một số biện pháp dạy học tập làm văn lớp 4 phù hợp học sinh - Pdf 34

PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
1- CƠ SỞ LÍ LUẬN :
Tiếng Việt ở trường Tiểu học được dạy học và thông qua các phân môn khác
nhau như : Học vần , Tập đọc ,Tập viết , Chính tả , Luyện từ và Câu , Kể chuyện ,
Tập làm văn . Phân môn Tập làm văn có vò trí đặc biệt trong dạy học Tiếng Việt
xét trên hai phương diện :
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và các kỹ năng về Tiếng Việt
do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện
chúng . Để làm được một bài Tập làm văn nói hoặc viết , người làm phải hoàn
thiện cả bốn kỹ năng : nói , đọc , viết ,phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt .
Trong quá trình vận dụng này , các kỹ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và
nâng cao dần .
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng sản sinh văn bản
( nói và viết ). Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem
xét từng phần , từng mặt qua từng phân môn mà trở thành moat công cụ sinh động
trong quá trình giao tiếp , tư duy , học tập . Nói cách khác : Phân môn Tập làm văn
đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học
Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt , trong quá
trình lónh hội các tri thức khoa học .
Phân môn tập làm văn lớp 4 giúp học sinh :
- Trang bò kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn .
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống , rèn luyện tư duy lô gic
, tư duy hình tượng ; bồi dưỡng tâm hòn , cảm xúc thẩm mỹ hình thành nhân cách
cho học sinh .
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN :
Về phía học sinh :
- Học sinh yếu và học sinh trung bình chiếm phần lớn nên khi học tập làm văn
rất khó khăn . Trình độ học sinh không đồng đều .
- Học sinh đọc viết chậm trong khi đó ngữ liệu các bài tập làm văn dài cho
nên mất rất nhiều thời gian đọc .
- Các em mất rất nhiều thời gian để trả lời một câu hỏi hoặc trả lời sai .

- Giáo viên chưa có khả năng “ chế biến” giảm độ khó các bài tập cho học
sinh yếu , soạn câu hỏi bài tập nâng cao cho học sinh giỏi bởi vậy nên trên lớp
thường ít hướng dẫn cho hcọ sinh yếu , chủ yếu gọi học sinh khá giỏi trình bày kết
quả , còn học sinh yếu chép lại kết quả.
- Khả năng bao quát lớp chú ý đến các đối tượng học sinh ( giỏi , khá , trung
bình , yếu ) còn hạn chế , hầu hết giáo viên chỉ chú ý đến học sinh giỏi và khá .
- Đa số các tiết dạy tập làm văn diễn ra buồn tẻ , không gây được hứng thú
cho học sinh .Giáo viên tiến hành tiết dạy quá máy móc , gần như phụ thuộc khuôn
mẫu vào sách giáo viên chưa có khả năng đưa ra những vấn đề thiết thực gần gũi
với đời sống học sinh .

Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

Trang2


PHẦN THỨ HAI
NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN
1) Chuẩn bò lên lớp :
- Chuẩn bò soạn giáo án : Giáo viên cần phân loại đối tượng học sinh ( giỏi ,
khá , trung bình , yếu ) để có hệ thống câu hỏi và kế hoạch bài soạn phù hợp với
đặc điểm của họcï sinh .
Với những bài tập làm văn nói riêng cũng như những bài tập Tiếng Việt nói
chung giáo viên cần chuẩn bò theo trình tự sau :
+ Xác đònh mục đích, cơ sở của bài tập : Bài tập cần giúp học sinh đạt được
mục đích gì ? Cơ sở để xây doing bài tập ?
+ Giải mẫu bài tập ( trình bày đáp án ) và chỉ ra , tách ra các thao tác cần thực
hiện theo trật tự trước sau để ra két quả đúng .
+ Dự tính những khó khăn của học sinh khi làm bài tập , những lỗi các em có

sữa chữa uốn nắn kòp thời lỗi của các em như : lỗi dùng từ đặt câua , sắp xếp ý ,
xây dụng đoạn văn ,… nên cho học sinh khá giỏi trình bày trước những ý , câu khó .
+ Đối với học sinh khá, giỏi : Ngoài những câu hỏi , bài tập bình thường , giáo
viên cần đưa ra những yêu cầu cao hơn , những câu hỏi cao hơn , khó hơn để phát
triển tư duy cho các em , thường xuyên yêu cầu các em nhận xét , sửa chữa bài của
bạn . Trong cùng một ý , một vấn đề phải hướng dẫn để học sinh khá giỏi có thể
diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau , biết sửa những đoạn văn , bài văn dài và ý
rườm thành những đoạn văn , bài văn ngắn gọn và câu ý phù hợp hơn .
- Những câu hỏi có tính chất ôn lại kiến thức cũ có liên quan để dạy học bài
mới thuận lợi nên dành cho học sinh khá giỏi để mất ít thời gian .
- Khi dạy học sinh nói trình bày kết quả nên gọi học sinh khá giỏi trước , học
sinh trung bình , yếu sau .
- Nếu bài văn có ngữ liệu dài nên gọi học sinh giỏi đọc thành tiếng , cả lớp
đọc thầm theo để tiết kiệm thời gian .
- Với những câu hỏi khó giáo viên nên giảm độ khó bằng cách : chia nhỏ câu
hỏi , thêm câu hỏi phụ , đưa đáp án đúng sai cho học sinh lựa chọn …
- Giáo viên cần hiểu tâm lý học sinh cần động viên , khích lệ các em luyện
nói , luyện viết .
- Giáo viên cần hiểu kỹ năng học ( nói , viết ) theo đề tài của từng đối tượng
học sinh , từ đó có biện pháp tiếp cận giúp đỡ học sinh phát huy khả năng và khắc
phục hạn chế .
- Giáo viên cần có biện pháp động viên học sinh chuẩn bò bài và có kiểm tra ,
đánh giá chặt chẽ kỹ lưỡng .
- Giáo viên cần tạo ra không khí hào hứng kích thích học sinh họcï tập , chuan
bò tốt nhất cách xử lý tình huống có thể xẩy ra .
- Trong mỗi tiết học giáo viên cần tạo không khí học tập vui vẻ nhẹ nhàng ,
hấp dẫn để lôi cuốn học sinh tránh tẻ nhạt và khô cứng .
- Tạo mọi điều kiện đẻ tất cả học sinh chủ động tích cực tham gia và tham gia
có hiệu quả các hoạt động học tập quan tâm nhiều hơn các học sinh nhút nhát ,
chưa tích cực hoạt động .

hiện các thao tác sau :
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài , xác đònh đúng nội dung yêu cầu của đề.
+ Hướng dẫn học sinh dựa vào gợi ý trong SGK để thực hiện từng yêu cầu
( theo hai hình thức nói , viết ).
+ Tổ chức nhận xét , đánh giá kết quả thực hành nhằm trau dồi các kỹ năng
tập làm văn cho học sinh .
5) Giáo viên cần nắm vững các kỹ năng làm văn cho học sinh lớp 4 va øcác
bước cần thực hiện từng kỹ năng để hướng dẫn học sinh.
- Kỹ năng đònh hướng hoạt động giao tiếp :
+ Nhận diện loại văn bản
+ Phân tích đề bài

Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

Trang5


Để thực hiện tốt kỹ năng này giáo viên phải yêu cầu học sinh : đọc nhiều lần
đề bài , tìm hiểu nghóa của từ , từng vế câu , chọn ra các từ ngữ quan trọng nhất .
Từ đó trả lời mấy câu hỏi sau :
Đề bài yêu cầu viết loại văn nào ? ( Miêu tả hay kể chuyện ? Tả phong cảnh
hay tả người ? …)
Đề bài đòi hỏi giải đáp vấn đề gì ? ( Yêu cầu làm gì ? Miêu tả ai , cái gì ? Kể
lại câu chuyện nào ? Tường thuật việc gì ? Viết thư cho ai , viết về cái gì ?...
Phạm vi bài làm đến đâu ? Trọng tâm bài là ở chỗ nào ?
- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp :
+ Xác đònh dàn ý của bài văn đã cho
+ Tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
+ Quan sát đối tượng , tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả.
- Kỹ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp :

Bài : “ Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật”
Bài tập 1: Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi :
Đó là một chiếc cặp màu đỏ tươi ; chỉ nhỉnh hơn chiếc bảng con một chút . Ở
góc phải của cặp có hình chú gấu không to lắm nhưng trông rất ngộ nghónh . Cặp
có hai mắt khoá mạ kền giống như hai con mắt sáng long lanh .
Quai cặp làm bằng sắt không gỉ trông rất chắc chắn . Sau lưng có hai dây đeo
bằng vải sợi ni lông màu xanh da trời khiến em có thể đeo cặp sau lưng trông như
đeo chiếc ba lô.
Mở cặp ra em thấy trong cặp có tới ba ngăn được làm bằng vải ni lông hoa –
hai ngăn rộng và một ngăn hẹp. Sách giáo khoa em xếp vào một ngăn , vở viết em
xếp vào ngăn bên cạnh . Còn ngăn hẹp thì em để các đồ dùng học tập như bảng
đen , hộp đựng bút và thước kẻ .
a; Các đoạn văn trên thuộc phần nào trong bài văn miêu tả ?
b; Xác đònh nội dung miêu tả của từng đoạn văn .
c; Nội dung miêu tả của mỗi đoạn văn được báo hiệu ở câu mở đoạn bằng
những từ ngữ nào ?
CÁC THAO TÁC GIÁO VIÊN CẦN CHUẨN BỊ ĐỂ THỰC HIỆN
( Giáo viên cần xác đònh được )
1) Mục đích : Học sinh nêu được từng đoạn văn trên thuộc phần nào của bài
văn miêu tả ; xác đònh nội dung chính của từng đoạn văn ; tìm được những từ ngữ
báo hiệu ở câu mở đoạn , nội dung miêu tả của từng đoạn văn .
2) Giải mẫu và chỉ ra những thao tác cần thực hiện .
- Đáp án :
a; Cả ba đoạn văn đã cho đều thuộc phần thân bài .
b; Đoạn 1 : Tả hình dáng bên ngoài của chiếc cặp .
Đoạn 2 : Tả quai cặp và dây đeo .
Đoạn 3 : Tả các bộ phận bên trong của chiếc cặp .
c; Nội dung miêu tả của mỗi đoạn văn được báo hiệu ở câu mở đoạn bằng
những từ ngữ :
Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

Nội dung miêu tả của từng đoạn văn là gì ?
Hãy đánh dấu x vào ô trống trước ý đúng nhất mà em cho là nội dung miêu tả
của từng đoạn văn .
Đoạn1 :
 Tả về màu sắc của chiếc cặp
 Tả hình dáng bên ngoài của chiếc cặp
 So sánh chiếc cặp với chiếc bảng con
Đoạn2 :

 Tả quai cặp và dây đeo
 Giới thiệu quai cặp
 Nói về tác dụng của quai cặp

Đoạn3 :

 Tả ngăn cặp
 Tả bao quát chiếc cặp

Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

Trang8


 Tả cấu tạo bên trong của chiếc cặp – các ngăn cặp và tác
dụng của nó
+ Nội dung miêu tả của mỗi đoạn được báo hiệu ở câu mở đoạn bằng những
từ ngữ nào ?

PHẦN THỨ BA
KẾT QUẢ CỦA VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG

Điểm bài kiểm tra viết
Kiểm tra
1
2
3
4
5
6
7
8
9
28
2
4
4
12
4
1
1

29
83

5

4

5

11


Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

8

9
Trang9

10

10


4A/28
4B/26
4C/29
Cộng

28
2
1
2
14
5
1
2
1
26
2
3

Người viết

Nguyễn Kim Chung

Duyệt của phòng Giáo dục

Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 4 phù hợp với trình độ hs

Trang10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status