ĐÁNH GIÁ CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA NHẬT BẢN NHẰM
THU HÚT KHÁCH DU LỊCH SAU THẢM HỌA ĐỘNG ĐẤT SÓNG
THẦN (3-2011) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11-3-2011, thảm họa kép tại Nhật Bản trận động đất mạnh 8,9 độ
richter đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người. Ngay sau đó là thảm
họa nổ nhà máy điện hạt nhân tại Fukushima làm rò rỉ phóng xạ, gây nhiễm
phóng xạ tại những vùng lân cận đặc biệt là khu vực trong vòng bán kính 30km
xung quanh nhà máy điện hạt nhân. Trong báo cáo công bố ngày 25-5-2011,
chính phủ Nhật Bản ước tính thiệt hại sau thảm họa động đất và sóng thần hôm
11-3 vào khoảng 16.900 tỷ yen, tương đương với gần 210 tỷ USD, chưa bao
gồm thiệt hại do sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I.
Chỉ trong vài phút, thảm họa kép đã cướp đi 3,5 GDP của Nhật Bản. Tuy
nhiên, đó mới chỉ là những thiệt hại trước mắt, hậu quả của thảm họa kép này
còn ảnh hưởng lâu dài đối với nền kinh tế nói chung và nhiều ngành kinh tế mũi
nhọn của Nhật Bản nói riêng. Một trong những ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng
nề do thảm họa động đất sóng thần và nổ nhà máy điện hạt nhân đó là ngành du
lịch Nhật Bản.
Sau khi xảy ra sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, các hãng
thông tấn, báo chí trên thế giới đồng loạt đưa tin, bám sát diễn biến của sự kiện.
Những thông tin về rò rỉ phóng xạ, tình trạng nhiễm phóng xạ tại một số khu
vực hay phát hiện thực phẩm xuất xứ từ Nhật Bản bị nhiễm phóng xạ xuất hiện
dồn dập trên mặt báo. Tại thời điểm đó, báo chí còn liệt kê một loạt những danh
sách các loại thực phẩm của Nhật Bản bị nhiễm phóng xạ. Điều này đã làm dấy
lên những lo ngại và sự hoang mang của cả người dân Nhật Bản và người nước
1
ngoài về nguy cơ bị nhiễm phóng xạ. Và hệ quả là lượng khách du lịch đặc biệt
cho hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam đối với khách du lịch, đặc biệt là
khách du lịch quốc tế. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá chiến dịch
truyền thông của Nhật Bản nhằm thu hút khách du lịch sau thảm họa động đất
sóng thần (3-2011) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thảm họa động đất sóng thần tại Nhật Bản xảy ra chưa đầy một năm, vì
vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về chiến dịch truyền thông
của Nhật Bản nhằm thu hút khách du lịch trở lại sau thảm họa kép. Nhiều tờ báo
có đề cập đến một số hoạt động đơn lẻ nằm trong chiến dịch truyền thông của
Nhật Bản hoặc phản ánh tình hình Nhật Bản sau thảm họa. Tuy nhiên, chỉ dừng
lại ở mức độ thông tin, chưa có nhiều phân tích đánh giá chuyên sâu.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu chiến dịch truyền thông thu hút khách du lịch
của Nhật Bản sau thảm họa động đất sóng thần thông qua các hoạt động quảng
bá cụ thể của chính phủ Nhật Bản nói chung và các công ty lữ hành trong và
ngoài nước nói riêng nhằm thu hút khách du lịch trở lại Nhật Bản. Ngoài ra tác
giả cũng tiến hành nghiên cứu tình hình quảng bá du lịch của Việt Nam.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Thông qua việc nghiên cứu chiến dịch truyền thông của chính phủ
Nhật Bản nhằm thu hút khách du lịch quay trở lại sau thảm họa động đất sóng
thần, tác giả muốn đưa ra một số giải pháp, định hướng trong công tác tuyên
truyền, quảng bá cho du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành, đề tài
có thể làm cơ sở nghiên cứu điển hình về công tác khôi phục hình ảnh và thương
hiệu quốc gia nhằm thu hút khách quốc tế quay trở lại sau thảm họa, thiên tai.
Nhiệm vụ: - Làm rõ lý thuyết cơ bản về truyền thông, chiến dịch truyền thông,
cách thức lập và thực hiện một chiến dịch truyền thông.
3
phương pháp duy vật lịch sử. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp lịch
sử, logic, phân tích, so sánh, tổng hợp những tài liệu thu thập được để có thể
đánh giá được chính xác hiệu quả của chiến dịch truyền thông của Nhật Bản
nhằm thu hút khách du lịch quay trở lại sau thảm họa động đất sóng thần.
7. Những đóng góp mới và ý nghĩa về khoa học, thực tiễn
Đóng góp mới: Đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò quan trọng của hoạt động
truyền thông trong việc quảng bá du lịch đặc biệt là sau thảm họa thiên tai. Đưa
ra một cái nhìn tổng thể trong đó đánh giá những ưu điểm và hạn chế về chiến
dịch truyền thông của Nhật Bản nhằm thu hút khách du lịch quốc tế quay trở lại
sau thảm họa động đất sóng thần.
Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn: Đề tài sẽ là cơ sở nghiên cứu, tài liệu tham
khảo và học tập về công tác truyền thông quảng bá du lịch sau thảm họa động
đất sóng thần nói riêng của Nhật Bản và công tác quảng bá du lịch nói chung.
Thông qua việc phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của chiến dịch
truyền thông của Nhật Bản nhằm thu hút khác du lịch tác giả sẽ rút ra bài học
kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tuyên truyền,
quảng bá du lịch Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.
8. Kết cấu
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm có 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác truyền thông nhằm quảng bá
du lịch
1.1.
Một số khái niệm
1.2.
Vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du lịch
5
1.2.
Vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du lịch
1.2.1. Vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du lịch nói chung
Đánh giá vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du lịch thông qua
việc: nêu bật sự song hành của truyền thông cùng với ngành du lịch, truyền thông là
hoạt động không thể thiếu trong công tác quảng bá của ngành du lịch, muốn khách du
lịch đến với các danh lam thắng cảnh, đến khám phá đất nước, con người và nền văn
hóa, lịch sử dân tộc của mỗi quốc gia không còn cách nào khác là phải tìm cách giúp
họ biết đến, thấy hứng thú, tò mò và mong muốn khám phá. Truyền thông là yếu tố
quyết định giúp mỗi quốc gia đạt được điều nói trên.
Ngoài ra, có thể khẳng định vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du
lịch thông qua việc viện dẫn những thành tựu mà một số quốc gia đã đạt được nhờ làm
truyền thông tốt.
1.2.2. Vai trò của truyền thông trong công tác quảng bá du lịch sau thảm họa
Truyền thông quảng bá du lịch trong điều kiện hoàn cảnh bình thường đã cần
thiết, truyền thông quảng bá du lịch sau thảm họa lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Khi đó, ngành du lịch của các quốc gia không chỉ chịu thiệt hại về vật chất, mà quan
trọng là thảm họa gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ cho khách du lịch.
Trong phần này, tác giả sẽ nêu bật vai trò của truyền thông trong công tác
quảng bá du lịch sau thảm họa.
7
Chương 2: CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG CỦA NHẬT BẢN NHẰM THU
HÚT KHÁCH DU LỊCH SAU THẢM HỌA ĐỘNG ĐẤT SÓNG THẦN
2.1. Tổng quan về ngành du lịch Nhật Bản
2.1.1. Đường lối, chính sách phát triển ngành du lịch của chính phủ Nhật Bản
trong những năm gần đây
chính phủ Nhật Bản, của các công ty lữ hành trong và ngoài nước.
Một số hoạt động cụ thể như:
- Mời các phóng viên nhà báo từ các nước trên thế giới đến Nhật Bản
tham quan và viết bài phản ánh về thực tế Nhật Bản sau động đất sóng
thần không đến mức đáng lo ngại như nhiều người vẫn nghĩ.
- Tổ chức chuyến du lịch tham quan cho các đại sứ nước ngoài tại Nhật
Bản cũng như người thân của họ đến các địa điểm, danh thắng nổi tiếng
của Nhật Bản. Thông qua đó, có cái nhìn đúng về thực tế tại Nhật Bản, trở
thành kênh truyền thông quan trọng đến với nhân dân các nước.
- Chọn một ban nhạc nổi tiếng tại Nhật làm đại sứ du lịch…
- Tổ chức hội chợ du lịch
2.3.3. Đánh giá hiệu quả của chiến dịch truyền thông của chính phủ Nhật Bản
nhằm thu hút khách du lịch sau thảm họa động đất sóng thần
9
Đánh giá thông qua chất lượng và số lượng các bài báo viết về du lịch Nhật
Bản sau động đất sóng thần. Đánh giá thông qua số lượng khách du lịch đến Nhật
Bản, số nước dỡ bỏ lệnh cấm, khuyến cáo người dân không đến Nhật Bản.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM ĐẾN BẠN
BÈ QUỐC TẾ
3.1. Đường lối, chính sách quang trọng nhằm thúc đẩy hoạt động quảng bá
du lịch của nước ta từ năm 2005
Nêu bật những chỉ đạo, thay đổi cơ bản trong công tác tuyên truyền quảng
bá du lịch Việt Nam. Ví dụ như các lần lựa chọn, đổi tên khẩu hiệu cho du lịch
Việt Nam
3.2. Thực trạng hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam đối với
khách quốc tế