Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã pắc ngà huyện bắc yên tỉnh sơn la - Pdf 34

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
========o0o========

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên đề: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
xã Pắc Ngà - huyện Bắc Yên - tỉnh Sơn La”

Họ và tên: Hà Văn Toàn
Lớp: Cao Đẳng Quản Lý Đất Đai K47
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Khoa: Nông Lâm
Giáo viên hƣớng dẫn: KS. Phạm Thị Hƣờng

SƠN LA, Tháng 4-2013
0


LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo
KS.Phạm Thị Hường, giảng viên Khoa nông Lâm - Trường Cao đẳng Sơn La
đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
chuyên đề.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy cô giáo trong khoa Nông
Lâm - Trường Cao đẳng Sơn La đã dạy bảo, chân thành đống góp ý kiến giúp
tôi hoàn thành chuyên đề này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên của UBND xã Pắc
Ngà đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực tập tại địa
phương.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn trong lớp Quản Lý Đất Đai K47
Trường Cao Đẳng Sơn La đã giúp đỡ tôi trong lúc tôi đi thực tập.

gia và của từng địa phương.
Xã Pắc Ngà là xã vùng III của huyện Bắc Yên, nằm cách trung tâm
huyện Bắc Yên khoảng 70 km về phía Tây Bắc và dân số (năm 2012) là 5.620
người, địa hình chủ yếu là đồi, núi, đường xã đi lại khó khăn trong mùa mưa do
còn nhiều tuyến đường đất, kinh tế còn kém phát triển chủ yếu làm nông
nghiệp. Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp còn chưa được sử dụng hiệu quả,
việc sản xuất còn nhỏ lẻ và manh mún.
Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng
mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả
cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất
và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của xã Pắc Ngà là vấn đề có tính
chiến lược và cấp thiết.


Trước tình hình đó xã Pắc Ngà cần đánh giá quỹ đất nông nghiệp hiện có
và định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nông nghiệp nhằm hướng
tới sự phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Bộ môn Quản lý đất đai Khoa Nông Lâm - Trường Cao Đẳng Sư Phạm Sơn La cùng với sự hướng dẫn
của KS. Phạm Thị Hường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử
dụng đất nông nghiệp xã Pắc Ngà - huyện Bắc Yên - tỉnh Sơn La’’
1.2. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn xã Pắc Ngà. Đồng thời là cơ sở định hướng phát triển sản
xuất nông nghiệp trong tương lai.
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự
phát triển sản xuất nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của người dân.
- Góp phần nâng cao hoạt động của công tác quản lý đất đai của xã.
1.3. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp góp phần giúp người dân lựa
chọn loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện cụ thể của xã.

thể lựa chọn những nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy
sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong
nền kinh tế quốc dân.
Theo bản báo cáo của tổ chức ngân hàng thế giới World Bank, hàng năm
mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200
triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 - 7 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản
xuất, bị xói mòn. Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất
canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý.


Theo số liệu thống kê năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là
331.150,4 km2, dân số là 86.210,8 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2,
trong đó đất nông nghiệp là 24.997 nghìn ha, đất sản xuất nông nghiệp cả
nước 9.420 nghìn ha.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình hình
hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một
trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực
sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có
sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức
ép từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã
khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp
nhiều khó khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ
chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%,
châu Đại Dương chiếm 6%. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên
toàn thế giới là 12000 m2. Trong đó ở Mỹ 2000 m2, ở Bungari 7000 m2, ở Nhật
Bản 650 m2. Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình
quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha;
Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha.Ngày

Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi
trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại
và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong
điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi
phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng
phân bón.
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới, cho thấy gần 20% diện tích đất
đai châu á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt động
sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Quá
trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói
mòn và suy kiệt dinh dưỡng.
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt
đới châu á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường
của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập
trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết
các hệ sinh thái đều bị suy giảm. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự


thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản
phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống.
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du
miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg. Để đảm bảo đủ dinh
dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung
thường xuyên. Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử
dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện
tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh
dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế
kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây
ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con

* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi
quỹ đất chỉ có hạn. Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai
thác với nhiều mục đích khác nhau. Chính vì vậy một phần lớn diện tích đất
nông nghiệp đang được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác. Do đó,
cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp ở nước
ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương
thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất
khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh
thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ
bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất
đai. Chính vì vậy, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “ đầy
đủ, hợp lý và hiệu quả”, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng
vùng.
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ
này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông
nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy
giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh. Vấn đề nông nghiệp bền
vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan
tâm. Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền vững.
Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên 4 quan điểm sau:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất;
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;


- Có hiệu quả lâu bền và được xã hội chấp nhận.
Bốn nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững. Nếu sử



lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng
thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản
phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính
chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con
người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao
nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà
phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả.
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng
đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động
kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền. Đồng thời
về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động
kinh tế để khai thác sử dụng đất. Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu
quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp
phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được,
nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất
khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước.
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các
nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các

phần giá trị của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần
so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lƣợng
của cải vật chất nhiều nhất với một lƣợng chi phí về vật chất và lao động thấp
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội".


2.2.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
hội và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ
mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất. Theo Nguyễn Duy Tính,
hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập
của nhân dân... Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát
huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân. Sử dụng
đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất
bền vững hơn.
2.2.1.3. Hiệu quả môi trƣờng
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải
bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ
môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài.
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và
theo chiều hướng khác nhau. Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính,
tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các
hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ
tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.

- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm
cho môi trường cùng phát triển. Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi
trường xung quanh.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Vì vậy,
khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác
động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc
làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
2.2.2.2. Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần
phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:


+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ
thống. Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so
sánh có thang bậc.
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản
biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm
và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm
cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối
ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và
phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
2.2.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).

+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.3.1.Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Cây trồng là tài nguyên sinh vật, là tài nguyên sống nên sự sống của nó
gắn liền với điều kiện môi trường, bởi vì môi trường cung cấp cho cây trồng
các yếu tố sinh trưởng cấn thiết cho quá trình sinh trưởng phát triển, mỗi loại
cây trồng chỉ có thể sống và cho năng suất trong điều kiện khí hậu và đất trồng
nhất định, các vùng có điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau sẽ cho năng suất và
sản lượng cây trồng khác nhau.
- Khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa,...): Việc đầu tư lựa chọn cơ cấu
cây trồng đòi hỏi người nông dân phải am hiểu sâu sắc về tình hình đất đai, khí
hậu, thời tiết của vùng mình, địa phương mình để bố trí cây trồng hợp lý nhằm
tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên đồng thời tránh được những


thiệt hại mà thiên tai gây ra.
Cây trồng khác nhau yêu cầu về cường độ ánh sáng cũng khác nhau,
trong quá trình sống của cây trồng hàng năm cường độ ánh sáng tới ảnh hưởng
có quan hệ thuận với năng suất cây trồng ở giai đoạn cuối khoảng 45 - 60 ngày
trước khi thu hoạch cây trồng.
Cây trồng sống trong điều kiện nhiệt độ khác nhau đã thích nghi với
nhiệt độ khác nhau.
Nước là yếu tố sinh trưởng quan trọng của cây trồng, nước vừa tham gia
cấu trúc nên cơ thể thực vật vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các hoạt động
sinh lý trong cây cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cho nên nước
được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất quyết định năng suất cây trồng.
- Đất (loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, chua mặn,...): Có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, các yếu tố của đất
đai là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối, do vậy cần đánh giá đúng điều
kiện đất đai để trên cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp, tuỳ theo vị trí địa

khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp tạo điều kiện cho các chủ thể sử
dụng ruộng đất phát huy năng lực, lựa chọn các hướng đầu tư có hiệu quả, đồng
thời hạn chế được rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Ngoài ra, những kinh nghiệm tập quán sản xuất nông nghiệp và trình độ dân
trí của nhân dân cũng có tác động đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp.
- Nhà nước đưa ra các chính sách để khuyến khích nông nghiệp phát
triển như: Luật đất đai, chính sách trợ giá nông nghiệp để giúp nông dân khi
nông phẩm biến động, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn theo
hướng đa dạng hoá sản phẩm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá đa
canh kết hợp với việc phát triển dịch vụ và công nghiệp nông thôn nhằm tạo
việc làm cho người dân.
2.4. Những xu hƣớng sử dụng đất nông nghiệp
2.4.1. Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật, trên con đường phát triển nông nghiệp mỗi nước
đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề
chung sau:
+ Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong
nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
+ Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình
phát triển nông nghiệp. Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động


chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản
lý và tổ chức;
+ Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường.
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông
nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Nông nghiệp công nghiệp hoá:
Sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của công nghiệp, sử dụng nhiều vật
tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt

hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển của
Châu á, Mỹ La Tinh và đem lại những bước phát triển lớn vào thập niên 60.
Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các giống cây
lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô...), xây dựng hệ thống
thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học. “Cách mạng xanh” dựa vào một số
yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và thành tựu của công nghiệp.
- “Cách mạng trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia
súc có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc
tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi
mang ít nhiều tính chất công nghiệp. Cuộc cách mạng này đã tạo được những
bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối
quan hệ chặt chẽ với “cách mạng xanh”.
- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa nông
dân với ruộng đất. Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai,
khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông
nghiệp.
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó
khăn trước mắt mà chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp
lâu dài và bền vững.
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu
đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp
đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ. Bởi vì, tính
phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết
và những xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng. Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc
phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt
hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các


giải pháp phù hợp, khoa học. Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là

thị nông sản hàng hoá.


Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ
chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra
trên toàn cầu.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát
mỗi năm nước ta mất ít nhất 70 – 80 ngàn hecta đất nông nghiệp cho các khu
công nghiệp, sân golf, các nhà máy…. Trước tình hình đó Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định 391/QĐ-TTG ngày 18/4/2008 về việc rà soát, kiểm tra
thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch và sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010
trên địa bàn cả nước, trong đó rà soát, kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy
hoạch, kế hoạch, sử dụng đất nông nghiệp 5 năm 2006 - 2010 nói chung và đất
trồng lúa nước nói riêng. Và mới đây nhất trong trong Hội nghị TW7 (khai mạc
tại Hà Nội ngày 9/7/2008) đã đề cập nhiều vấn đề, trong đó có một nội dung rất
quan trọng là “vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn” (thƣờng đƣợc gọi
là "tam nông"). Đây được coi là “đại vấn đề” mà việc xử lý đúng sai sẽ trực
tiếp quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước theo định hướng XHCN.
2.4.3. Xây dựng nền nông nghiệp bền vững
2.4.3.1. Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự
tồn tại và tương lai phát triển của loài người. Chính vì vậy việc nghiên cứu và
đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa
học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững”
(Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay.
Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu
khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của
FAO, 1992: “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự

trong điều kiện thiên nhiên ở nước ta. Gần đây, những mô hình sử dụng đất như
VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là
những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất
lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển.
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản
là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền. Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của
nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi
nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển.
2.4.3.2. Định hƣớng phát triển nền nông nghiệp bền vững
Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế,


xã hội và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong
Bản dự thảo Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong
những năm tới như sau:
Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: Tăng
trưởng kinh tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và
phát triển nông nghiệp bền vững. Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo phân
tích của các chuyên gia, hiện có không ít thách thức là suất đầu tư cao đòi hỏi
nguồn vốn đầu tư lớn; mức độ chế biến thấp dẫn đến tiêu tốn tài nguyên; sự
biến động giá cả trên thị trường thế giới; nguồn nợ nước ngoài ngày càng lớn...
Đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, cần đặc biệt trú
trọng những giải pháp liên quan đến hoàn thiện luật pháp và chính sách phát
triển bền vững, quy hoạch phát triển nông thôn, cơ cấu lại kinh tế nông thôn
theo hướng đẩy mạnh các ngành phi nông nghiệp, hỗ trợ ứng dụng công nghệ
mới, công nghệ sinh học, thúc đẩy công nghệ chế biến nông sản...
Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền
vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn
chế tăng dân số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục;
cải thiện y tế và vệ sinh môi trường. Đối với mỗi vấn đề này, phải có những

con người cả về 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường nhất thiết phải giải quyết
những xung đột này để sử dụng đất có hiệu quả. Việc sử dụng đất như một thể
thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử
dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và nâng cao
chất lượng môi trường. Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục
tiêu kinh tế - xã hội và môi trường.
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá.
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước
cho đô thị và phát triển công nghiệp.
- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh
thái ven biển.
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một
số địa phương.
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư.
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông
sản khác.


Trích đoạn Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp Quan điểm phát triển nông nghiệp xã Pắc Ngà Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status