skkn áp dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh học trong trường THCS - Pdf 24

Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
Phần I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cải cách giáo dục bên cạnh những đổi mới về nội dung, chương trình và
phương pháp giảng dạy thì sự đổi mới về phương pháp kiểm tra đánh giá cũng rất
quan trọng.Vì nó cho phép đánh giá khách quan chất lượng dạy và học, đồng thời
cũng cho thấy hiệu quả của những cải tiến về nội dung và phương pháp giảng dạy
đã thực hiện, tư đó co biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập, của học sinh là một phần quan trọng trong
quá quá trình dạy và học. Đổi mới chương trình THCS đòi hỏi phải tiến hành đồng
bộ các phần trong đó có đổi mới đánh giá. Kiểm tra là hình thức và phương tiện của
hoạt động đánh giá, bởi vậy trong quá trình đổi mới đánh giá kết quả học tập của
học sinh cần phải đổi mới việc kiểm tra.
Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá ở các trường THCS hiện nay cho thấy:
- Chưa đạt được sự công bằng, giáo viên dạy khác nhau nên kiểm tra cũng khác
nhau.
- Chủ yếu là sử dụng hình thức tự luận.
- Thiếu tính khách quan, phần lớn dựa vào các đề thi có sẵnvà ép kiến thức, ấn
định học sinh theo các đề thi có sẵn đó.
- Thiếu tính năng động do chưa có ngân hàng đề thi.
- Coi nhẹ kiểm tra đánh giá chất lượng .
- Chưa chú ý đánh giá năng lực thực hành tổng hợp kiến thức, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, hầu như ít kiểm tra vềnăng lực tự học của học sinh.
- Việc cho điểm thường có độ tin cậy thấp vì thiếu tiêu trí đánh giá và phụ
thuộc một phần tâm trạng, kiểu trình bàycủa người chấm.
- Chưa sử dụng cácphương tiện hiện đại trong việc chấm bài và phân tích kết
quả kiểm tra.
- Trong các bài kiểm tra 15’ hoặc 45’ hay kiểm tra cuối kì, ở hầu hết các trường
đều sử dụng các câu hỏi tự luận truyền thống thày ra câu hỏi, học sinh trả lời rồi đối
chiếu với biểu điểm chấm bài, đánh giá bài theo thang điểm đã qui ước( điểm 10).
Phương pháp này bộc lộ một số nhược điểm như hạn chế tính khách quan và

Kiểm tra có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như : kiểm tra nói kiểm tra viết,
nhưng cần chú ý kiểm tra thực hành, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc
sống.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn sinh học ở các trường THCS nói
chung và ở trường THCS Cẩm Văn nói riêng, tôi xin mạnh dạn đưa vấn đề “Áp
dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh học trong
trường THCS”
Rất mong nhận được sự đồng cảm và sự góp ý tận tình của các đồng nghiệp.
2
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
Phần II - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A/ Cơ sở lí luận
I. Hình thức :
- Có câu hỏi dạng trắc nghiệm chiếm 30% - 40%
- Có câu hỏi dạng tự luận chiếm 70% - 60%
II. Yêu cầu:
- Nội dung kiểm tra cần quán triệt nguyên tắc vừa sức bám sát yêu cầu của
chương trình, kiểm tra được cả kiến thức, kĩ năng và thái độ.
- Đề kiểm tra phải đánh giá khách quan chính xác năng lực học tập của từng học
sinh.
- Kiểm tra không thể bỏ qua được các hình thức kiểm tra truyền thống, mà ttrong
một bài kiểm tra cần kết hợ cả kiểm tra truyền thông và câu hỏi trắc nghiệm khách
quan, tăng đần trắc nghiệm khách quan. Đặc biệt với chương trinh sinh học 9 cần
chú ý câu hỏi thực hành và câu hỏi vận dung vào giải thích một số hiện tượng trong
thức tiễn cuộc sống.
III. Nội dung kiểm tra
Kiểm tra cả kiến thức, kĩ năng và thái độ. Kiểm tra kiến thức ở 3 mức độ :
- Biết : câu hỏi yêu cầu học sinh nhắc lại một kiến thức đã biết, học sinh chỉ
dựa vào trí nhớ để trả lời.

Yêu cầu đối với câu hỏi kiểm tra nói:
- Dung lượng kiến thức trong mỗi câu hỏi phải vừa phải, sát với trình độ học
sinh.
- Câu hỏi nêu ra cho học sinh phải chính xác rõ ràng và xác định, không làm
cho học sinh hiểu sai, dẫn đến trả lời lạc đề. Bên cạnh câu hỏi cơ bản, chuẩn bị câu
hỏi bổ sung, tạo điều kiện đánh giá chính xác, chú ý năng lực vận dụng kiến thức,
suy nghĩ sang tạo.
- Phương pháp kiểm tra vấn đáp (nói) có thể đầu tiết học “ Kiểm tra miệng”
hoặc trong suốt cả tiết học. Phương pháp này không thích hợp cho việc đánh giá
một lượng lớn kiến thức hoặc trên nhiều học sinh trong một thời gian ngắn.
3. Phương pháp kiểm tra viết:
Bài kiểm tra viết có thể được thực hiện ở đầu hay cuối tiết học hoặc chọn một
tiết học sau một chương hay một phần của chương trình, hoặc trong bài viết vào
cuối học hay cuối năm học.
Kiểm tra viết có thể đề cập nhiều vấn đề nhằm đánh giá học sinh ở nhiều mặt
hơn kiểm tra nói. Tuy nhiên đề kiểm tra viết cũng chỉ có thể đề cập một số kiến
thức mấu chốt nào đó trong cả một chương trình rất dài. Đối với học sinh THCS
khó có điền kiện đánh giá kĩ năng thực hành cho nên có thể dùng những câu hỏi
kiểm tra lí thuyết về thực hành.
Nội dung câu hỏi phải vừa sức học sinh. Số lượng câu hỏi phải thích hợp với
thời gian qui định làm bài, bao quát được những thành phần kiến thức khác nhau
của chương trình môn học.
Trong đề kiểm tra nen có những phần câu hỏi phân hoá trình độ học sinh, phát
hiện những học sinh giỏi để bồi dưỡng.
Để khắc phục những nhược điểm của kiểm tra viết trong dạy học trước đây,
ngoài việc kiểm tra viết theo kiểu truyền thống như trắc nghiệm chủ quan thì cần
phảI kết hợp với kiểm tra viết theo trắc nghiệm khách quan. Nên đảm bảo tỉ lệ nhất
định giữa câu hỏi trắc nghiệm khách quan với câu hỏi trắc nghiệm tự luận.
4
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh

+ Không nên trích nguyên văn những câu trong sách giáo khoa.
+ Mỗi câu trắc nghiệm nên diễn tả một ý duy nhất.
+ Trong một bài kiểm tra không nên bố trí số câu Đ bằng số câu S, không
nên bố trí số câu đúng theo một trật tự có tính chu kì.
* Loại câu hỏi lựa chọn nhiều phương án :
Mỗi câu hỏi nêu ra có 3 - 5 câu trả lời sẵn. Trong đó chỉ có một câu trả lời
đúng. Những câu trả lời khác được xem là câu“Gây nhiễu” hoặc “Gài bẫy”. Học
sinh phải nắm vững kiến thức mới phân biệt được. Các câu “Gây nhiễu” hoặc “Gài
bẫy” có vẻ bề ngoài là đúng nhưng thực chất là sai hoặc chỉ đúng 1 phần.
Loại câu hỏi nhiều loại lựa chọn được sử dụng rộng rãi nhất kích thích suy
nghĩ nhiều hơn đúng sai.
5
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
Khi viết loại câu trắc nghiệm này cần chú ý những điểm sau:
+ Phần gốc có thể là 1 câu hỏi hoặc một câu bỏ lửng và phần lựa chọn là câu
bổ sung để phần gốc trở nên đủ nghĩa.
+ Phần lựa chọn nên từ 3- 5 câu tuỳ trình độ kiến thức và tư duy của học
sinh.
+ Tránh xếp câu trả lời đúng nằm ở vị trí tương ứng như nhau ở mọi câu hỏi.
* Loại ghép đôi :
Loại này thường gồm hai dãy thông tin : Một dãy là những câu hỏi (hoặc câu
dẫn). Một dãy là những câu trả lời (hay câu để lựa chọn) học sinh phải tìm ra câu
trả lời ứng với câu hỏi.
Loại trắc nghiệm ghép đôi thích hợp với việc kiểm tra một nhóm kiến thức
có liên quan gần gũi chủ yếu. Chủ yếu là kiến thức sự kiện.
Khi viết loại câu hỏi trắc nghiệm này cần chú ý những điểm sau:
+ Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một nhóm có liên
quan học sinh có thể nhầm lẫn.
+ Dãy câu hỏi và dãy trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời

thức sinh học vào thực tiễn cuộc sống.
- Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra.
- Đề kiểm tra phải vừa sức với học sinh và vừa phân hoá được các đối tượng học
sinh.
- Phải tuân thủ những qui chế pháp lí hiện hành.
VIII. Quy trình ra đề kiểm tra(5 bước):
- Bước 1: Xác định yêu cầu mục đích của đề kiểm tra. Đề kiểm tra là phương
tiện đánh giá kết quả học tập sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học
kì, hay toàn chương trình một lớp học, một cấp học.
- Bước 2: Xác định mục tiêu, nội dung kiến thức của đề kiểm tra để xây dựng
được đề kiểm tra tốt cần liệt kê chi tiết các mục tiêu giảng dạy thể hiện ỏ các hành
vi hay năng lực của học sinh. Kết quả của việc dạy và học : kiến thức, kĩ năng, thái
độ…
- Bước 3: Thiết lập ma trận 2 chiều:
+ Một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính când đánh giá
+ Một chiều là mức độ kiến thức của học sinh.
Xác định tỉ lệ số lượng các câu hỏi, tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Hình thức ma trận : Từ số lượng câu hỏi kết hợp với trình độ của học sinh để ra
đề với mức độ nào.
- Bước 4: Thiết kế câu hỏi cho ma trận: vào từng câu hỏi cụ thể.
- Bước 5: Hướng dẫn chấm(đáp án, biểu điểm).
B/Thực nghiệm áp dụng
Môn sinh học là một bộ môn KHTN có tốc độ phát triển như vũ bão, cho nên
lương tri thức đưa vào giảng dạy thừơng xuyên được cập nhật hàng ngày, do đó đòi
hỏi một phương thức kiểm tra phù hợp nhằm đánh giá cả về bề rộng và chiều sâu
của tri thức.
Theo tôi nghĩ mỗi phương pháp đều có ưu - nhược điểm của nó, nếu ta khéo léo
kết hợp sử dụng trong mỗi tình huống, mỗi bài thi, bài kiểm tra thì hiệu quả sẽ cao
hơn.
Bởi vậy tôi đã mạnh dạn áp dụng các phương pháp kiểm tra cụ thể như sau:

a - Kiểu hình của F
1
biểu hiện tính trạng trung gian giữa bố và mẹ.
b - F
2
có tỉ lệ kiểu hình : 1 trội : 2 trung gian : 1 lặn
c - F
2
có tỉ lệ kiểu hình : 3 trội: 1 lặn.
d - Cả a và b.
Câu 2: Tính đặc trưng của NST là gì?
a - Tế bào của mỗi loại sinh vật có một bộ NST đặc trưng (với số lượng và hình
thái xác định)
b - Bộ NST đặc trưng được duy trì ổn định qua các thế hệ.
c - Cả a và b.
d - NST biến đổi qua các thời kì của quá trình phân bào .
Câu 3: NST giới tính có những loại tế bào nào ?
a- Tế bào sinh dưỡng.
b- Tế bào sinh dục .
c- Tế bào phôi.
d- Cả a, b và c.
Câu4: Cấu tạo hoá học của ADN có đặc điểm gì?
a- ADN có kích thước lớn (đại phân tử).
b- ADN cấu tạo theo nguyên tắc đa phân (gồm nhiều đơn phân)
c- Thành phân chủ yếu trong ADN là các nguyên tố: C, H, O, N, P.
8
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
d- Cả a, b và c.
Câu5: Quá trình tự nhân đôi của ADN diễn ra theo nguyên tắc nào ?

A
9
B
,9
C
,9
E
.
Tổng số 144 học sinh. Mỗi học sinh nhận được một tờ đề in.
2. Đáp án biểu điểm :
Câu1 : (1đ): d ; Câu 2: (1đ): c ; Câu 3 : (1đ): d ; Câu 4:(1đ) :d ;
Câu 5 (1đ) :d ; Câu 6 : (1đ) : d ; Câu 7 : (1đ) : d.
Câu 8(2đ) :
a- (1đ) P : (quả đỏ) AA Aa ( quả đỏ )
9
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
GP : A A,a
F
1
: AA , Aa
Quả đỏ, quả đỏ.
b- (1đ)P : (quả đỏ) Aa aa ( quả vàng)
GP : A,a a
F
1
: Aa , aa
Quả đỏ, quả vàng.
Câu 9 : (1đ)
a-(1/2đ)

2 - Trong tự nhiên , đặc trưng nào sau đây không phải là đặc trưng để phân
biệt các quần thể với nhau:
a - Tỉ lệ giới tính.
b - Thành phần nhóm tuổi.
c- Kích thước cá thể đực
d- Mật độ
3 - Mật độ quần thể tăng khi nào?
a- Khi nguồn thức ăn tăng.
b- Khi nơi ở rộng rãi , không bệnh tật.
c- Khi tỉ lệ sinh cao hơn tỉ lệ tử vong
d- Cả a, b và c
2 - Đáp án biểu điểm
Câu I (7 điểm ):
- Sự khác nhau của quần thể người so với quần thể sinh vật khác:
+ Có hôn nhân
+ Có luật pháp
+ Có kinh tế
+ Có xã hội
+ Có giáo dục
+ Có văn hoá ( Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm)
- Có điểm khác nhau đó là vì:
+ Bộ não người phát triển, có tư duy, hoạt động có mục đích ( 2 điểm )
+ Có khả năng thay đổi những đặc trưng của quần thể ( 2 điểm )
11
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
Câu II (3 điểm ) mỗi ý đúng cho một điểm:
1 - b, 2- c, 3 - c
3 - Kết quả thu được
- Kiểm tra cả khối 9: tổng số là 182 bài

Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh
học trong trường THCS
Phần III - KẾT LUẬN
Với những phần áp dụng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá bằng cách thiết kế
các câu hỏi cho các bài kiểm tra: 5, 15, 45 phút. Tôi đã nhận được sự hưởng ứng
nhiệt tình của cá em học sinh khi làm bài và luôn yêu cầu được kiểm tra thường
xuyên theo phương thức này. Tôi nhận thấy các em rất tự tin khi tìm câu trả lời.
Giảm hẳn hiện tượng quay cóp, đánh giá chính xác năng lực học tập của từng học
sinh. Tôi cũng đã trao đổi thảo luận việc áp dụng phương pháp đổi mới kiểm tra
đánh giá với một số đồng nghiệp, cũng đã nhận được sự động viên, hưởng ứng
nhiệt tình.
Để nâng cao chất lượng dạy và học. Song song với việc đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy là việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá.
Thực trạng cho thấy việc kiểm tra đánh giá hiện nay còn nhiều tồn tại, thiếu
tính khách quan và tính chính xác.
Trong các phương pháp kiểm tra đánh giá thì trắc nghiệm khách quan tỏ ra có
nhiều ưu điểm, trong các dạng kiểm tra đánh giá dạng trắc nghiệm khách quan đã
đáp ứng nhu cầu của việc đổi mới.
Thực nghiệm sư phạm cho thấy hướng đổi mới này hoàn toàn có tính khả thi
trong thực tế.
Để có tính thực thi phương pháp này, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều
giáo viên vào việc soạn thảo câu hỏi, định chuẩn cho câu hỏi mới có thể đáp ứng
rộng rãi.
Cần trang bị cho mỗi giáo viên những nguyên tắc cơ bản của việc soạn thảo
câu hỏi theo kiểu : lựa chọn nhiều phương án.
Cần khuyến khích các giáo viên sinh học áp dụng phương pháp này kết hợp
với phương pháp tự luận truyền thống với mọi hình thức kiểm tra.
Cẩm Văn, ngày 5/3/2008
13
Á p dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status