BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước
Hội học tốt giải toán có lời văn”.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Sen
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Hội
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm qua khi dạy môn Toán nhất là toán có lời văn, tôi nhận
thấy một số tồn tại cần phải khắc phục:
- Giáo viên còn gặp khó khăn trong giảng dạy.
- Học sinh chưa đọc kỹ đề toán từ đó các em chưa xác định được yêu cầu
của đề toán, chưa nhận dạng được dạng toán.
- Chưa biết cách giải một bài toán có văn.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước Hội học tốt giải
toán có lời văn.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan.
- Nghiên cứu tài liệu giảng dạy của môn Toán lớp 3.
- Rút kinh nghiệm qua các bài làm của học sinh.
- Dự giờ đồng nghiệp.
- So sánh đối chiếu kết quả.
4. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Sử dụng bằng nhiều hình thức học tập, vận dụng đổi mới phương pháp
học tập tạo cho tiết học hứng thú, sôi nổi, hiệu quả.
- Rèn luyện các thao tác tư duy sáng tạo để các em chủ động tích cực
trong học tập.
- Học sinh tự tìm hiểu được và giải được bài toán có văn.
5. Hiệu quả áp dụng:
1
giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc học tập. Nó không những cung cấp cho
giáo viên những tiềm năng dạy học mà còn rèn cho học sinh có kỹ năng tính toán,
nâng cao tư duy trừu tượng, năng lực khái quát hóa cho học sinh.
Nhưng thực tế, qua nhiều năm giảng dạy lớp 3, tôi nhận thấy học sinh lớp mình
chủ nhiệm chất lượng môn Toán chưa cao nhất là phần giải toán có lời văn, mà
nguyên nhân là do các em đọc đề chưa kĩ, thậm chí không hiểu yêu cầu của đề toán
cho biết gì? hỏi gì?... Vậy làm thế nào để học sinh nắm được yêu cầu đề toán và trình
bày bài giải đúng. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp
3B trường Tiểu học Phước Hội học tốt giải toán có lời văn” là một điều rất cần
thiết cho học sinh nói riêng và nâng cao chất lượng môn Toán nói chung nhằm giải
quyết những vấn đề nói trên.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Toán với các mục đích
sau:
3
- Vai trò của giáo viên trong việc dạy học môn Toán.
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai nhiều.
- Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn đúng.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước hội học tốt giải
toán có lời văn.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu phần giải toán có lời văn ở lớp 3B
trường Tiểu học Phước Hội.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi đã sử dụng những phương pháp
sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
sinh làm các dạng toán chính xác, đạt kết quả cao. Nếu đề tài nghiên cứu thành công
và áp dụng vào thực tế sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc dạy môn Toán lớp 3 phần
giải toán có văn.
5
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1 Các văn bản chỉ đạo của Ngành
- Thực hiện Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg, ngày 11 tháng 6 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành về việc đổi mới nội dung Chương trình giáo dục phổ
thông.
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông - cấp Tiểu học, trong đó có
Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.
- Công văn số 9832/2006/BGDĐT-GDTH của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày
01 tháng 9 năm 2006 về Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1, 2, 3,
4, 5.
- Công văn số 5842/2011/BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 01 tháng
9 năm 2011, về việc Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học
cấp Tiểu học.
- Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 28 tháng
08 năm 2014 về việc ban hành Quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
1.2 Các quan niệm khác về giáo dục
Tâm lý học thực sự cũng là một cơ sở của phương pháp dạy học Toán. Nếu dạy
học mà không nắm được khả năng nhận thức cũng như các đặc điểm tâm lý của học
sinh thì dạy học sẽ không đạt được hiệu quả cao, vì khả năng nhận thức của học sinh
Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng giai đoạn có quy luật riêng. Nên hơn
Đa số các em lớp 3 rất ngại giải các bài toán có văn, nhiều em giải toán có văn
sai. Qua nghiên cứu, tìm hiểu, nhìn chung các em không thực hiện được bài toán giải
có lời văn do những nguyên nhân cơ bản sau:
2.1.1 Về phía giáo viên:
- Giáo viên chưa có phương pháp dạy học thích hợp cũng như chưa đưa ra biện
pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh trong việc giải toán;
- Chưa chịu khó rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh;
- Chưa phát huy tính tích cực của học sinh, thầy làm hết mọi việc cho trò, trò
thụ động trong tiết học toán, chưa cho nhiều bài tập để học sinh thực hành;
7
- Hướng dẫn, phân tích đề toán qua loa.
2.1.2 Về phía học sinh:
Do các em không đọc kỹ đề, không hiểu nội dung bài toán, có một số em chậm
vì thế khi đọc đề bài các em không hiểu yêu cầu của đề; không xác định được dạng
toán; không biết phân tích, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện; không biết đặt lời
giải ứng với từng phép tính; chưa chủ động trong việc học, các em chỉ làm việc khi
giáo viên yêu cầu; không chuẩn bị bài trước khi đến lớp; còn ỷ lại giáo viên, ít luyện
tập.
Bên cạnh đó, cũng do một phần lớn là các em chưa nhận thức được tầm quan
trọng của việc học hành.
Ngoài ra, gia đình cũng chưa quan tâm đến việc học của con em mình, luôn
giao phó cho nhà trường, chưa tạo điều kiện để phối hợp với giáo viên giúp các em
học tốt hơn; có nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc. Do ông bà
đã già nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu.
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Từ thực tiễn trên, tôi quyết định lựa chọn phải tìm ra những phương pháp và
hình thức tổ chức phù hợp với nội dung kiến thức, đặc điểm tâm sinh lí học sinh, điều
kiện thực tại nhằm góp phần tìm ra biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng giảng
+ Nghiên cứu hồ sơ của học sinh (sơ yếu lý lịch, học bạ, biên bản bàn giao
lớp...).
+ Nghiên cứu sản phẩm học tập và hoạt động của học sinh (những bài kiểm tra,
sản phẩm lao động).
+ Trao đổi trò chuyện thân mật trực tiếp với học sinh giúp các em không còn
sợ sệt khi phát biểu. Qua đó, giáo viên biết thêm ưu, khuyết điểm của các em, tạo điều
kiện cho các em học tập tốt hơn.
+ Thăm gia đình học sinh và trò chuyện với phụ huynh để hiểu rõ hoàn cảnh,
để có biện pháp giáo dục phù hợp.
Nhờ các biện pháp đa dạng đó, giáo viên có thể thu thập một khối lượng thông
tin lớn về thực tế học sinh lớp mình. Sau đó, giáo viên nghiên cứu phân tích, xử lý
những thông tin đó bằng nhiều hình thức khác nhau để nhận xét, đánh giá để hiểu bản
chất học sinh của mình. Cần ghi chép, theo dõi tiến trình phát triển của các em dưới
dạng nhật ký.
3.2.2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai:
Chúng ta khẳng định vai trò của việc giải quyết các bài toán có văn trong toán
học nói riêng cũng như trong chương trình học phổ thông nói chung là hết sức to lớn
9
và là cầu nối giữa toán học và đời sống thực tế. Qua nghiên cứu chương trình Toán 3,
tôi thấy giải toán có văn thường ở hai dạng cơ bản:
a) Các bài toán đơn: Là các bài toán giải bằng một phép tính.
b) Các bài toán hợp: Là các bài toán giải bằng hai phép tính trở lên.
Trong quá trình giảng dạy cũng như việc tham khảo các bài kiểm tra của một
số năm học gần đây và trong tuần lễ ôn tập đầu tiên, tôi đã đi sát từng học sinh để
đánh giá đúng tình hình học toán của các em. Đa số học sinh trong lớp bị hổng kiến
thức về cộng, trừ có nhớ. Còn đối với toán có văn thì chỉ vài em biết tóm tắt bài toán,
thực hiện hoàn toàn đúng lời giải, phép tính, đáp số còn lại các em không tự tóm tắt
được các bài toán đã học và đặt lời giải chưa chính xác; trình bày bài toán chưa khoa
Mỗi lô đất có số cây là:
2032 : 4 = 508 (cây)
Mỗi lô đất có số cây là:
508 x 4 = 2032 (cây)
Đáp số: 2032 cây
+ Do học sinh không nắm được quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữ nhật và
hình vuông.
Ví dụ 4: Bài tập 2/SGK/156.
Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng bằng 3 cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng.
Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật đó?
- Nhiều học sinh có bài giải như sau:
Chiều dài hình chữ nhật là:
3 x 2 = 6 (cm)
Chu vi hình chữ nhật là:
(3 + 6) x 2 = 18 (cm)
Diện tích hình chữ nhật là:
18 x 6 = 108 (cm)
Đáp số: 18cm; 108 cm
3.2.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có văn đúng:
Với những nguyên nhân dẫn đến việc giải toán có lời văn sai của học sinh mà
tôi đã trình bày ở trên. Đây là một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh
giải toán sai và rèn kĩ năng giải toán cho học sinh.
3.2.3.1 Chuẩn bị cho việc giải toán:
11
Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú ý rèn luyện
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học Tiếng Việt, bởi vì học
gì? (biết số lít dầu ở mỗi thùng). Vậy thùng thứ nhất biết chưa? (biết rồi 18 lít), thùng
thứ hai biết chưa? (chưa biết). Vậy ta đi tìm số lít dầu thùng thứ hai:18 + 6 = 24 (lít).
+ Khi biết thùng thứ nhất có 18 lít, biết thùng thứ hai có 24 lít rồi thì ta biết
tổng số lít dầu cả hai thùng dễ dàng.
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng lời giải:
Số lít dầu thùng thứ hai đựng là:
18 + 6 = 24 (lít)
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai:
Số lít dầu cả hai thùng đựng là:
18 + 24 = 42 (lít).
Tuy nhiên ở phép tính thứ hai, tôi thấy một số em thực hiện tìm số lít dầu cả
hai thùng bằng cách lấy 24 + 6 = 30 (lít).
Đối với những em này, tôi nhận thấy các em có khả năng tư duy chưa tốt, còn
chưa nắm vững yêu cầu bài toán. Đây là những trường hợp nằm trong nhóm đối tượng
học sinh chưa hoàn thành. Tôi phải hướng dẫn các em hiểu rõ bằng câu hỏi gợi mở:
Muốn tìm số lít dầu cả hai thùng ta phải làm gì? để các em nêu được: Lấy số lít
dầu thùng thứ nhất cộng số lít dầu thùng thứ hai và giúp cho các em thấy được số lít
dầu thùng thứ nhất là 18 lít và số lít dầu thùng thứ hai là 24 lít.
Ở dạng bài này, tôi cho học sinh luyện nêu miệng đề toán và tập tóm tắt đề
toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán.
3.2.3.2 Quy trình giải toán có lời văn:
Trên cơ sở nắm một cách chắc chắn các đối tượng học sinh lớp mình, nắm
được cấu trúc chương trình các bài toán có lới văn tôi lựa chọn hính thức, phương
pháp dạy học cho phù hợp. Quy trình dạy học giải toán có lời văn chia ra làm các
bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em có đọc kĩ đề mới nắm
bắt được các dữ kiện của bài toán, nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai về mối quan
hệ giữa các giữ kiện của bài toán thì sẽ gây khó khăn cho bước tiếp theo. Gạch dưới
một số thuật ngữ toán quan trọng có trong đề bài. Chẳng hạn: "kém 2 lần", "hơn 2 đơn
xếp vào 5 hộp. Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, phân tích tách riêng từng
câu của đề bài theo hướng từ đầu đến cuối.
Bước 2: Học sinh tóm tắt ra vở có thể bằng lời văn.
Mẹ hái: 60 quả táo
Chị hái: 35 quả táo
Số táo của cả mẹ và chị xếp đều: 5 hộp
Hỏi mỗi hộp có:...quả táo?
Bước 3: Bằng câu hỏi giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra cách giải.
Bài toán hỏi gì? (mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?)
15
Muốn biết mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ta làm thế nào? (lấy số quả táo của mẹ
và chị hái được chia cho 5)
Số quả táo mẹ hái được biết chưa? (biết rồi)
Số quả táo chị hái được biết chưa? (biết rồi)
Muốn tìm số quả táo của mẹ và chị hái được ta làm thế nào? (lấy số quả táo
của mẹ là 60 cộng với số quả táo của chị là 35)
Vậy muốn tìm mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ta làm như thế nào? (lấy số quả
táo của cả mẹ và chị chia cho 5)
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải.
Bài giải
Số quả táo mẹ và chị hái được tất cả là:
60 + 35 = 95 (quả)
Số táo có ở mỗi hộp là:
95 : 5 = 19 (quả)
Đáp số: 19 quả táo
Ví dụ 2: Bài tập 3/SGK/90
Một cuộn vải dài 81 mét, đã bán được
- Vậy
1
cuộn vải)
3
1
cuộn vải đã bán là bao nhiêu mét biết chưa? (chưa biết)
3
- Muốn tìm số mét vải đã bán ta làm gì? (ta lấy số mét vải trong cuộn vải chia
3)
- Muốn biết cuộn vải còn lại dài mấy mét ta làm gì? (ta lấy số mét vải trong
cuộn vải trừ đi số mét vải đã bán)
- Vậy bài toán này thuộc dạng toán gì? (tìm một phần mấy của một số)
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải.
Bải giải
Số mét vải đã bán được là:
81 : 3 = 27 (m)
Số mét vải còn lại là:
81 - 27 = 54 (m)
Đáp số: 54m vải
3.2.3.3 Hướng dẫn học sinh nắm các dạng toán:
17
* Hướng dẫn nắm dạng toán đơn:
Trước hết tôi giúp các em nắm chắc cách giải một bài toán đơn. Từ đó hướng
dẫn từng bước cho các em chuyển sang giải bài toán có văn bằng hai phép tính. Học
- Vậy muốn tìm số cây đội Hai trồng được bao nhiêu cây ta làm thế nào? (ta
lấy số cây của đội Một cộng với 90)
- Bài toán này thuộc dạng toán gì? (nhiều hơn)
Bước 4: Học sinh suy nghĩ làm - 1 em làm bảng phụ - Giáo viên kết luận.
Bài giải
Số cây đội Hai trồng được là:
230 + 90 = 320 (cây)
Đáp số: 320 cây
* Hướng dẫn nắm dạng toán hợp:
Ví dụ 1: Bài 3/SGK/52
Nêu bài toán theo sơ đồ sau rồi giải bài toán đó:
Học sinh giỏi:
Học sinh khá:
Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu
cầu.
Học sinh: Lớp 3B có 14 bạn học sinh giỏi, số bạn học sinh khá nhiều hơn 8
bạn. Hỏi lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn?
Muốn biết lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn ta phải biết gì? (biết số bạn học sinh
khá). Vậy số bạn học sinh giỏi đã biết chưa? (biết rồi), số bạn học sinh khá đã biết
chưa? (chưa biết). Vậy muốn tìm số bạn học sinh khá ta làm gì?
Lấy số bạn học sinh giỏi là 14 cộng thêm 8.
Nên số bạn học sinh khá là: 14 + 8 = 22 (bạn)
Muốn biết lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn ta làm thế nào? (ta lấy số bạn học
sinh giỏi cộng với số bạn học sinh khá)
19
Bước 4: Học sinh làm vào vở - 1 em làm bảng phụ - giáo viên kết luận
Bài giải
Muốn biết số vịt trên bờ có bao nhiêu con ta phải biết gì? (số vịt đang bơi ở
dưới ao).
Muốn tìm số vịt đang bơi ở dưới ao ta phải làm thế nào? (lấy 48 chia 8).
Tìm được số vịt đang bơi, muối tìm số vịt còn lại trên bờ ta làm như thế nào?
(lấy 48 trừ đi số vịt đang bơi).
Bước 4: Học sinh suy nghĩ giải - giáo viên kết luận.
20
Bài giải
Số vịt đang bơi ở dưới ao là:
48 : 8 = 6 (con)
Số vịt còn lại trên bờ là:
48 - 6 = 42 (con)
Đáp số: 42 con vịt
Trên đây chỉ là một trong hai ví dụ cụ thể, tôi thấy học sinh khi giải các bài
toán này thường không biết cách trả lời và nên thực hiện bằng phép tính gì. Khi thấy
học sinh trả lời sai, giáo viên cần có câu hỏi gợi ý dẫn dắt cho học sinh hiểu rõ rồi tự
sửa lại. Còn thực hiện bằng phép tính gì thì phải dựa vào mối liên quan giữa cái đã
cho với cái cần tìm. Nội dung gì mà chưa cho biết cụ thể chỉ cho biết chung chung thì
ta đi tìm trước rồi mới đi tìm đến câu hỏi của bài toán. Trong việc đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay, nhằm phát huy ý thức tự giác, độc lập suy nghĩ của học sinh,
theo sự hướng dẫn của giáo viên để lĩnh hội tri thức mới yêu cầu giáo viên nói ít, làm
mẫu ít nhưng phải nắm được khả năng học tập của từng học sinh để kèm cặp, giúp đỡ
những em học sinh chưa hoàn thành. Khuyến khích học sinh kịp thời dù chỉ là một
thành công nhỏ trong quá trình giải toán của các em. Giáo viên giúp các em hiểu và
rút ra được phương pháp, cách thức giải từng dạng toán cụ thể.
Giáo viên cần nắm chắc phương pháp bộ môn, nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh. Khi dạy xong mỗi bài, mỗi dạng toán giáo viên cần
củng cố, khắc sâu kiến thức cho từng bài theo từng dạng toán một cách khái quát.
Chiều rộng hình chữ nhật biết chưa? (biết rồi là 20 m)
Muốn tìm chiều dài hình chữ nhật ta làm sao? (ta lấy nửa chu vi trừ đi chiều
rộng).
Giáo viên giải thích: "chiều dài cộng với chiều rộng là nửa chu vi hình chữ
nhật).
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật là:
60 - 20 = 40 (m)
Đáp số: 40 m.
Từ tư duy đúng, các em tìm được lời giải, phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi
đáp số đúng.
Bước này tuy đơn giản nhưng vẫn tương đối khó với học sinh lớp 3, lời văn
ngắn gọn, chính xác đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự: Lời giải - phép tính - đáp
số.
22
Cần lưu ý: Phép tính trong giải bài toán có lời văn không ghi tên đơn vị đó là
phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn để giải thích mục đích thực hiện
phép tính.
Tương ứng với những dạng toán khác.
* Dạng toán hai phép tính có hai tên đơn vị khác nhau:
Ví dụ: Bài 5/SGK/83
Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái. Sau đó xếp các hộp vào
thùng, mỗi thùng 5 hộp. Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài:
Tóm tắt:
Xếp: 800 cái bánh vào các hộp
Cách 1:
Bài giải
Số huy chương bạc là:
8 x 3 = 24 (tấm)
Tổng số huy chương là:
8 + 24 = 32 (tấm)
Đáp số: 32 tấm huy chương
Cách 2:
Giáo viên cho học sinh nhìn vào sơ đồ và hướng dẫn: Nếu coi số huy chương
vàng là 1 phần thì số huy chương bạc là 3 phần như thế. Mỗi phần đều là 8 huy
chương.
Sau đó cho học sinh tự giải:
Bài giải
Tổng số phần bằng nhau là:
1 + 3 = 4 (phần)
Tổng số huy chương là:
8 x 4 = 32 (tấm)
Đáp số: 32 tấm huy chương
Để thực hiện được nhiều cách giải, tôi phải yêu cầu các em thật chú ý đến các
yêu cầu của đề, hiểu kĩ đề, tên đơn vị của mỗi phép tính; phải gợi ý dần dần, từng
bước để các em suy nghĩ tìm ra cách giải. Động viên kịp thời những em có ý tưởng,
cách giải hay. Phân tích, điều chỉnh lại những cách giải không phù hợp.
3.2.3.4 Rèn luyện kĩ năng tính toán, tránh nhầm lẫn khi tính toán:
24
Trong thực tế nhiều em học sinh tiếp thu hiểu đề nhanh và biết cách giải đúng,
30/32 93,8%
30/32 93,8%
31/32 96,9%
30/32 93,8%
yếu tố phải tìm
HS biết giải bài toán
Kết quả được nâng cao
24/32
/
28/32
30/32
TSHS
32
32
32
32
32
32
75%
/
87,5%
93,8%
Qua nghiên cứu, kết quả cuối cùng rất khả quan. Đó không chỉ là kết quả của