên cho ngồi ở đáy vòng
cung trực diện với giáo viên sẽ dễ quan sát giáo viên nói cũng như các bạn trong
lớp nói.
- Đeo máy và kiểm tra máy trợ thính cho học sinh: Cách kiểm tra máy dễ nhất là
đặt núm tai gần micro khi máy đã mở, nếu có tiếng rít thì có nghĩa là máy đang
hoạt động. Sau đó giáo viên đeo máy cho học sinh, kiểm tra xem trẻ có phản ứng
với âm thanh hay không khi đeo máy, bằng cách thức là yêu cầu học sinh giơ tay
khi nghe giáo viên đứng phía sau vỗ tay hoặc nói /ba/.
3
Tiến hành vận dụng phương pháp phản hồi người mẹ trong giờ học vần
Các kỹ năng cần rèn cho học sinh trong phân môn Học vần là đọc âm/vần
mới, đọc tiếng/từ ngữ mới, đọc từ ngữ ứng dụng và bài đọc ứng dụng; tập viết
chữ ghi âm, vần, tiếng mới; luyện nghe – nói theo chủ đề. Mặt khác học sinh
khiếm thính lớp1 cần được hình thành và rèn luyện một số kỹ năng cần thiết như
kỹ năng lắng nghe người khác nói, nói xong chờ phản ứng của người khác; nói
ra ý nghĩ của mình; nhìn và nghe người khác nói; nhận xét người khác nói đúng
hay sai; lặp lại lời người khác nói; nói câu có ngữ điệu, tiết điệu; sử dụng từ ngữ
đúng ngữ cảnh. Do đó giáo viên cần vận dụng phương pháp phản hồi người mẹ
một cách linh hoạt kết hợp với các phương pháp dạy học vần để có được giờ học
sinh động và đạt được những mục tiêu của phân môn Học vần. Phương pháp
phản hồi người mẹ được thực hiện theo bảy bước cụ thể:
âm tiết và những đơn vị nhỏ hơn. Ở hoạt động này giáo viên vận dụng phương
pháp phản hồi người mẹ khi giới thiệu tiếng, từ khóa để phân tích âm/vần. Giáo
4
viên chỉ cần thực hiện các bước này trong thời gian ngắn cũng đủ giúp học sinh
hiểu và cung cấp từ mới cho các em.
Ví dụ:
Bài 10: ô, ơ (Tiếng Việt 1/ trang 22)
Giới thiệu tiếng khóa cô.
Giáo viên thực hiện các bước để giới thiệu bài:
+ Giáo viên cho học sinh quan sát tranh cô giáo, giáo viên chờ đợi học sinh thể
hiện ý tưởng. Đa số học sinh mới đi học đều chỉ biết chỉ cô giáo đang đứng lớp
hoặc diễn tả bằng kí hiệu mà các em không biết tiếng “cô” được nói như thế nào.
+ Từ những cử chỉ tự nhiên đó giáo viên nắm bắt và làm rõ ý tưởng cho cả lớp
cùng hiểu người trong bức tranh đó chính là cô giáo dạy học sinh học.
+ Sau khi học sinh hiểu thì giáo viên cung cấp và nói mẫu tiếng “cô” 2 lần rõ
hình miệng và chậm rãi.
+ Học sinh đầu tiên đưa ra ý tưởng sẽ được lặp lại đầu tiên.
+ Từng học sinh một lần lượt cho đến hết lớp hay một số em nhất định nào đó
lặp lại tiếng cô đúng hình miệng và rõ tiếng. Khi một học sinh nói yêu cầu các
em khác phải chú ý quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng hay sai tiếng
cô.
+ Tiếp theo giáo viên viết bảng cùng học sinh bằng câu hỏi “Cô viết gì đây?”
Học sinh sẽ nói tiếng cô và giáo viên viết bảng tiếng cô.
+ Kiểm tra nghĩa của tiếng cô, giáo viên có thể hỏi học sinh từ vừa viết trên
bảng nói về ai.
Sau đó giáo viên sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, cùng học sinh
phân tích cô – ô cho các em nhận diện âm mới.
- Giới thiệu tiếng, từ ứng dụng:
+ Kiểm tra nghĩa của từ cà chua, giáo viên có thể hỏi “Quả gì?” để học sinh trả
lời.
Thực hiện tương tự với từ tre nứa.
Sau bước giới thiệu, giáo viên cho học sinh luyện đọc từ khóa và tìm âm,
vần đang học có trong các tiếng, từ đó.
- Luyện đọc câu ứng dụng:
Nếu chỉ đơn thuần giáo viên cho học sinh phân tích tranh rồi luyện đọc câu
ứng dụng thì với học sinh bình thường có thể đánh vần và đọc tốt được câu ứng
dụng. Nhưng học sinh khiếm thính vốn từ vựng nghèo nàn và không thể đánh
vần mà chỉ đọc trơn nên các em gặp nhiều khó khăn khi đọc câu ứng dụng. Để
học sinh khiếm thính đọc và nhớ được trọn vẹn câu, cần thực hiện theo các bước
để cung cấp câu.
Vận dụng phương pháp phản hồi để cung cấp câu ứng dụng đơn giản:
Ví dụ:
Bài 9: o, c (Tiếng Việt 1/ trang 20)
Câu ứng dụng bò bê có bó cỏ.
+ Giáo viên cho học sinh quan sát tranh minh họa câu ứng dụng như trong sách
giáo khoa, giáo viên chờ đợi học sinh đưa ra ý tưởng qua việc lắng nghe âm
thanh, cử chỉ, thái độ của học sinh trong bầu không khí khuyến khích. Trong vốn
từ học sinh đã có tiếng bò, bê, cỏ thì học sinh chỉ có thể nói những tiếng riêng lẻ
đó.
+ Giáo viên nắm bắt và làm rõ cho học sinh biết bức tranh vẽ cảnh một người
đang cho bò và bê ăn bó cỏ.
+ Giáo viên cung cấp từ bó cỏ cho học sinh lặp lại. Sau đó giáo viên cung cấp
câu hoàn chỉnh theo đúng nội dung của câu ứng dụng trong sách bò bê có bó cỏ.
Giáo viên làm mẫu nói 2 lần rõ hình miệng và chậm rãi.
+ Chính học sinh đưa ra ý tưởng trước phải là người đầu tiên diễn tả ý tưởng của
mình thành lời, lặp lại câu bò bê có bó cỏ đúng hình miệng và rõ tiếng.
+ Một số em nhất định nào đó lặp lại câu bò bê có bó cỏ. Khi một học sinh nói
yêu cầu các em khác phải chú ý quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng
cho học sinh câu hoàn chỉnh theo đúng nội dung của câu ứng dụng Cái mỏ tí
hon.
Giáo viên làm mẫu đọc 2 lần rõ hình miệng và chậm rãi.
+ Học sinh đầu tiên đưa ra ý tưởng sẽ được lặp lại đầu tiên.
+ Từng học sinh một lần lượt cho đến hết lớp hay một số em nhất định nào đó
lặp lại câu Cái mỏ tí hon. Khi một học sinh nói yêu cầu các em khác phải chú ý
quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng hay sai câu.
+ Giáo viên viết bảng câu Cái mỏ tí hon chuẩn, rõ, theo qui ước và yêu cầu học
sinh nói từ hoặc cụm từ của câu khi giáo viên viết để giúp học sinh có sự liên kết
giữa lời nói và chữ viết.
+ Kiểm tra nghĩa của câu. Đặt câu hỏi: Cái gì tí hon? Cái mỏ như thế nào? để
học sinh trả lời.
Giáo viên thực hiện lại các bước trên để cung cấp cho học sinh từng câu
cho đến hết đoạn thơ ứng dụng. Sau khi được cung cấp đoạn thơ ứng dụng thì
học sinh sẽ đọc tốt đoạn thơ và hiểu được nội dung.
- Luyện nói:
Giáo viên dựa vào chủ đề gợi ý trong trong tranh tiến hành tổ chức luyện
nói một cách linh hoạt theo trình độ học sinh, nhằm đạt được yêu cầu; phát triển
kỹ năng giao tiếp cho học sinh theo các chủ đề, chú ý đến các từ ngữ có âm, vần
mới học, từ đó mở rộng sử dụng cả những từ ngữ có âm, vần chưa học.
Giáo viên tổ chức hoạt động luyện nói như một giờ học hội thoại, chỉ yêu
cầu học sinh nói được một hoặc hai câu đơn giản theo chủ đề. Trước khi cho học
sinh luyện nói, giáo viên cần chuẩn bị sẵn một số câu dự kiến theo chủ đề để
cung cấp cho học sinh từ những ý tưởng của các em. Ở hoạt động này phương
7
pháp phản hồi được sử dụng là phương pháp chủ đạo, tuy nhiên giáo viên có thể
bỏ qua bước viết bảng để học sinh có nhiều cơ hội phát triển ngôn ngữ nói.
Ví dụ:
học vần trên lớp tôi nhận được một số kết quả khả quan như sau:
- Tiến trình dạy – học của giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
- Đa số học sinh nhận biết những âm, vần được học; phát âm rõ tiếng, đúng hình
miệng. Vốn từ ngữ của học sinh tăng lên đáng kể.
- Học sinh có kỹ năng đọc hình miệng rất tốt, học sinh tích cực chủ động trong
học tập, mạnh dạn phát biểu ý kiến, biết nhận xét bạn nói đúng hay sai.
- Học sinh thích thú, có hứng thú trong học tập khi được tham gia giờ học với đồ
dùng trực quan sinh động.
- Đa số học sinh nhớ kí hiệu chữ cái ngón tay đã học, nhận biết được các chữ cái
đã học.
- Học sinh tự tin hơn trong giao tiếp với giáo viên, với bạn lúc ở trường cũng
như lúc ở nhà.
8
- So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện các giải pháp tôi nhận thấy học lực
môn Tiếng Việt của học sinh tiến bộ nhiều.
+ Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt lớp 1A:
Lớp
1A
Sĩ số/
nữ
12/4
Giỏi
SL
%
3
25.0
%
SL
%
SL
%
SL
%
1A1 12/4
5
41.7 4
33.3
2
16.7
1
13.3
Với kết quả đạt được qua áp dụng kinh nghiệm ở lớp, tôi muốn góp phần
nhỏ vào việc nâng dần chất lượng giảng dạy – học tập trong phân môn học vần
đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập các môn học khác ở
lớp 1A cũng như các lớp tiếp theo ở bậc tiểu học.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Dạy Tiếng Việt cho học sinh khiếm thính là rất quan trọng, do hạn chế về
khả năng nghe nói nên các em gặp khó khăn trong quá trình học tập, nhất là học
ngôn ngữ. Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đã nêu lên kinh nghiệm khi vận dụng
phương pháp phản hồi người mẹ trong giờ học vần để giúp các em tích cực tham
gia học tốt phân môn học vần chương trình Tiếng Việt lớp 1.
Đối với giáo viên dạy trẻ khiếm thính:
- Giáo viên phải luôn tìm tòi, học hỏi những kiến thức thật vững chắc về trẻ
khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật mà mình đang phụ trách giảng dạy nói
riêng.
2. Giáo trình tâm lí trẻ Khiếm thính – GS.TS Nguyễn Quang Uẩn - Đại học
Sư phạm – 2004.
3. Tiếng Việt 1 – Tập 1 – Bộ Giáo dục và Đào tạo – NXB Giáo dục – 2003.
4. Tài liệu Phương pháp phản hồi người mẹ.
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học – Lê Phương Nga, Đặng
Kim Nga – NXB Đại học sư phạm Hà Nội – 2002.
Biên òa, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Đinh Ngọc Vân
10