SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
PHẢN HỒI NGƯỜI MẸ TRONG
GIỜ HỌC VẦN CHO HỌC SINH
KHIẾM THÍNH LỚP 1A
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một trong những mục đích học tập của trẻ khiếm thính khi đến trường
là học tiếng Việt. Môn Tiếng Việt giúp cho học sinh khiếm thính dần hình
thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vốn rất hạn chế trước khi trẻ tới
trường. Khi mới vào lớp 1 trẻ khiếm thính rất hạn chế về vốn từ; thiếu kỹ
năng dùng ngôn ngữ do ít được lặp đi lặp lại, do giới hạn của trí nhớ, trẻ
không được can thiệp sớm, thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ. Vì thế trẻ phải
đồng thời ghi nhớ từ nói, từ viết, ý nghĩa của từ cũng như cách dùng từ, câu
nên thời gian học tiếng Việt của trẻ khiếm thính chậm hơn và khó khăn hơn
so với trẻ bình thường.
Học vần là một phân môn rất quan trọng trong chương trình học của
thuật ngữ trẻ khuyết tật thính giác, hay trẻ khiếm thính, trẻ có khó khăn về
nghe.
1.2 Ảnh hưởng của khuyết tật thính giác đến sự phát triển ngôn ngữ
- Thính giác đóng vai trò cực kì quan trọng trong quá trình hình thành và
phát triển ngôn ngữ ở trẻ em. Đối với trẻ khiếm thính, hậu quả không thể
tránh khỏi là chậm phát triển về ngôn ngữ và đặc biệt là ngôn ngữ nói.
- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theo mức độ điếc:
+ Trẻ điếc nhẹ (mất từ 20 đến 40 dB): Trẻ không nghe hoặc không nghe rõ
nên tiếng nói thường bị mất hoặc nói sai một số phụ âm cao. Tuy nhiên
tiếng nói của trẻ vẫn có thể tự phát triển.
+ Trẻ điếc vừa (mất từ 41 đến 70 dB): Trẻ có thể nói ngọng nhiều và nói
những câu không đúng ngữ pháp.
+ Trẻ điếc nặng (mất từ 71 đến 90 dB): Trẻ bị mất tiếng nói hoặc rất chậm
phát triển ngay từ nhỏ, tiếng nói của trẻ khó nghe và không có thanh điệu.
+ Trẻ điếc sâu (mất từ trên 90 dB): Tiếp thu tiếng nói chủ yếu bằng cách
nhìn hình miệng, không dùng thính giác; mất khả năng giao tiếp bằng tiếng
nói nên tiếng nói và ngôn ngữ không thể tự phát triển được.
1.3 Học âm – vần đối với học sinh khiếm thính
- Làm quen với âm và chữ: yêu cầu cơ bản là học sinh đọc được âm, thanh
và viết được chữ ghi âm, dấu ghi thanh của bài kế trước; học sinh làm quen
với nề nếp học tập, mạnh dạn tự tin trong môi trường học tập mới.
- Dạy - học âm, vần: yêu cầu cơ bản là học sinh đọc được âm, vần và viết
được chữ ghi âm, vần; đọc và viết được tiếng, từ ứng dụng; đọc được câu
ứng dụng.
- Ở phần trọng tâm của bài làm quen với âm và chữ, học sinh thực hiện đạt
được mục tiêu cơ bản. Tuy nhiên ở dạng bài dạy âm - vần, trẻ khiếm thính
gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát âm, thể hiện rõ ràng nhất khi
trẻ đánh vần. Vì thế, giáo viên chỉ cần cung cấp cho học sinh nắm được cấu
tạo của vần và đọc được vần bằng hình miệng, đọc trơn tiếng có vần mới
nên bỏ qua giai đoạn đánh vần.
dùng trực quan không thể thiếu trong giờ học, nhờ có đồ dùng trực quan
mới thu hút được sự chú ý của học sinh giúp học sinh thích học và dễ dàng
tiếp thu bài. Đồ dùng trực quan phải được làm to rõ đẹp, chính xác để hấp
dẫn học sinh có thể là: vật thật, tranh ảnh, thẻ từ, thẻ chữ, mô hình, rối…
minh họa cho từ khóa, từ ứng dụng, câu ứng dụng và các chủ đề luyện nói.
- Lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học phù hợp: Học sinh khiếm thính
ở nhiều mức độ khác nhau, nhiều loại khác nhau. Cho nên khi dạy học, việc
lựa chọn nội dung và định mức độ yêu cầu cần căn cứ vào khả năng và nhu
cầu của từng học sinh. Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cần
được vận dụng một cách linh hoạt trong mỗi bài học, mỗi tiết học nhằm
khơi dậy sự tự tin và hứng thú học tập cho học sinh, mang lại hiệu quả thiết
thực.
+ Để dạy tiếng Việt một cách hiệu quả, cần sử dụng những phương pháp
dạy học đặc thù của việc dạy tiếng: phương pháp phân tích ngôn ngữ,
phương pháp giao tiếp, phương pháp luyện tập theo mẫu.
+ Kết hợp với các phương pháp dạy trẻ khiếm thính: phương pháp bắt
chước, phương pháp phương pháp phản hồi người mẹ, phương pháp dạy
phát âm, phương pháp luyện nghe, giao tiếp bằng chữ cái ngón tay và thủ
ngữ điệu bộ.
- Sắp xếp chỗ ngồi hợp lí: Sắp xếp học sinh ngồi học theo hình vòng cung
để học sinh quan sát được lẫn nhau, khoảng cách giữa giáo viên với học
sinh từ 1m đến 1,5m. Học sinh có khả năng tập trung chú ý kém nên cho
ngồi ở đáy vòng cung trực diện với giáo viên sẽ dễ quan sát giáo viên nói
cũng như các bạn trong lớp nói.
- Đeo máy và kiểm tra máy trợ thính cho học sinh: Cách kiểm tra máy dễ
nhất là đặt núm tai gần micro khi máy đã mở, nếu có tiếng rít thì có nghĩa
là máy đang hoạt động. Sau đó giáo viên đeo máy cho học sinh, kiểm tra
xem trẻ có phản ứng với âm thanh hay không khi đeo máy, bằng cách thức
là yêu cầu học sinh giơ tay khi nghe giáo viên đứng phía sau vỗ tay hoặc
Bước 4: Yêu cầu trẻ thứ nhất lặp lại
Chính trẻ có ý tưởng phải là người đầu tiên diễn tả ý tưởng của mình
thành lời, khi em ấy nói đòi hỏi các em khác phải chú ý quan sát - lắng
nghe.
Bước 5: Những trẻ khác lặp lại
Từng em một lần lượt cho đến hết lớp hay một số em nhất định nào đó
lặp lại. Khi một em nói đòi hỏi các em khác phải chú ý quan sát - lắng
nghe.
Bước 6: Viết bảng
Viết bảng chuẩn, rõ, theo qui ước… và viết cùng học sinh. Giúp học
sinh tập trung và nhớ từ, câu vừa nói.
Bước 7: Liên hệ ý – từ.
Kiểm tra ý nghĩa lời nói.
Trong mỗi môn học, mỗi tiết dạy giáo viên đều sử dụng những
phương pháp phù hợp với từng hoạt động để đạt được mục tiêu đặt ra.
Trong giờ học vần giáo viên vận dụng bảy bước của phương pháp pháp
phản hồi người mẹ vào các hoạt động:
- Giới thiệu tiếng, từ khóa:
Dạy trẻ khiếm thính bắt đầu từ từ ngữ có nghĩa, sau đó phân tích
thành từ, âm tiết và những đơn vị nhỏ hơn. Ở hoạt động này giáo viên vận
dụng phương pháp phản hồi người mẹ khi giới thiệu tiếng, từ khóa để phân
tích âm/vần. Giáo viên chỉ cần thực hiện các bước này trong thời gian ngắn
cũng đủ giúp học sinh hiểu và cung cấp từ mới cho các em.
Ví dụ:
Bài 10: ô, ơ (Tiếng Việt 1/ trang 22)
Giới thiệu tiếng khóa cô.
Giáo viên thực hiện các bước để giới thiệu bài:
+ Giáo viên cho học sinh quan sát tranh cô giáo, giáo viên chờ đợi học sinh
thể hiện ý tưởng. Đa số học sinh mới đi học đều chỉ biết chỉ cô giáo đang
Từ ứng dụng cà chua, tre nứa.
Giáo viên thực hiện các bước để giới thiệu bài:
+ Giáo viên cho học sinh quan sát quả cà chua, giáo viên chờ đợi học sinh
đưa ra ý tưởng. Đa số học sinh mới đi học đều không biết tên gọi quả cà
chua, các em thường nói hoặc diễn tả cử chỉ điệu bộ màu đỏ, vị chua, ăn
được.
+ Giáo viên nắm bắt và làm rõ ý tưởng cho cả lớp cùng biết quả cà chua là
quả màu đỏ, dùng để chế biến các món ăn.
+ Sau đó giáo viên cung cấp cho học sinh biết tên gọi “cà chua”. Giáo viên
làm mẫu nói “cà chua” 2 lần rõ hình miệng.
+ Chính học sinh có ý tưởng trước phải là người đầu tiên diễn tả ý tưởng
của mình thành lời, lặp lại từ cà chua đúng hình miệng và rõ tiếng.
+ Từng học sinh một lần lượt cho đến hết lớp hay một số em nhất định nào
đó lặp lại từ cà chua đúng hình miệng và rõ tiếng. Khi một học sinh nói yêu
cầu các em khác phải chú ý quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng
hay sai từ cà chua.
+ Tiếp theo giáo viên viết bảng cùng học sinh bằng câu hỏi “Cô viết gì
đây?” Học sinh sẽ nói “cà chua” và giáo viên viết bảng từ cà chua theo chữ
in thường.
+ Kiểm tra nghĩa của từ cà chua, giáo viên có thể hỏi “Quả gì?” để học
sinh trả lời.
Thực hiện tương tự với từ tre nứa.
Sau bước giới thiệu, giáo viên cho học sinh luyện đọc từ khóa và tìm
âm, vần đang học có trong các tiếng, từ đó.
- Luyện đọc câu ứng dụng:
Nếu chỉ đơn thuần giáo viên cho học sinh phân tích tranh rồi luyện
đọc câu ứng dụng thì với học sinh bình thường có thể đánh vần và đọc tốt
được câu ứng dụng. Nhưng học sinh khiếm thính vốn từ vựng nghèo nàn và
không thể đánh vần mà chỉ đọc trơn nên các em gặp nhiều khó khăn khi
đọc câu ứng dụng. Để học sinh khiếm thính đọc và nhớ được trọn vẹn câu,
nội dung nên sẽ đọc đúng được hình miệng kết hợp với ngôn ngữ kí hiệu
từng từ, cụm từ trong câu ứng dụng viết trên bảng cũng như câu ứng dụng
trong sách giáo khoa.
Vận dụng phương pháp phản hồi để cung cấp các câu ứng dụng hay đoạn
thơ ứng dụng:
Ví dụ:
Bài 69: ăt, ât (Tiếng Việt 1/ trang 140)
Đoạn thơ ứng dụng:
Cái mỏ tí hon
Cái chân bé xíu
Lông vàng mát dịu
Mắt đen sáng ngời
Ơi chú gà ơi
Ta yêu chú lắm…
+ Giáo viên cho học sinh quan sát tranh hoặc con gà con thật, giáo viên gợi
ý và chờ đợi học sinh đưa ra ý tưởng qua việc lắng nghe âm thanh, cử chỉ,
thái độ của học sinh trong bầu không khí khuyến khích.
+ Giáo viên nắm bắt và làm rõ ý tưởng cho cả lớp cùng hiểu. Giáo viên
cung cấp cho học sinh câu hoàn chỉnh theo đúng nội dung của câu ứng
dụng Cái mỏ tí hon.
Giáo viên làm mẫu đọc 2 lần rõ hình miệng và chậm rãi.
+ Học sinh đầu tiên đưa ra ý tưởng sẽ được lặp lại đầu tiên.
+ Từng học sinh một lần lượt cho đến hết lớp hay một số em nhất định nào
đó lặp lại câu Cái mỏ tí hon. Khi một học sinh nói yêu cầu các em khác
phải chú ý quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng hay sai câu.
+ Giáo viên viết bảng câu Cái mỏ tí hon chuẩn, rõ, theo qui ước và yêu cầu
học sinh nói từ hoặc cụm từ của câu khi giáo viên viết để giúp học sinh có
sự liên kết giữa lời nói và chữ viết.
+ Kiểm tra nghĩa của câu. Đặt câu hỏi: Cái gì tí hon? Cái mỏ như thế nào?
đến chủ đề.
+ Giáo viên nắm bắt và làm rõ ý tưởng đầu tiên liên quan đến chủ đề ổ, tổ.
Nếu học sinh nói “tổ”, giáo viên hỏi “Tổ của con gì?”, học sinh sẽ nói
“chim”.
+ Giáo viên cung cấp từ “con chim” mà học sinh chưa biết, rồi mới cung
cấp câu hoàn chỉnh “Con chim có tổ” từ những ý tưởng của học sinh. Giáo
viên nói mẫu câu đó 2 lần.
+ Học sinh đầu tiên đưa ra ý tưởng sẽ được lặp lại câu “Con chim có tổ”.
+ Từng học sinh lặp lại câu “Con chim có tổ”. Khi một học sinh nói đòi hỏi
các em khác phải chú ý quan sát - lắng nghe để nhận xét bạn nói đúng hay
sai câu.
+ Giáo viên kiểm tra ý nghĩa câu. Đặt câu hỏi “Con chim có gì?”hoặc “Con
gì có tổ?”, yêu cầu học sinh trả lời câu “Con chim có tổ”.
Giáo viên tiếp tục khuyến khích cho học sinh đưa ra ý tưởng để giúp
học sinh nói câu tiếp theo liên quan đến chủ đề ổ, tổ. Tùy vào ý tưởng và
trình độ của học sinh mà giáo viên cung cấp thêm một trong số những câu
dự kiến tương tự theo các bước. Sau đó giáo viên gợi ý cho học sinh rút ra
tên chủ đề ổ, tổ.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Qua một năm học mạnh dạn triển khai “Vận dụng phương pháp phản
hồi người mẹ trong giờ học vần cho học sinh khiếm thính lớp 1A” trong
các giờ học vần trên lớp tôi nhận được một số kết quả khả quan như sau:
- Tiến trình dạy – học của giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
- Đa số học sinh nhận biết những âm, vần được học; phát âm rõ tiếng, đúng
hình miệng. Vốn từ ngữ của học sinh tăng lên đáng kể.
- Học sinh có kỹ năng đọc hình miệng rất tốt, học sinh tích cực chủ động
trong học tập, mạnh dạn phát biểu ý kiến, biết nhận xét bạn nói đúng hay
sai.
- Học sinh thích thú, có hứng thú trong học tập khi được tham gia giờ học
12/4 5 41.7 4 33.3 2 16.7 1 13.3 IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Dạy Tiếng Việt cho học sinh khiếm thính là rất quan trọng, do hạn
chế về khả năng nghe nói nên các em gặp khó khăn trong quá trình học tập,
nhất là học ngôn ngữ. Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đã nêu lên kinh
nghiệm khi vận dụng phương pháp phản hồi người mẹ trong giờ học vần để
giúp các em tích cực tham gia học tốt phân môn học vần chương trình
Tiếng Việt lớp 1.
Đối với giáo viên dạy trẻ khiếm thính:
- Giáo viên phải luôn tìm tòi, học hỏi những kiến thức thật vững chắc về trẻ
khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật mà mình đang phụ trách giảng dạy
nói riêng.
- Giáo viên cần đầu tư làm nhiều đồ dùng dạy học phong phú, tổ chức giờ
học phù hợp với học sinh lứa tuổi tiểu học.
- Giáo viên cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi bước vào giờ học về đồ
dùng trực quan phục vụ cho giờ học vần phù hợp với nội dung bài học, lựa
chọn hình thức và phương pháp dạy học phù hợp, sắp xếp chỗ ngồi hợp lí
và một công việc rất quan trọng là kiểm tra máy trợ thính cho học sinh.
- Giáo viên cần phải vận dụng phương pháp phản hồi người mẹ theo bảy
bước một cách linh hoạt. Giáo viên cần đóng vai trò quan trọng như vai trò
của người mẹ trong sự hồi đáp, dẫn dắt cuộc trò chuyện tự nhiên với con
trẻ.
- Giáo viên không nên chỉ dừng lại ở việc dạy học bằng một phương pháp
mà phải trau dồi, rèn luyện việc sử dụng phối hợp nhuần nhuyễn nhiều
phương pháp dạy học khác nhau để tránh nhàm chán. Giáo viên cần phối
hợp linh hoạt giữa các phương pháp, hình thức để giúp cho học sinh khiếm
thính khắc phục được khiếm khuyết về khả năng nghe nói.
Đối với Ban Giám đốc: