Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh sơn la - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay cả thế giới đang tồn tại và phát triển trong sự tương quan và
cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, việc hiểu biết ngôn ngữ của
nhau là bước đầu tiên và cần thiết để xây dựng và phát triển các mối quan hệ.
Việc học ngoại ngữ luôn được quan tâm khuyến khích ở mỗi quốc gia. Nhu
cầu học ngoại ngữ ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Trước những yêu cầu đổi mới của sự phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa với chủ trương đa phương hóa trong
quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, ngoại ngữ càng trở nên cần thiết.
Ngoại ngữ có nhiệm vụ góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối, phương
châm giáo dục của Đảng, vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ
thông. Trong Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 về việc
phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai
đoạn 2008 - 2020" của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ mục tiêu: Đổi mới toàn diện
việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân, triển khai chương trình
dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015
đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn
nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên
Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực sử dụng
ngoại ngữ độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội
nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người
dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. [29]
Đổi mới công tác quản lý trong HĐDH nói chung và quản lý hoạt động
dạy học ngoại ngữ nói riêng là yếu tố quan trọng, mang tính chủ động của ngành
GD-ĐT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nói đến nhà trường là nói đến
dạy và học. Quản lý nhà trường thực tế là quản lý hoạt động dạy và học. Đó là
hoạt động chủ đạo, là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Trước yêu cầu của đổi

-1-


-2-


Hoạt động quản lý dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La.
4. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về khách thể khảo sát:
- Trưởng, phó bộ môn trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL.
- GV ngoại ngữ trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL.
- HSSV trường CĐSL, trường ĐHTB, trường CĐYTSL.
5. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ,
ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện nay đã đạt được những kết quả nhất định,
tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù
hợp thì hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở
các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La sẽ được nâng cao.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về dạy học ngoại ngữ và quản
lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở trường CĐ, ĐH.
6.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ
môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La.
6.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ
môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu về lý luận có liên quan đến quản lý dạy
học ngoại ngữ.


-4-


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ
CỦA TRƢỞNG BỘ MÔN Ở ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng dạy học và hiệu quả
đào tạo là vấn đề quan trọng, rất cần được sự quan tâm. Về vấn đề này các
nhà nghiên cứu ở các vị trí, góc độ khác nhau đã tìm ra nhiều các biện pháp
quản lý dạy học hiệu quả phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
Có nhiều công trình nghiên cứu được viết dưới dạng bài báo, sách tham
khảo, giáo trình. Phạm Phương Luyện - Hoàng Xuân Hoà (1999) với "Bồi
dưỡng phương pháp giảng dạy Tiếng Anh", Nhà xuất bản giáo dục. Đỗ Thị
Châu (2001) với "Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên ngoại ngữ trong sự
nghiệp CNH – HĐH" đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Đại học
ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội. Bùi Hiền (1999) với "Phương pháp hiện đại dạy
- học ngoại ngữ", NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
Và một số đề tài nghiên cứu về quản lý HĐDH, quản lý HĐDH ngoại
ngữ như:
- Đề tài "Biện pháp tăng cường quản lý HĐDH ở trường THPT chuyên
Nguyễn Huệ tỉnh Hà Tây" của tác giả Nguyễn Thị Hảo.
- Đề tài "Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ
tiếng Anh cho GV Quốc phòng" của tác giả Võ Minh Thuý, luận văn thạc sỹ
Khoa học Giáo dục, năm 2008.
- Đề tài "Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh tại
trường ĐH Điện lực" của tác giả Trần Thị Bích Hải, luận văn thạc sỹ Khoa
học Giáo dục, năm 2008.

khác trong nhà trường. Do đó nó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để
giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức của loài người.

-6-


HĐDH làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ
thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và
đời sống. Hoạt động này làm cho phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình
thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình
thành ở người học thế giới quan khoa học, lòng yêu quê hương đất nước, yêu
chủ nghĩa xã hội, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng
hoạt động của học sinh.
HĐDH được thực hiện thông qua các thành tố: mục tiêu dạy học; nội
dung dạy học; PPGD; phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy học; kết
quả dạy học.
HĐDH luôn bị chi phối bởi các yếu tố môi trường. Các thành tố cấu
trúc của HĐDH quan hệ tương tác lẫn nhau, bổ sung, phối hợp với nhau trong
tác động của môi trường tự nhiên và xã hội. Việc tác động tốt vào mối quan
hệ đó là cơ sở và điều kiện để làm tăng hiệu quả của HĐDH, nâng cao chất
lượng giáo dục. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của HĐDH được phản
ánh trong quá trình dạy học, với vai trò điều khiển của thầy và tự điều khiển
của trò.
Có thể nói HĐDH trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của
nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt
động giáo dục khác trong nhà trường.
1.2.2. Hoạt động dạy học ngoại ngữ
Dạy học NN góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức cho người
học, góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho người học. Ngoài ra nó còn
trang bị cho người học một công cụ giao tiếp mới, mà công cụ giao tiếp là bản

học. Mục tiêu dạy học NN ở các trường CĐ - ĐH là hình thành, bổ sung và
phát triển ở SV những kiến thức, kỹ năng cơ bản về NN được học, góp phần
phát triển trí tuệ cần thiết để có thể tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động. Phương pháp dạy học NN ở trình độ CĐ, ĐH là bồi dưỡng ý thức tự
giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu ... Sau khi hoàn thành
chương trình, SV phải sử dụng NN được học thể hiện bằng việc nghe, nói,

-8-


đọc và viết các tài liệu chuyên ngành, giao tiếp thông thường, góp phần hỗ trợ
cho việc học tập, nghiên cứu sau này.
1.2.4. Bản chất và mục đích của quá trình dạy học ngoại ngữ
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào
hội nhập với khu vực và quốc tế. Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập
và phát triển thì NN là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc
lực và hữu hiệu. Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho
mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới ngày nay, chúng ta phải đặc biệt
quan tâm đến việc dạy và học NN trong nhà trường.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ
đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học NN trong hệ thống giáo dục
quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số
43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học NN ở các trường ĐH,
trung học chuyên nghiệp và các trường phổ thông.
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 251TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học NN trong các trường phổ
thông.
Điều 40 luật giáo dục (2005) cũng khẳng định vị trí quan trọng của NN
trong nội dung học vấn CĐ và ĐH.

hướng của QL hiện đại, nên QL còn được xem là công nghệ, công nghệ điều
hành, phối hợp, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) và thông tin
của một tổ chức để đưa tổ chức đạt tới mục tiêu.
Quản lý là một thuộc tính lịch sử của mọi quá trình lao động. Nó là
một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, C.Mác đã nói: "Bất cứ lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá
lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân.
Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát

- 10 -


sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những
vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó.
Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần
phải có một nhạc trưởng". [26;19]
Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu về quản lý:
Theo Afanaxev: "Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta,
sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu
của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy
sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân". [1;27]
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Hei Weihrich cho rằng: "Quản lý là
hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu
quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất mà
đạt được kết quả cao nhất". [17;33]
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: "Hoạt động quản lý là sự tác động
qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con
đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của
các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu
nhất định của tập thể và xã hội". [11;55 ]

QL

Phƣơng pháp
QL

Bốn chức năng cơ bản của QL là:
Chức năng hoạch định: Vạch ra mục tiêu cho bộ máy; xác định các
bước đi để đạt mục tiêu; xác định các nguồn lực và các biện pháp để đạt tới
mục tiêu.
Chức năng tổ chức:
- Tổ chức bộ máy: Sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu
và các nhiệm vụ đảm nhận.
- Tổ chức công việc: Sắp xếp công việc hợp lý, phân công phân nhiệm
rõ ràng để mọi người hướng vào mục tiêu chung.
Chức năng điều hành (chỉ đạo): Tác động đến con người bằng các
mệnh lệnh, làm cho người dưới quyền phục tùng và làm đúng với kế hoạch,

- 12 -


đúng với nhiệm vụ được phân công. Tạo động lực để con người tích cực hoạt
động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng kể cả trách phạt.
Chức năng kiểm tra: Là thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạt
động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời các sai sót, lệch lạc để bộ máy đạt
được mục tiêu.[31]
1.3.2. Quản lý hoạt động dạy học
1.3.2.1. Quản lý hoạt động dạy học
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của
nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều
hướng vào hoạt động trung tâm đó. Vì vậy, trọng tâm của việc quản lý trường

xã hội. Trong quá trình hoạt động của mình, để đạt được những mục tiêu, cá
nhân phải có biện pháp như là dự kiến kế hoạch, sắp xếp tiến trình, tiến hành
và tác động lên các đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Hay
nói cách khác, đây chính là các biện pháp quản lý giúp con người đạt được
mục tiêu đã định. Trong quá trình lao động tập thể lại càng không thể thiếu
được các biện pháp quản lý, chẳng hạn như: xây dựng kế họach hoạt động, sự
phân công điều hành chung, sự hợp tác và tổ chức công việc, các tư liệu lao
động
Có nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp quản lý, theo F.W. Taylor:
"Biện pháp quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt
mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý".
* Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học là các phương pháp hoặc nhóm
các phương pháp của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm
đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra. Các biện pháp phải làm cho sinh viên
chủ động, tích cực, tự giác trong học tập và nghiên cứu, kết hợp tự học và
nghiên cứu khoa học nhằm lĩnh hội và làm chủ tri thức của mình. Biện pháp
quản lý hoạt động dạy học cần phải cụ thể, được sử dụng linh hoạt tuỳ thuộc

- 14 -


vào các hoàn cảnh, đối tượng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong
quản lý.
1.3.3. Quản lý HĐDH ngoại ngữ của TBM ở trƣờng CĐ, ĐH
1.3.3.1. Chức năng nhiệm vụ của trưởng bộ môn ở trường CĐ, ĐH
Trưởng bộ môn do Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm trên cơ sở thăm
dò ý kiến của các thành viên trong khoa, trong tổ bộ môn. TBM là người đứng
đầu tổ chuyên môn, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của trưởng khoa. TBM có trách

đào tạo các môn học/học phần do bộ môn quản lý.
- Quản lý nhân sự bộ môn theo đúng những qui định của Luật lao động
Việt Nam, qui chế tổ chức và hoạt động của trường.
- Quản lý cơ sở vật chất mà bộ môn được ủy quyền quản lý.
1.3.3.2. Nội dung QL HĐDH ngoại ngữ của TBM ở trường CĐ, ĐH
* Quản lý hoạt động giảng dạy ngoại ngữ của giảng viên
Trong các trường CĐ-ĐH, việc QL hoạt động dạy NN của GV được
thực hiện qua hai nội dung cơ bản đó là: QL hoạt động giảng dạy trên lớp và
QL hồ sơ chuyên môn của GV. Trưởng bộ môn quản lý hoạt động giảng dạy
của GV bao gồm:
- Quản lý việc xây dựng đề cương chi tiết môn học
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV
- Quản lý nền nếp lên lớp giảng dạy lý thuyết và thực hành của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến PPGD
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng, NCKH của GV
* Quản lý hoạt động học ngoại ngữ của SV

- 16 -


Hoạt động học tập của SV là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạt
động dạy của GV. Quản lý hoạt động học tập của SV là QL việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV. SV có những
đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, quá trình rèn luyện, học tập,
cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau. Việc QL hoạt động học tập của
SV phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao. Nội
dung cơ bản của nó bao gồm:

tự học, thư viện, tài liệu, sách giáo khoa và các trang thiết bị cho SV tự học
NN như đài cát xét, đầu video, băng hình, đầu đĩa hình, các chương trình phần
mềm dạy NN.
Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là nội dung
trực tiếp của quản lý hoạt động dạy - học NN nhưng nó cũng có ảnh hưởng
đến hoạt động dạy - học NN, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý cần quan tâm
đến.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng
nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý có ở tất cả mọi nơi, mọi lúc
và trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Quản lý đúng tức là con
người đó nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được
những thành công to lớn.
Muốn nâng cao chất lượng dạy và học nhằm đào tạo thế hệ trẻ đủ sức
đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước, tiến kịp các nước tiên tiến trên thế
giới đòi hỏi người cán bộ QL phải có những biện pháp QL hoạt động chuyên
môn thực sự phù hợp với thực tế trường mình, đơn vị mình QL và tổ chức
thực hiện các biện pháp đó một cách có hiệu quả cao.
Dạy và học là hoạt động trọng tâm của nhà trường được diễn ra thường
xuyên, hàng ngày. Nắm vững lý luận về quản lý HĐDH nói chung và quản lý

- 18 -


HĐDH ngoại ngữ nói riêng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, đánh giá
thực trạng đơn vị mình một cách chính xác.
Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản đó cho phép đề tài rút ra
các nội dung quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các
trường (đây cũng chính là nội hàm khái niệm công cụ trong đề tài) bao gồm 3
nội dung lớn như sau:

thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp
II Tây Bắc.
Đến tháng 10/1972 nhà trường chính thức được Bộ giáo dục ra quyết
định nâng cấp thành Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc, đánh dấu bước
phát triển vượt bậc của nhà trường trong giai đoạn mới.
Ngày 6/4/1981 Hội đồng chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP nâng
cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường cao đẳng Sư phạm
Tây Bắc.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ cao cho
các tỉnh Tây Bắc, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH, ngày 23/3/2001 Thủ tướng
Chính phủ đã ra quyết định số 39/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Trường
ĐHTB trên cơ sở Trường cao đẳng Sư phạm Tây Bắc.
Bộ máy tổ chức của Trường đại học Tây Bắc bao gồm: Ban Giám hiệu,
15 phòng ban trung tâm, 13 khoa tổ, bộ môn. Số CBGV là 400 người.
Phấn đấu đến năm 2015, trường ĐHTB thực thụ trở thành trung tâm
nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của khu Tây Bắc.
Hiện nay, trường đã mở được 25 ngành đào tạo ĐH chính quy, trong đó
có 17 ngành sư phạm, 07 ngành khối Nông - Lâm - Kinh tế; 28 ngành đào tạo

- 20 -


CĐ, 3 ngành liên thông từ trung cấp lên ĐH và 25 ngành liên thông từ CĐ lên
ĐH. Quy mô SV 11.296 trong đó có 7.456 SV chính quy.
CSVC của trường tiếp tục tăng cường để đảm bảo cho việc triển khai các
hoạt động đào tạo nghiên cứu. Tổng diện tích mặt bằng của trường là
1.053.222,5m2; 107 phòng học với tổng diện tích 18.466 m2, bình quân
2,48m2 /SV; tổng diện tích nhà làm việc là 6,739,6m2; diện tích thư viện là
553m2; ký túc xá hiện nay đã đưa vào sử dụng 232 phòng với tổng diện tích
11.536 m2; thư viện hiện có 132.973 đầu sách phục vụ giảng dạy và học tập;

trường ĐHNN Hà Nội, trường ĐH Thái Nguyên. Số lượng GV có trình độ
chuyên môn là thạc sỹ chiếm 2/3. Trong năm học tới các GV còn lại đã có kế
hoạch ôn và thi cao học đảm bảo trong năm 2015 100% CBGV trong khoa có
trình độ thạc sỹ.
Độ tuổi các CBGV trong khoa còn rất trẻ, 100% CBGV có tuổi đời từ
35 trở xuống. Đó là sự thuận lợi lớn cho khoa là có sự năng động, sáng tạo
của sức trẻ đồng thời cũng là khó khăn bởi các GV trẻ đều chưa có nhiều kinh
nghiệm đặc biệt trong công tác QL, còn vướng bận công việc gia đình ảnh
hưởng đến công tác.
2.1.2. Trƣờng cao đẳng Sơn La
Trường CĐ Sơn La tiền thân là Trường Sư phạm dân tộc cấp I tỉnh Sơn
La, được thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1963; Tháng 9/1970 được nâng cấp
thành trường Trung học Sư Phạm tỉnh Sơn La.
Ngày 15/5/2001 công bố nâng cấp từ Trường Trung học Sư Phạm tỉnh
Sơn La thành trường CĐ Sư Phạm Sơn La theo Quyết định số 5521/QĐBGD&ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo ngày 13/12/2000.
Ngày 19/11/2008 công bố đổi tên trường CĐ Sư Phạm Sơn La thành
trường CĐ Sơn La theo Quyết định số 7599/QĐ-BGD & ĐT của Bộ trưởng
BGD & ĐT ngày 12/11/2008;
Chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường là mở rộng quy mô và
nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng đa ngành, đa hệ.

- 22 -


Quy mô và ngành nghề đào tạo của nhà trường là đào tạo CĐ chuyên
nghiệp và CĐ nghề; Trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
Tổng số CNVC - LĐ: 298, trong đó có: 255 GV, 43 CBVC hành chính,
phục vụ. Trong đó có 05 Tiến sĩ và NCS, 130 Thạc sĩ và Cao học, 130 ĐH;
CBVC hành chính, phục vụ: 03 cao đẳng, 26 Trung cấp, 14 Sơ cấp và trình độ
khác.

Ngoài số lượng CBGD của 2 tổ bộ môn còn một số đ/c công tác ở các
đơn vị khác và tham gia một phần giảng dạy tại đơn vị như: Trung tâm Bồi
dưỡng dạy nghề có 01 đ/c, Trung tâm ngoại ngữ có 04 đ/c, Phòng NCKH và
QHQT có 01 đ/c.
Các GV tốt nghiệp tại Trường ĐHNN - ĐH quốc gia Hà Nội, Trường
ĐHNN Hà Nội, Trường ĐH Thái Nguyên. Số lượng GV có trình độ là thạc sỹ
rất ít, tiến sỹ chưa có. Đây cũng là vấn đề khó khăn trong công tác chuyên
môn của khoa.
Số lượng và đội ngũ cán bộ giảng dạy bộ môn NN đã tăng đáng kể
trong từng năm, trong đó số các đồng chí CBGD là nữ giới chiếm đa số (9/12
đồng chí). Cũng như trường ĐHTB, tuổi đời các CBGV trong khoa còn rất trẻ
(GV nhiều tuổi nhất là 35 tuổi), khoa gặp nhiều khó khăn trong công tác
chuyên môn; kinh nghiệm QL chưa có; số lượng GV là nữ đông, đang trong
độ tuổi sinh đẻ, ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian công tác.
2.1.3. Trường cao đẳng Y tế Sơn La
Trường cao đẳng Y Tế Sơn La được thành lập vào năm 1959, tiền thân là
trường trung học Y tế Sơn La, nâng cấp lên trường cao đẳng năm 2009.
Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn cán bộ y tế cho tỉnh nhà, các tỉnh
trong khu vực và 07 tỉnh phía Bắc nước CHDCND Lào, đáp ứng nhu cầu về
nguồn nhân lực và xu thế phát triển của ngành y, dược trong nước.
Nhà trường hiện có 51 cán bộ, trong đó có 14 đ/c có trình độ sau ĐH,
01 đ/c đang nghiên cứu sinh, 05 đ/c đang học cao học. Nhà trường rất chú
trọng tới công tác phát triển đội ngũ nhằm đáp ứng chiến lược phát triển
trường CĐ Y tế trong giai đoạn tới. Công tác tổ chức cán bộ thường xuyên

- 24 -


được củng cố, nhân lực trong nhà trường được bố trí phù hợp với khả năng,
trình độ của từng người, mọi chế độ được thực hiện đúng quy định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status