Luận văn quản lý xây dựng văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm Hà Nội - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ này là một phần quan trọng trong quá trình đào tạo cao học.
Với tất cả tình cảm chân thành tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô khoa
Quản lí giáo dục, phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội đã quan tâm và tạo điều
kiện cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin được bày tỏ lời tri ân sâu sắc của tôi xin dành cho người hướng dẫn
của tôi, PGS. TS Nguyễn Thị Yến Phương, người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giúp
đỡ, động viên và chia sẻ với tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực
hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý nhà trường Cao đẳng Sư
phạm Hà Nội, các thầy cô đã nhiệt tình hợp tác và đóng góp những ý kiến quý báu
cho bản thân tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu thực trạng tại trường.
Tôi vui mừng chia sẻ thành quả này cùng với lời cảm ơn đến tất cả các thành
viên lớp Quản lí giáo dục K22, những người đã cùng tôi trải qua 2 năm học tập và
nghiên cứu tại trường.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn này.
Với hy vọng luận văn này sẽ đóng góp tích cực vào việc xây dựng Văn hóa
nhà trường ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội nói riêng và hệ thống các trường
Cao đẳng Sư phạm nói chung, tuy nhiên không thể tránh khỏi sự thiếu sót. Tôi nghĩ
rằng để có một luận văn hoàn chỉnh hơn, bản thân tôi còn phải nghiên cứu rất
nhiều và cần có sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của Hội đồng khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn và kính chúc tốt đẹp!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Quỳnh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CBQL
CĐSP
GD

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành giáo dục
và đào tạo đang đứng trước những cơ hội phát triển, đồng thời cũng đương đầu với
những thách thức mới, yêu cầu con người phát triển toàn diện vừa có đức, vừa có
tài như Bác Hồ đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì việc gì cũng khó”. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập quốc tế sâu
rộng thì vai trò của giáo dục càng trở nên quan trọng. Chính vì thế Đảng và Nhà
nước ta đã xác định giáo dục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu


và có những chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Chất lượng
giáo dục là mục tiêu trọng tâm mà mỗi nhà trường đều mong muốn đạt tới. Điều
này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Trong đó, văn hóa nhà
trường được xác định là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới chất
lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi nhà trường.
Về góc độ tổ chức, văn hóa nhà trường được coi như một mẫu thức cơ bản,
tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi
trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong. Một tổ chức có nền văn
hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội. Văn hóa nhà trường sẽ giúp
cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức
mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản
phẩm giáo dục toàn diện.
Đối với giáo viên, một văn hóa nhà trường tích cực sẽ khuyến khích mối
quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau; tạo bầu không khí tin cậy,
thúc đẩy giáo viên quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy; bồi dưỡng tình
yêu và sự tâm huyết với nghề, qua đó góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trong
nhà trường.
Đối với người học, văn hóa nhà trường tích cực tạo ra môi trường giáo dục
có lợi nhất cho người học, khiến họ cảm thấy thoải mái, vui vẻ, ham học. Người
học thấy rõ trách nhiệm của mình, tích cực khám phá, liên tục trải nghiệm và tích
cực tương tác với giáo viên và nhóm bạn. Văn hóa nhà trường còn tạo ra môi

từ mặt lý luận và thực tiễn trong vấn đề quản lý xây dựng văn hóa nhà trường, tác
giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội”.


2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường
(VHNT) ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội để từ đó đề ra các biện pháp quản lý
xây dựng văn hóa nhà trường mang tính khả thi và phù hợp với thực tế của nhà
trường nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đáp ứng
yêu cầu của xã hội hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý xây dựng VHNT ở trường Cao đẳng
Sư phạm.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý xây dựng VHNT ở Trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu công tác quản lý xây dựng VHNT của Ban Giám hiệu,
lãnh đạo phòng ban, các khoa và tổ trưởng tổ chuyên môn của nhà trường Cao
đẳng Sư phạm.
5. Giả thuyết khoa học
Văn hóa nhà trường ảnh hưởng rất lớn tới hình ảnh, thương hiệu, chất lượng
giáo dục và hiệu quả hoạt động của nhà trường, là sức mạnh cho sự phát triển ổn
định và bền vững. Tuy nhiên công tác xây dựng VHNT ở nhà trường Cao đẳng Sư
phạm Hà Nội vẫn còn một số điểm hạn chế nhất định nên chưa đáp ứng tốt được
yêu cầu của xã hội. Nếu có những biện pháp quản lý xây dựng VHNT phù hợp thì
sẽ khắc phục được những tồn tại và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong
nhà trường.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường Cao

7.3. Phương pháp toán thống kê toán học
Sử dụng phần mềm xử lý số liệu (SPSS) và phương pháp thống kê để xử lý
số liệu thu thập được từ phiếu khảo sát.
8. Dự kiến kết cấu của luận văn
Phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo.
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở trường
Cao đẳng Sư phạm
Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội.
Phụ lục.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA
NHÀ TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Khái niệm “Văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện lần đầu tiên
trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành khái niệm
trong Khoa học tổ chức- Quản lý, xuất hiện ở Âu Mỹ từ nhũng năm 80 của thế kỷ
XX, hiện nay là một khái niệm thịnh hành và phổ biến rộng rãi. Thuật ngữ tương
đương “Văn hóa công ty” (corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập
niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến khi tác phẩm “Văn hóa công ty” của
Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982. [29]
Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” (School culture) là một khái niệm mới xuất
hiện trong nhiều chục năm gần đây. Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm


nội dung của “Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
(UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX. [9]

[18.tr2]. Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được
phát động vào đầu năm học 2008-2009 của Bộ GD&ĐT (Chỉ thị số 40/2008/CTBGDĐT, ngày 22/7/2008). Ban chấp hành trung ương khóa VII đã khẳng định văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát
triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người
với người, với xã hội và với thiên nhiên. Đây là một trong những bước đi đầu tiên
tiếp cận hiện đại trong giáo dục, đó là xây dựng văn hóa nhà trường.
Từ năm 2008 đến 2010 theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học
viện Quản lý giáo dục Việt Nam đã hợp tác với Học Viện Giáo dục Singapore tổ
chức chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết
Việt Nam- Singapore giai đoạn 2008- 2010. Nội dung chương trình có 7 chuyên
đề, trong đó có chuyên đề 3 “Văn hóa nhà trường” được rất nhiều nhà Lãnh đạo
đánh giá cao về tầm quan trọng của VHNT và được coi là một trong những yếu tố
hàng đầu làm nên sự thành công trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà
trường. [15]
Nội dung xây dựng VHNT ở bậc phổ thông, cao đẳng và đại học được đề
cập tới khá nhiều. Có những đề tài khoa học, bài viết tham luận nói về vấn đề này
có thể kể đến như sau:
- Phạm Minh Hạc ( 2012), Xây dựng văn hóa học đường phải là mối quan
tâm của mọi nhà trường, Tạp chí Ban Tuyên giáo, Hà Nội.
- Phạm Quang Huân (2007), Văn hóa tổ chức, hình thái cốt của văn hóa nhà
trường, Kỷ yếu Hội thảo VH học đường do Viện NCSP, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội.


- Lê Thị Ngoãn (2009), Xây dựng văn hóa nhà trường Cao đẳng Công
nghiệp Nam Định, Luận văn Thạc sĩ khoa học QLGD, Đại học Thái Nguyên
- Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2011), Văn hóa nhà trường và xây dựng văn
hóa nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, Kỷ yếu Hội thảo “Khoa học
trẻ” khoa Quản lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Hứa Thị Hoàn (2012), Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường

và học sinh), đến nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, …) hợp quy luật
(quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã
hội) nhằm đạt được mục tiêu giáo dục”.
Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết kế sư
phạm đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình
thành “nhân cách – sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn
vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý nhà trường là: “Tập hợp
những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…)
của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận
dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao
động xây dựng vốn tự có hướng vào việc việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà
trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục
tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giao dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thể hệ trẻ và với từng học sinh”
Tóm lại, QLNT là quá trình tác động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu
trưởng, Cán bộ phụ trách phòng ban) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, học


sinh, các quá trình dạy học và giáo dục) để đạt được mục tiêu giáo dục mà nhà
trường đề ra. Trong nội dung quản lý nhà trường thì quản lý xây dựng văn hóa là
một nội dung quan trọng.
1.2.2. Văn hóa
Văn hóa là từ Việt gốc Hán. Theo Kinh Dịch và trong những tài liệu cổ xưa
thì văn có nghĩa là “ vẻ đẹp”, hóa có nghĩa là “thay đổi, biến đổi”, “làm cho thay
đổi, biến đổi”, “giáo hóa”, văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là “làm cho trở nên đẹp đẽ,
văn vẻ”. Bản thân văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Do đó, khi có những tiếp cận

biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội
hay của một nhóm người trong xã hội... Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành
sinh vật đặc biệt nhân bản có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một thực thể chưa hoàn chỉnh đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân,
tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt
trội lên bản thân”; “Văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của xã
hội thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm”.
Tựu chung lại thì có thể thấy điểm cốt lõi và phổ biến nhất khi đề cập tới
khái niệm văn hóa đó là sự nhấn mạnh đến yếu tố con người, gắn với con người,
thuộc con người và tất cả những sản phẩm của con người.
1.2.3. Văn hóa tổ chức
Tùy theo đối tượng tiếp cận, văn hóa tổ chức được gọi bằng một số tên khác
nhau như văn hóa công ty, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công sở. Trong đó thuật
ngữ văn hóa tổ chức được sử dụng khá phổ biến. Có nhiều các định nghĩa khác
nhau về văn hóa tổ chức, có thể kể đến một vài quan niệm cơ bản như sau:


Trong tác phẩm “Quản lý hành chính – Lý thuyết và thực hành” các tác giả
Michel Amiel, Francis Bonnet và Joseph Jacobs đã cho rằng “Văn hóa tổ chức là
toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành
vi của mỗi thành viên trong tổ chức, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi
theo thời gian, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng.” [28].

Văn hoá tổ chức là

một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử của một tổ
chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tổ chức này với các thành viên
của tổ chức khác (Greert Hofstede, Cultures & Organisations, 1991).
Văn hoá tổ chức liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một

Các tác giả Urben G.C., Hugies L.W., Noris C.J. cho rằng VHNT gắn liền
với chất lượng giáo dục “Một trường tốt có chuẩn chất lượng cao, có kỳ vọng cao
đối với HS, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có VHNT
tốt”.
Joan Richardson định nghĩa “VHNT là sự tích lũy các giá trị và chuẩn mực
của nhiều người. Đó là sự đồng thuận về những gì quan trọng. Đó là những kỳ
vọng của tập thể chứ không phải những kỳ vọng của một cá nhân” [37].
Văn hoá nhà trường (VHNT) thể hiện ở mọi góc độ nhà trường, bao gồm từ
phong cách ngôn ngữ của GV và HS, cách bài trí lớp học,…cũng như thái độ quan
tâm của họ đối với những nội dung chương trình và phương pháp GD, đến những
định hướng giá trị nhân cách của HS (và cả của GV) trước những thay đổi của cuộc
sống XH hiện đại. VHNT lành mạnh sẽ giảm bớt được xung đột và tăng tính ổn
định. Đúng như Donahoe (1997) chỉ ra rằng: “Nếu văn hoá thay đổi thì mọi thứ sẽ
thay đổi”.


Tóm lại VHNT là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong
nhà trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà
trường này với nhà trường khác.
1.2.5. Xây dựng văn hóa nhà trường
Theo từ điển Tiếng Việt thì xây dựng là gây dựng nên, làm nên hay tạo ra
cái có giá trị tinh thần hay nội dung gì đó. Vậy khi nói tới khái niệm xây dựng văn
hóa tức là gây dựng hay sáng tạo nên những giá trị mới về tinh thần và vật chất
thuộc về văn hóa. Tuy nhiên văn hóa luôn tồn tại những giá trị được lưu truyền từ
đời này qua đời khác ta gọi đó là giá trị văn hóa. Giá trị văn hóa luôn có ý nghĩa
nhưng trong từng thời kỳ thì ý nghĩa của các giá trị văn hóa đó có phù hợp hay
không mới là cái quan trọng. Chính vì thế, khi nói tới xây dựng văn hóa tức là
người ta muốn đề cập đến việc kế thừa những giá trị văn hóa sẵn có để xây dựng
hoặc có thể phát triển những giá trị văn hóa cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.
Nhà trường là môi trường thường có nhiều giá trị văn hóa tích cực hơn.

VH đạo đức xã hội chủ nghĩa trong trường học. Tích cực xây dựng môi trường học
an toàn, thân thiện, cảnh quan hiện đại, mối quan hệ tốt đẹp, thương hiệu và giá trị
đạo đức của nhà trường.
Theo cách tiếp cận chức năng quản lý thì quản lý VHNT là một quá trình
bao gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và đảm
bảo các điều kiện cần thiết để xây dựng VHNT đạt hiệu quả.
Tóm lại có thể nói quản lý hoạt động xây dựng VHNT là một quá trình tác
động có hướng đích của chủ thể quản lý nhà trường đến khách thể thuộc về yếu tố
VHNT thông qua các biện pháp quản lý phù hợp nhằm đưa hoạt động xây dựng
VHNT đạt được kết quả cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo, giáo dục trong nhà trường.
1.3. Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm


1.3.1. Cấu trúc của văn hóa nhà trường
Theo lý thuyết cơ bản về VHNT thì có hai quan điểm được nghiên cứu khi
nhắc tới cấu trúc VH đó chính là mô hình tảng băng VH và mô hình VH ba tầng
bậc.
Mô hình thứ nhất: Mô hình tảng băng (có phần nổi, phần chìm).
Mô hình tảng băng được Frank Gonzales đưa ra vào năm 1978. Theo đó,
VHNT giống như một tảng băng có văn hóa thể hiện phần nổi và văn hóa thể hiện
phần chìm. Văn hóa phần nổi là những thành tố có thể quan sát, nắm bắt hoặc thay
đổi được. Phần văn hóa chìm là các giá trị, niềm tin, thái độ, các giá trị về tinh thần
cái mà rất khó quan sát hay thay đổi được ta chỉ có thể cảm nhận và thấu hiểu khi
tiếp cận với con người hoặc môi trường đó.

Phần
nổi

Tầm nhìn, chính sách, mục đích, mục tiêu

mô hình ba cấp độ của VHNT phản ánh rất cụ thể, đầy đủ và chặt chẽ. Cấu trúc
VHNT ở đây được thể hiện sâu hơn ở tầng thứ 3: Những giả thiết cơ bản; Như vậy
VHNT sẽ được quy chiếu rõ ràng trong mối quan hệ với môi trường xung quanh và
được đặt trong hoàn cảnh thực tế. Theo Edgar H. Schien, tầng giả định cơ bản bề
sâu chính là những giả thiết ban đầu được hỗ trợ bởi một giá trị nào đó trải qua quá
trình sử dụng liên tục dần trở thành hiện thực. Những giả thiết cơ bản này sẽ quyết
định đến cách giải quyết, nhìn nhận, xem xét vấn đề của tổ chức. Tầng giả thiết cơ
bản có mối quan hệ biện chứng, chi phối tầng thứ nhất (yếu tố hữu hình) và thứ hai
(những giá trị) của cấu trúc.
Vấn đề cấu trúc VHNT theo mô hình 3 tầng bậc cần phải có rất nhiều thời
gian quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu thực tế trong nhà trường; và quy chiếu trong
môi trường xung quanh cũng như từng thời điểm cụ thể… Trong điều kiện thực
hiện luận văn, tác giả không thể nghiên cứu đến tầng thứ ba trong cấu trúc văn hóa
nhà trường vì vậy đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu sử dụng mô hình tảng băng gồm hai
phần cơ bản của VHNT để tiến hành nghiên cứu.


Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về cấu trúc VHNT Cao đẳng Sư phạm
chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu theo mô hình cấu trúc tảng băng. Đó là bao
gồm các yếu tố thuộc về phần nổi và phần chìm của VHNT.
1.3.2. Trường Cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường Cao đẳng là cơ sở giáo dục đại học nằm trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và con dấu riêng.
Nhiệm vụ của trường Cao đẳng được quy định tại Điều 9 – Điều lệ trường
Cao đắng như sau:
1. Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng
lực thực hành nghề nghiệp tưng xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng
lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những
người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Nhà nước,
tổ chức các hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in ấn và cấp văn bằng theo
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
3. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo
dục; hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y


tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội;
4. Quyết định thành lập các tổ chức trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức đã
được phê duyệt trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường; quyết định bổ
nhiệm các chức vụ từ cấp khoa, phòng và tương đương trở xuống; quản lý và phân
phối chỉ tiêu biên chế cho các đơn vị trong trường theo chỉ tiêu được cơ quan chủ
quản giao hàng năm; quyết định các vấn đề liên quan đến công tác cán bộ từ ngạch
giảng viên, chuyên viên trở xuống.
5. Nghiên cứu các đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, thực hiện các dự án,
sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ theo kế hoạch do cấp trên giao hoặc
chủ động hợp tác với các viện, các trường đại học, cao đẳng, học viện, các tổ chức
quốc tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước theo quy định của
pháp luật; tổ chức đánh giá, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học, dự án, sản
xuất thử nghiệm cấp trường và cấp Bộ; xuất bản tập san, các ấn phẩm khoa học, tài
liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ của trường theo Luật Xuất bản và quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
6. Hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng
tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành các hoạt động khoa học và
công nghệ, sản xuất kinh doanh; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, chi cho các
hoạt động giáo dục và bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường;
7. Được Nhà nước giao đất; được thuê đất, vay vốn; được miễn, giảm thuế

Văn hóa là một thứ tài sản lớn và quyết định trường tồn của một tổ chức.
Văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nhà trường, hơn bất kỳ tổ chức nào tính
văn hóa là tính chất đặc thù của nhà trường.
Văn hóa nhà trường tạo động lực làm việc.
Văn hóa nhà trường hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân
bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận, truyền thuyết do
những thế hệ con người trong tổ chức xây dựng lên.
Văn hóa nhà trường hạn chế tiêu cực và xung đột. VHNT giúp các thành
viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định
hướng và hành động.
Nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường.
Từ những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến người dạy và người học,
văn hóa có tác động lớn đến chất lượng giáo dục trong nhà trường. Một nền văn
hóa tốt chính là một chương trình đào tạo tốt trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng
giáo dục trong nhà trường. Đối với nhà trường Cao đẳng Sư phạm, nơi đào tạo ra
những thầy cô giáo tương lai phục vụ cho bậc học Mầm non, Tiểu học và Trung
học cở sở thì văn hóa nhà trường tích cực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách
nghề nghiệp của sinh viên. Văn hóa nhà trường là cái nôi – tạo động lực học tập và
phấn đấu rèn luyện chuyên môn và tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho người học.
1.3.3.2. Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến các lực lượng giáo dục bên trong
và bên ngoài nhà trường.
* Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến Hiệu trưởng và cán bộ quản lý nhà
trường
Cần lưu ý rằng, trong nhà trường, người hiệu trưởng vừa là người quản lý
(manager), vừa là người lãnh đạo (leader). Điều đó có nghĩa là người hiệu trưởng
phải đảm nhận đồng thời hai chức năng: lãnh đạo và quản lý. Hai chức năng này
gắn làm một như hai mặt của một đồng tiền. Theo quan điểm của Pam Robbins và


Harvey B. Alvy, quản lý và lãnh đạo luôn luôn song hành với nhau, nó tích hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status