SKKN sáng kiến kinh nghiệm biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt giải toán có lời văn - Pdf 40

Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là
công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung
quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả năng giáo dục nhiều mặt của
môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có
vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,
phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có
nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt..., góp
phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó của học sinh. Trong chương trình môn
toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải
toán rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy, tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận
bài toán trước khi giải, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính
toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có
thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư
duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu
sót.
Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học
nói chung và ở lớp 3 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học
cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh. Là một giáo viên nhiều năm
trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi
kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút ra được: “Biện pháp giúp học sinh lớp
ba học tốt giải toán có lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của
nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết về mặt lý luận tại sao đa phần học sinh
yếu về kỹ năng giải toán. Tìm hiểu học sinh lớp 3 khi giải toán sẽ gặp những khó

- Bước đầu đưa ra một số biện pháp dạy học tích cực nhằm góp phần nâng cao
chất lượng giải toán có lời văn của học sinh lớp ba.
VI . Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng phương pháp sau:
- Phương pháp kinh nghiệm thực tế.
- Phương pháp tham khảo tài liệu
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh môn Toán ở
tiểu học.
VII . KẾ HOẠCH THỰC HIỆN :
Thời gian
Tháng 9 / 2011

Nội dung
- Nghiên cứu tư liệu

Biện pháp
- Đọc các tài liệu tham khảo,
chọn các biện pháp thích hợp.

- Tìm hiểu thực trạng

- Khảo sát chất lượng, trao đổi
với học sinh về giải toán có lời

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang 2


Sáng kiến kinh nghiệm

Đánh vi tính, trang trí

B- PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở khoa học
Môn toán ở tiểu học, việc giải bài toán có lời văn có một vị trí quan trọng vì :
Các khái niệm, các quy tắc về toán nói chung đều được giảng giải thông qua
ví dụ bằng số và giải các bài toán phần lớn nội dung sách giáo khoa là dành cho các
bài toán kết quả học tập môn Toán của học sinh thường được đánh giá qua kĩ năng
giải các bài toán.

iải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức,

kĩ năng về toán. Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu
điểm hoặc thiếu soát trong kiến thức, kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy
những ưu điểm, khắc phục thiếu sót.
Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp có thể giáo dục lòng yêu
nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế đời sống
phong phú, ý thức bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch. iải toán có tác
dụng giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế
hoạch, thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng
tạo, phát triển tư duy,
2. Cơ sở thực tiễn.
Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng
kiến thức, các kĩ năng thực hành. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát triển năng
lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc . Thông qua giải toán mà học sinh
rèn luyện đượcphong cách của người lao động mới: Làm việc có ý thức, có kế
hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc.
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, với lòng say mê tìm
tòi học tập cộng với sự yêu thích môn Toán đã hướng tôi đến với đề tài này. Hơn

- Bản thân giáo viên luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ .
- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập.
3. Khó khăn:
- Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó
khăn, chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng
học tập của các em.
- Do tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành của các
em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả cao.
- Về cơ sở vật chất của nhà trường: Tuy nhà trường đã có đủ phòng học nhưng thiết
bị nhà trường còn có nhiều hạn chế.
- Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang 4


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

+ Việc tìm hiểu đề bài, tóm tắt đề toán đang còn nhiều khó khăn đối với một số
học sinh trung bình và yếu của lớp 3. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa
cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp
+ Chưa biết xác định rút về một đơn vị là đơn vị nào, hai câu trả lời như nhau, còn
máy móc khi đề cho hơn là làm cộng, ít hơn là làm trừ, gấp là làm nhân, kém là làm
chia, cách tính diện tích, chu vi của hình chữ nhật và hình vuông còn lẫn lộn...
+ Một nguyên nhân khác cũng phải nói đến là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của các
em. Ở lứa tuổi này, học sinh còn ghi nhớ máy móc. Phần lớn là nghe và làm theo
mẫu của giáo viên. Vì tư duy lô-gíc của các em còn nhiều hạn chế, vốn ngôn ngữ
còn nghèo, do đó nhiều em không hiểu rõ nội dung, yêu cầu của bài toán hoặc có

như thế là có thể làm được ngay. Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với
giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con em học ở nhà, giúp các em ôn lại vững
kiến thức, làm lại thuần thục các bài tập trên lớp. Ngoài ra tôi còn tổ chức đôi bạn
học tập, gồm 01 em giỏi toán kèm 01 em yếu môn toán đồng thời duy trì thường
xuyên nề nếp truy bài đầu giờ. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm
được phương pháp giải toán.
2. Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.
Chúng ta đều biết học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đến
trường phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô. Các
em chưa có ý thức tự giác học tập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho
các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn.
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều
em chưa cao. Để giúp cho phụ huynh hướng dẫn học sinh học môn Toán ở nhà đúng
phương pháp, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về những học sinh
còn yếu môn Toán và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm
đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, dành thời gian nhắc
nhở, quan tâm cho các em học tập

.Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt

hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về
cách dạy học cho các em – Sách giáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các lệnh, yêu cầu
của sách, phụ huynh chưa rõ yêu cầu bài tập
Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt do
việc mưu sinh, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học, và do điều kiện
gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho
nhà trường. Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi tại
nhà.
3. Chuẩn bị điều kiện cho việc giải toán
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta

sinh mới thực sự hiểu được ý nghĩa của các phép tính, đồng thời học sinh mới có thể
giải được các bài toán hợp đa dạng sau này..

iải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp

dụng, mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, nắm chắc ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi
khả năng độc lập suy luận và kĩ năng tính toán thông thạo của học sinh.
Để giúp học sinh giải các bài toán đơn và các bài toán hợp ở lớp 3 có hiệu
quả, vào đầu năm học trong tuần ôn tập đầu năm, tôi chú ý ôn tập cho các em các
bước giải toán đơn đã học ở lớp một, lớp hai để làm tiền đề cho việc giải các bài
toán đơn và các bài toán hợp sau này. Tôi hướng dẫn các em nắm vững 4 bước khi
giải toán đơn như sau:
Bƣớc 1: Dạy học sinh đọc và hiểu yêu cầu đề bài
Khả năng giải toán có lời văn liên quan đến khả năng đọc hiểu, vì vậy tôi cho học
sinh đọc đề bài nhiều lần. Đầu tiên tôi hướng dẫn học sinh đọc thật chậm, thật kĩ đề
bài (từ đọc thành tiếng tới đọc thầm) gần như nhớ được các số liệu đề bài đã cho,
suy nghĩ về những điều đã cho của đề toán, chú ý tìm mối quan hệ giữa các đã cho
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang 7


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

và cái phải tìm. Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề. Ở bước này, tôi thường đưa ra
hai câu hỏi để kiểm tra việc đọc hiểu của học sinh:
- Bài toán cho biết gì ?
- Bài toán hỏi gì ?

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang 8


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

học sinh hiểu được ý nghĩa của phép tính bằng cách dựa vào điều kiện của bài toán
tóm tắt bài toán:

34 hòn bi

Hà:

8 hòn bi

Hồng:
? hòn bi

để giải thích cho học sinh rằng “Hồng nhiều hơn Hà 8 hòn bi” tức là: số hòn bi của
Hồng bằng số hòn bi của Hà, ngoài ra cò thêm 8 hòn bi nữa” . Từ đó, muốn giải bài
toán “Hà có 34 hòn bi, Hồng có nhiều hơn Hà 8 hòn bi. Hỏi Hồng có mấy hòn bi?”
cần phải thêm 8 vào 34 do đó phải dùng phép cộng: 34 + 8, để giải bài toán.
Thí dụ 2: Hà có 24 hòn bi, Hà có ít hơn Hồng 7 hòn bi. Hỏi Hồng có mấy hòn bi?
Tôi hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa của phép tính bằng cách dựa vào
điều kiện của bài toán tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
24 hòn bi
Hà:

Có một số`lít dầu đựng trong 9 can, mỗi can chứa 8l. Hỏi có tất cả bao nhiêu
lít dầu?
Học sinh chỉ chú ý đến từ chìa khoá quan trọng “tất cả” thực hiện phép tính
cộng thì hoàn toàn sai mà phải thực hiện phép tính nhân.
Bƣớc 3: Hƣớng dẫn học sinh đặt câu lời giải thích hợp
Các câu lời giải nhằm giải thích ý nghĩa cho kết quả phép tính tương ứng. Tôi
lưu ý học sinh là “nên dựa vào câu hỏi của bài toán mà đặt lời giải”. Tuỳ từng đối
tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
Thí dụ: “Lớp Ba1 có 34 học sinh, lớp Ba2 nhiều hơn lớp Ba1 2 học sinh. Hỏi
lớp Ba2 có bao nhiêu học sinh ?”
Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): tôi hướng dẫn học sinh
sửa câu hỏi của bài toán một chút bằng cách bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ “mấy”, “bao
nhiêu” thay bằng từ “số” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải:
“Lớp Ba2 có số học sinh là:”
Cách 2: Tôi hướng dẫn học sinh thay từ “mấy”, “bao nhiêu” bằng từ “số” và
bỏ đi từ “hỏi” để được câu lời giải như sau :
“Số học sinh lớp Ba2 có là:”
Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em
cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp. Trong một bài toán, học sinh có thể có
nhiều cách đặt khác nhau như 2 cách trên.
Bƣớc 4: Trình bày bài giải:
Thực hiện các phép tính theo trình tự đã thiết lập để viết bài giải. Như chúng
ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết câu lời giải, phép tính,
đáp số. Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,
đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Tôi hướng dẫn các em lại cách
trình bày một bài giải đã học ở lớp hai theo hướng dẫn, quy định.
Thí dụ: Chị đọc 38 trang sách, chị đọc em đọc 21 trang sách. Hỏi chị và em
đọc được bao nhiêu trang sách?
Tóm tắt :


Thí dụ: Khi dạy bài : “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”
Xét bài toán: “Chị có 12 cái kẹo, chị cho em

1
số kẹo đó. Hỏi chị cho em mấy
3

cái kẹo?” tôi hướng dẫn học sinh giải toán theo 4 bước và thao tác trên đồ dùng trực
quan như sau:
Bƣớc 1: Dạy học sinh đọc và hiểu yêu cầu đề bài
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải đọc nhiều lần (từ đọc thành tiếng
tới đọc thầm) tìm được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học
sinh suy nghĩ giải toán bằng cách chuyển đàm thoại : thầy hỏi, trò trả lời sang hình
thức thông qua các câu hỏi gợi ý và yêu cầu cả lớp sử dụng viết chì gạch chân cái đã
cho và cái phải tìm để đảm bảo rằng tất cả các em đều hoạt động, em nào không
thực hiện tôi nhắc nhở:
+ Bài toán cho biết gì? ( học sinh gạch chân: Chị có 12 cái kẹo)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (học sinh gạch chân: chị cho em

1
số kẹo đó)
3

+ Bài toán hỏi gì? (học sinh gạch chân: Chị cho em mấy cái kẹo? )
Ở đây, tôi hướng dẫn học sinh chú ý đến điều kiện thứ hai : chị cho em

1
số
3


12 cái kẹo
? cái kẹo

để giải thích về các điều kiện của bài toán, về ý nghĩa của phép tính, về số phải tìm
trong bài toán.
-

iáo viên : 12 cái kẹo chia thành 3 phần bằng nhau. Vậy muốn tìm

1
số kẹo thì
3

làm như thế nào ? Hãy viết phép tính vào bảng con.
- Học sinh : Lấy 12 : 3 = 4 (cái kẹo)
Bƣớc 3: Hƣớng dẫn học sinh đặt câu lời giải thích hợp
Khi học sinh viết phép tính xong, tôi yêu cầu học sinh dựa vào câu hỏi của bài
toán để viết câu lời giải của phép tính. Nhờ ôn tập, củng cố cách đặt lời giải của
phép tính, nên tất cả học sinh đều viết đúng câu lời giải:
“Chị cho em số cái kẹo là:”
Hoặc : “ Số cái kẹo chị cho em là:”
Bƣớc 4: Trình bày bài giải:
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi trình bày tóm tắt, biết cách trình bày
bài giải đúng, đẹp:
Tóm tắt:
12 cái kẹo
? cái kẹo

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A


toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán. Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề.
Ở bước này tôi thường đưa hai câu hỏi : Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi cái gì ?
Thực hiện quy trình như giải các bài toán đơn.
Bƣớc 2 : Tóm tắt đề toán
Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và cái phải tìm, cố gắng tóm tắt nội
dung bài toán bằng cách dùng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn để ghi tóm tắt các điều
kiện, hoặc minh họa các điều kiện này bằng sơ đồ, hình vẽ.
Bƣớc 3: Lập kế hoạch giải toán
Suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán, cần biết gì, phải thực hiện phép
tính gì ? Suy nghĩ xem từ các số đã cho và điều kiện của bài toán, có thể biết gì, có
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang13


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

thể tính gì, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không ? Ở bước này,
đòi hỏi học sinh cần phải có kĩ năng phân tích, tổng hợp để thiết lập trình tự giải
toán có kết quả chính xác. Đây là bước khó khăn đối với các em. Để giúp các em
thực hiện có hiệu quả bước này, tôi suy nghĩ và tìm ra cách hướng dẫn học sinh thực
hiện tốt việc lập kế hoạch giải toán ở phần ví dụ dẫn chứng.
Bƣớc 4: Thực hiện kế hoạch giải
Thực hiện các phép tính theo trình tự đã thiết lập để viết bài giải mà các em
đã được hướng dẫn, ôn tập trong giải toán đơn ở đầu năm.
Bƣớc 5: Kiểm tra lời giải, đánh giá cách giải, tìm cách giải mới (nếu có)
Sau khi làm bài xong, cần kiểm tra mỗi bước giải cần xem đã tính đúng chưa,
viết câu lời giải đã hợp lí chưa ? iải xong bài toán phải thử xem đáp số tìm ra có trả

Nếu em nào không làm việc, tôi sẽ phát hiện ngay. Tôi yêu cầu tất học sinh lấy bút
chì gạch chân cái đã cho và cái phải tìm.
Bƣớc 2: Tóm tắt đề toán
Tôi luôn chú ý đến việc hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán. Tóm tắt đề toán
có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh nhìn vào tóm tắt có hiểu được nội dung bài
toán, loại bỏ những từ ngữ không liên quan, dựa vào tóm tắt, hướng dẫn học sinh
tìm ra cách giải:
15 tấm bưu ảnh

Anh:

7 tấm bưu ảnh ? tấm bưu ảnh

Em:
Học sinh có thể vẽ hình như trên để mô tả nội dung bài toán.
Ở đây, đoạn thẳng thứ nhất chỉ số tấm bưu ảnh anh có.
Để mô tả điều kiện thứ hai ta vẽ đoạn thẳng thứ hai ngắn hơn đoạn thẳng thứ
nhất để chỉ số tấm bưu ảnh của em. Đoạn thẳng thứ nhất hơn đoạn thẳng thứ hai cho
biết em ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh.
Để mô tả câu hỏi của bài toán, ta vẽ dấu móc ôm lấy cả hai đoạn thẳng “anh”
và “em” kèm theo “dấu ?” ngụ ý phải tìm xem cả hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm
bưu ảnh ?
Tuy nhiên, không phải bài toán nào cũng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. Tùy
vào nội dung bài toán mà các em có thể tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, bằng hình vẽ
tượng trưng, bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn, với mục đích là làm sao học sinh có
thể nhìn tóm tắt mà nhắc lại đúng đề toán là được. Tùy theo trình độ học sinh thấp
hay cao mà dùng cách tóm tắt mang nhiều hay ít tính trực quan. Tôi luôn quan tâm
đến việc dựa vào tóm tắt đề toán để hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm cách giải.
Thí dụ :
Đối với bài toán “Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn em 7 tấm bưu ảnh.

thể tính gì, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không ?
Trên cơ sở đó, tôi hướng dẫn HS suy nghĩ để thiết lập trình tự giải bài toán
theo các bước như sau:
1) Bài toán hỏi gì ? (Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ?)
2) Muốn tìm cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ta làm như thế nào ?
(Lấy số tấm bưu ảnh của anh cộng với số tấm bưu ảnh của em).
3) Số tấm bưu ảnh của anh biết chưa ? (Biết rồi)
4) Số tấm bưu ảnh của em biết chưa ? (Chưa biết)
5) Muốn tìm số tấm bưu ảnh của em, ta làm thế nào ? (Lấy số tấm bưu ảnh
của anh trừ số tấm bưu ảnh của em ít hơn anh)
Tôi thường hướng dẫn học sinh diễn tả quá trình suy nghĩ trên bằng sơ đồ:
Hai anh em
Suy nghĩ

Anh + Em

iải

Anh - 7
Ở sơ đồ trên có hai dấu “bằng” viết dọc:
- Dấu “bằng” thứ nhất chỉ rõ cách tính số tấm bưu ảnh của cả hai anh em.
- Dấu “bằng” thứ hai chỉ rõ cách tính số tấm bưu ảnh của em.
Ở bước này, để khắc phục tình trạng chỉ một số em làm việc (trả lời câu hỏi
của giáo viên), tôi chú ý tổ chức cho cả lớp làm việc bằng các lệnh, yêu cầu cả lớp
thực hiện vào vở nháp, nếu em nào không thực hiện là tôi biết ngay và nhẹ nhàng
nhắc nhở các em thực hiện, còn em nào không biết, tôi hướng dẫn, giúp các em tìm
hiểu bài.
Tôi xin nêu một ví dụ khác khi hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm cách giải một
bài toán trang 80 sách giáo khoa: “Mẹ hái được 80 quả táo, chị hái được 35 quả táo.
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

học, nhưng tôi cũng thường xuyên nhắc nhở các em cách trình bày cho thật đẹp, viết
chữ rõ ràng :
Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt, sau
gần tóm tắt là trình bày bài giải. Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch chân),
câu lời giải ghi cách lề khoảng 2 ô tập, chữ ở đầu câu viết hoa, ở cuối câu có dấu hai
chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải 2 ô tập, cuối phép tính là đơn vị tính
được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp số ghi sang phần vở bên phải và dấu hai
chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa). Trong
mọi trường hợp, tôi luôn luôn phải dùng thước để gạch chân và liên tục nhắc học
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang17


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

sinh tạo cho các em bỏ thói quen xấu: gạch bằng tay.
Học sinh dựa vào bước 3, ta đi ngược từ (5) lên (1) để thực hiện các phép tính
và viết bài giải:
Bài giải
Số tấm bưu ảnh của em có là:
15 - 7 = 8 (tấm bưu ảnh)
Số tấm bưu ảnh của cả hai an hem có tất cả là:
15 + 8= 23 (tấm bưu ảnh)
Đáp số : 23 tấm bưu ảnh.
Bƣớc 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải
Bước này rất quan trọng vì bài giải thực hiện đúng phương pháp nhưng kết quả
sai vẫn không có điểm. Vì thế , tôi thường giáo dục học sinh khi làm bài xong chớ

: 80 000 bóng đèn

Lần đầu chuyển : 38 000 bóng đèn
Lần sau chuyển : 26 000 bóng đèn
Còn lại

: ? bóng đèn

Hoặc :

Có: 80 000 bóng đèn

Lần đầu: 38 000 bóng Lần sau: 26 000 bóng ? bóng đèn
bóng
Bƣớc 3: Lập kế hoạch giải toán
Tôi hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm cách giải qua thống câu hỏi và yêu cầu
cả lớp thực hiện vào nháp cách tính:
- Bài toán hỏi gì ? (Còn lại bao nhiêu bóng đèn ?)
- Muốn biết còn lại bao nhiêu bóng đèn em làm thế nào ? hãy viết cách tính vào
vở nháp!
-Học sinh viết vào vở nháp cách tính:
Còn lại
Có – chuyển 2 lần
- Số bóng đèn có biết chưa ? (biết rồi)
- Số bóng đèn đã chuyển trong hai lần biết chưa ? (chưa biết).
-Học sinh viết tiếp vào vở nháp cách tính:
chuyển 2 lần
Lần đầu + Lần sau
- Số bóng đèn chuyển ngày đầu biết chưa ? (Biết rồi).
- Số bóng đèn chuyển ngày sau biết chưa ? (Biết rồi).

Số bóng đèn còn lại là:
42 000 - 26 000 = 16 000 (bóng đèn)
Đáp số : 16 000 bóng đèn.
Nhờ thực hiện các giải pháp trên mà học sinh lớp tôi học toán có lời văn rất
tích cực, có kĩ năng phân tích đề toán, tìm lời giải đúng, trình bày bài giải đẹp, có ý
thức kiểm tra lại lời giải và kết quả của phép tính, một số em giỏi còn tìm ra cách
giải khác, chất lượng giải toán có lời văn được nâng cao:
Ví dụ 1: Với đề toán: “Một thùng đựng 24l mật ong, lấy ra

1
số lít mật ong
3

đó. Hỏi trong thùng còn lại bao nhiêu lít mật ong?”
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện ngay cách làm như sau:
Tóm tắt


:

Lấy ra:
Còn lại:

24l.

1
số lít mật ong.
3
? lít mật ong.


45 – 35 = 10 (ô tô)
Đáp số: 10 ô tô.
6. Khích lệ học sinh tạo hứng thú học tập.
Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế
chê các em trong học tập, rèn luyện . Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý
từng học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích. Đối với những em
chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả
lời hoặc lên bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dương
ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Đối với những em
học khá, giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới khen. Chính
sự khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh trong lớp đã có tác dụng
khích lệ học sinh trong học tâp.
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một yếu
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang21


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học tập, mong
muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, chắc hơn. Vì chúng ta đều
biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp ba nói riêng có trí thông minh khá
nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú. đó là tiền đề tốt cho việc phát triển
tư duy toán học nhưng các em cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng
thẳng hay quá tải. Hơn nữa cơ thể của các em còn đang trong thời kì phát triển nên
không thể ngồi lâu trong giờ học cũng như làm một việc gì đó trong một thời gian
dài. Vì vậy muốn giờ học có hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

điều kiện tốt hơn ở dạng toán khó hơn.
Đầu năm học 2011– 2012, học sinh lớp tôi chưa biết phương pháp học toán có
lời văn, có những em khi giải toán chưa có thói quen đọc kĩ đề bài, kĩ năng tóm tắt,
phân tích đề toán, chưa biết đặt câu lời giải, trình bày bày giải chưa đẹp, chưa có ý
thức kiểm tra lời giải, kết quả, chưa có thói quen tìm ra cách giải khác. Những lỗi đó
đến nay không còn nữa. Học sinh lớp tôi có thói quen đọc kĩ đề bài, tóm tắt, phân
tích đề toán, không những biết cách đặt câu lời giải hay, viết phép tính đúng mà còn
biết cách trình bày bài giải đúng, đẹp có ý thức kiểm tra lời giải, kết quả, có thói
quen tìm ra cách giải khác.. Những kết quả mà các em đạt được sau những lần thi do
nhà trường, Phòng iáo dục, Sở iáo dục ra đề đã cho thấy công sức tôi bỏ ra đã có
kết quả nhất định với kết quả như sau:
THỜI GIAN

Giỏi

Khá

Trung bình

ếu

GIỮA KÌ I

18


còn với tỉ lệ khá nhỏ, số học sinh khá giỏi tăng. So với năm học trước thì kết quả
trên thật là một điều đáng mừng. Điều đó cho thấy những cố gắng trong đổi mới
phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan. Ban giám hiệu trường khi dự
giờ lớp tôi cũng đã công nhận lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc. Đó chính là
động lực để tôi tiếp tục theo đuổi ý tưởng của mình.
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn tiếp
tục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở mức độ cao hơn.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua những vướng mắc thực tế, cùng với lòng say mê, nhiệt tình nghiên cứu
và áp dụng thực tế vào lớp học do tôi chủ nhiệm đã giúp tôi hoàn thành ý tưởng của
mình. Mỗi lần thực hiện, vận dụng vào thực tế lớp học tôi lại rút ra được một vài
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang23


Sáng kiến kinh nghiệm

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

kinh nghiệm sau:
- Người giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp, với
lương tâm trách nhiệm của người thầy.
- Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vướng mắc, khó
khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết tốt nhất.
- Mỗi biện pháp giáo dục của giáo viên phải được thực hiện đúng thời điểm,
đúng nội dung ở từng bài học.
- Không nên quá phụ thuộc vào sách giáo viên, vì sách giáo viên chỉ là tài liệu
hướng dẫn, tham khảo, không thể áp dụng đại trà với mọi đối tượng học sinh trong
lớp được.

Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn

để tôi hoàn thiện mình hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán.
Xin chân thành cảm ơn!
Mỹ Tho, ngày 12 tháng 3 năm 2012
Người viết

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A

Trang25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status