Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay - Pdf 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÙI CHÍNH QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƢỜNG CAO
ĐẲNG SƢ PHẠM HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Đặng Quốc Bảo

THÁI NGUYÊN – 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục (GD) và đào
tạo (ĐT): “GD cho mọi người”;“Cả nước trở thành một xã hội học tập”, nền
GD đại học Việt Nam còn phải đáp ứng nhu cầu học tập, học thường xuyên,
học suốt đời ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Đẩy mạnh GD trong nhân dân bằng
các hình thức chính quy và không chính quy, thực hiện GD cho mọi người, cả
nước trở thành một xã hội học tập”. Luật Giáo dục khẳng định “Chương trình
giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học
vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn”. Như vậy, cùng với GD đại học chính
quy, GD đại học không chính quy (trong đó có hệ VLVH) đã đóng vai trò quan
trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển GD của
đất nước.
Giáo dục cao đẳng, đại học hiện nay hướng đến đạt mục tiêu “Đổi mới cơ

-Trong bối cảnh mới đầy biến động, giáo dục đại học Việt Nam vẫn phải gìn
giữ bản sắc dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Hệ đào tạo vừa học vừa làm hiện
tại cũng đang nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu chung của ngành giáo dục đào
tạo.
Là một trường cao đẳng có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường Cao
đẳng Sư Phạm Hà Nội (CĐSPHN) có sứ mệnh là một trong những trung tâm đào
tạo, bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở, giáo viên Tiểu học, giáo viên Mầm
non có chất lượng cao của Thủ đô; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng,
chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và các
lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội phục vụ sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước. Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Trung học cơ sở, giáo viên Tiểu học, giáo viên Mầm non có trình độ Cao đẳng
hệ chính qui. Trường còn đào tạo, liên kết đào tạo, bồi dưỡng các nguồn nhân
lực có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học các chuyên ngành sư phạm và các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5

chuyên ngành khác hệ vừa làm vừa học (VLVH). Công tác đào tạo hệ VLVH là
một nhiệm vụ quan trọng của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội cần phải được
tổ chức tốt và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của
xã hội về nguồn nhân lực. Tuy nhiên nhìn từ góc độ khoa học quản lý đối với
hệ VLVH, trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, còn có nhiều vấn đề cần được
nghiên cứu, khảo sát như tư duy quản lý, chu trình quản lý, các thành tố quản
lý, năng lực quản lý v.v Mặt khác, công tác quản lý ĐT hệ VLVH ở
Trường CĐSPHN còn bộc lộ những bất cập như đội ngũ cán bộ quản lý chưa
đồng bộ, thiếu những chính sách nhất quán trong QLGD, còn hạn chế trong việc
tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại như ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lý trường học v.v…

vừa làm vừa học tại trường CĐSPHN
-Đề xuất giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường
CĐSPHN
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu khảo sát thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ VLVH tại
Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội 03 năm gần đây (2010-2013).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa
các tài liệu, các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : tìm hiểu, khảo sát, điều tra, tổng
kết kinh nghiệm thực tiễn…sau đó phân tích, tổng hợp đánh giá thực trạng vấn
đề nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp chuyên gia, phương pháp
tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thống kê xử lý số liệu.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Cao đẳng
Sư phạm Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

CHƢƠNG
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

giáo dục cho người lớn. Năm 1960 tại Montreal (Canada) đã mở hội nghị bàn
nhiều về việc làm thế nào để xóa mù chữ cho người lớn tuổi ở các nước mới
dành được độc lập và tạo cho người lớn tuổi vừa đi làm vừa có thể được học.
Năm 1972 tại Tokyo (Nhật Bản), người ta bàn nhiều về dân chủ trong giáo dục
và giáo dục cho người lớn là một nhân tố quan trọng cho việc đẩy mạnh sự phát
triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia. Năm 1997 tại Hamburg (Đức) trong xu
thế toàn cầu hóa, người ta lại bàn nhiều đến giáo dục cho người lớn với các ý
tưởng: Giáo dục người lớn vừa làm vừa học để thừa nhận chân giá trị của con
người; Giáo dục vừa làm vừa học không chỉ để tạo điều kiện bình đẳng giữa
người và người mà còn coi đây là nguồn lực lao động có chất lượng giúp cho
KT-XH phát triển và vừa làm vừa học cũng chính là để cải tạo xã hội hướng
đến việc học suốt đời trong xây dựng xã hội học tập.
1.1.2. Nghiên cứu trong nƣớc
Đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học là một vấn đề đang
được
cả xã hội quan tâm, đặc biệt là đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên
kết của các
tr
ư
ờng
đại học nói chung. Trong thời gian qua đã có rất nhiều
cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng
như
tại các
tr
ư
ờng
đại học,
có cả sự tham gia của các tổ chức nước ngoài về thực trạng đào tạo hệ vừa
làm vừa học nói chung và hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết nói riêng

được đưa ra. Giáo sư

Phạm Phụ -Thành viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia,
trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên đài RFA đã nói: "Tôi không nghĩ
dừng lại việc đào tạo tại chức để củng cố đại học chính quy đã là tốt vì tôi
nghĩ đây là nhu cầu rất chính đáng của xã hội, vì bên cạnh những người
theo học cần bằng cấp để lên chức thì cũng có một số khá đông có nhu cầu
học tập thực sự, cho nên không nên đặt vấn đề là
ngưng
đào tạo tại chức
nhưng
phải có ngay một loạt các chính sách để quản lý có hiệu quả".
Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu quản lý đào tạo hệ VLVH, đã có
nhiều tác giả đã bàn nhiều đến vấn đề công tác quản lý đào tạo, chú ý đến
các biện pháp bồi dưỡng những kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ quản lý và
các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo của hệ VLVH v.v
Đó là các bài báo, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể tên
một số công trình như sau: Nâng cao chất lượng đào tạo tại chức/ Phan Huy
Hiền - Nhân dân - 2002 - Số 17028 - Tr.1; Nhu cầu và biện pháp cho phương
thức GD không chính quy / PGS.TS.Trịnh Minh Tứ, Th.s. Lê Hải Yến – Giáo
dục & Đào tạo CN - 2002 - Số 11 - Tr. 1 & 5; Biện pháp quản lý quá trình đào
tạo hệ vừa học vừa làm ở trường CĐSPHN - Luận văn Thạc sĩ khóa 2007 -
2009 của Vũ Thị Gấm - Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội; Biện
pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của
trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khóa 2007 - 2009 của
Nguyễn Khánh Thọ - Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội; Hoàn thiện quy trình
đào tạo cử nhân hệ Tại chức ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Luận văn
Thạc sĩ khóa 2004-2006 của Phạm Trung Kiên – Học viện Báo chí và Tuyên
truyền v.v
Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề quản lý đào tạo

lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất
và rẻ nhất” [37, 21].
- Các nhà khoa học Harold Koontz, Cyril Odonell và Heinz Weihrich
trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [18] cho rằng: “Quản lý là hoạt
động thiết yếu của nhà quản lý đảm bảo sự phối hợp, sự nỗ lực của mỗi cá nhân
trong tổ chức nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định trong những điều kiện thời
gian, công sức và kinh phí bỏ ra ít nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất”.
- Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”
[47]: Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các
nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức.
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên xô, 1977, quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó
bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những
chương trình, mục đích hoạt động [37, 7].
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đều nhấn mạnh các
yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể và mục tiêu quản lý, đồng thời khẳng định
rằng: Quản lý là một hoạt động mà trong đó con người vừa là chủ thể vừa là
khách thể quản lý. Trong cuốn “Tâm lý học trong quản lý nhà nước”- Học viện
hành chính quốc gia 1993, tác giả Mai Hữu Khuê nêu rõ “ Hoạt động quản lý là
một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp của các
dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà,
phối hợp các khâu quản lý và các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến
hiệu quả cao”. [33]
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “ Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản
lý” 2000 - NXB chính trị quốc gia Hà Nội thì “Quản lý là sự tác động có hướng

Mục
tiêu
Phương pháp
quản lý
Chủ thể
quản lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

Quản lý có bốn chức năng: Kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo, điều hành
;kiểm tra: Các chức năng trên, có mối liên quan chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn
nhau tạo thành một chu trình quản lý. Khi thực hiện chức năng này, thường cũng
có mặt các chức năng khác ở mức độ khác nhau. 1.2.2. Giáo dục và quản lý giáo dục
1.2.2.1. Giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo
dục tới người được giáo dục tại các cơ sở giáo dục nhằm hình thành nhân cách
cho họ.
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức
cho họ các hoạt động và giao lưu.
1.2.2. Quản lý giáo dục
QLGD là một bộ phận của hệ thống quản lý xã hội. QLGD là những tác
động có hệ thống có ý thức hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống

lao động thực hiện tốt hơn các công việc hiện tại.
Như vậy đào tạo theo nghĩa trên, cần phải có lượng thời gian phù hợp và
kinh phí đầu tư thích hợp, do đó cần phải có lộ trình, kế hoạch đào tạo hợp lý,
nhất là kinh phí và các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, kiến thức con
người ngày càng được nâng cao để nắm bắt tri thức mới, đào tạo trở thành nhiệm
vụ quan trọng của các nhà quản lý.
1.2.3.2. Quản lý đào tạo
a)Quản lý đào tạo là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch hợp với qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống giáo dục
đào tạo vận hành theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước.
Quản lý đào tạo là quá trình “quản lý các hoạt động của giáo viên và học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15

sinh sinh viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo
của nhà trường” [56,11], nhằm làm cho con người hướng đến việc nắm vững
những tri thức, kĩ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho
người học thích nghi với cuộc sống, để chuẩn bị đảm nhận công việc phân
công lao động mới, góp phần vào việc phát triển chung cho xã hội.
Đối tượng của quá trình quản lý đào tạo : “là hoạt động của giáo viên,
học sinh sinh viên và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện
các kế hoạch và chương trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã qui
định”[56,9]. Quá trình đào tạo ở đây được xem là quá trình dạy học và quá
trình giáo dục (theo nghĩa hẹp), là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn
bộ hoạt ddộng của nhà trường. Do đó, quản lý quá trình đào tạo là một bộ phận
chủ yếu trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường.
Như vậy, quản lý đào tạo về thực chất là quản lý: Mục tiêu đào tạo, nội

Người học trở thành Hoạt động học trong quản lí đào tạo); các thành tố này có
mối quan hệ tương tác với nhau, có thể biểu diễn trong sơ đồ 1.3 dưới đây:
YCXH: Yêu cầu xã hội
QLMT: Quản lí mục tiêu đào tạo
QLNDCTr: Quản lí nội dung, chương
trình đào tạo
QLPP: Quản lí phương pháp đào tạo
QLHĐD: Quản lí hoạt động dạy
QLĐK: Quản lí điều kiện (vật lực, tài lực,
thông tin lực, lực lượng ngoài đội ngũ
giảng dạy)
QLQC,MTr: Quản lí quy chế, Môi trường
đào tạo
QLBM: Quản lí bộ máy tổ chức đào tạo.
BM

NDCTr

KTĐG
MT
QC, MTr

VLVH ( hệ tại chức cũ) của Việt Nam đã có thâm niên gần 50 năm. Đ ng như
tên gọi của nó, thành tích đào tạo của bậc không chính quy này đã góp phần
gi đất nước có thêm nhiều cán bộ nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn
trong quá trình công tác. Trong điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam những năm
chiến tranh và sau khi thống nhất đất nước thì đây là giải pháp tốt cho việc nâng
cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ cho việc kiến thiết đất nước. Cũng từ đó
đến nay, hệ đào tạo này ngày càng phát huy khả năng vốn có của nó, mà ưu thế
lớn nhất là tạo điều kiện cho mọi người được tham gia học tập suốt đời, hình
thành xã hội học tập.
Trước xu thế và nhịp độ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội của đất
nước hiện nay, ngành Giáo dục - Đào tạo đang đứng trước nhiều thách thức lớn,
đó là, đào tạo được nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng cao,
chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hệ VLVH là một mô hình giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập thuận lợi cho toàn
xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương. Nhờ cách làm này nhiều người
ở vùng sâu, vùng xa, nhiều người ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh cũng có thể
tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời nhằm mở rộng nâng cao tầm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18

hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất
lượng cuộc sống, có điều kiện làm việc và thích nghi với đời sống xã hội.
Đối với xã hội và các địa phương, với quy mô đào tạo ngày càng tăng, hệ
vừa làm vừa học đã đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là hình thức để chính quyền quản
chẽ nguồn đào tạo, đảm bảo sau khi tốt nghiệp người học sẽ ở lại phục vụ tại
chỗ, cải thiện nguồn nhân lực cho địa phương. Hệ vừa làm vừa học còn góp
phần khuyến khích học tập, hình thành “ xã hội học tập” tại địa phương.
Đối với người học, hệ đào tạo vừa làm vừa học tạo cơ hội học tập suốt

bảo các yêu cầu về nội dung của chương trình hệ chính quy cùng trình độ đào
tạo.
Mục đích của đào tạo đại học hình thức VLVH bao gồm:
- Tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, có năng lực nhận thức tốt cả về
lý luận và thực tiễn; cung ứng, bổ sung kịp thời nguồn nhân lực cho những yêu
cầu mới trong phát triển Kinh tế - xã hội của địa phương; nâng cao kiến thức -
khoa học kỹ thuật -
nghiệp vụ cho mọi đối tượng trong xã hội.
- Khẳng định hiệu quả đào tạo của bất cứ hình thức nào (chính quy hay phi
chính quy) là phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của người sử dụng lao
động (đây cũng là mục tiêu, yêu cầu đổi mới cả cách giáo dục nói chung, đào
tạo Đại học nói
riên
g thông qua việc thực hiện quản lý đào tạo bằng hình thức
học chế tín chỉ).
- Xây dựng một xã hội học tập theo tư tưởng của Hồ Chí Minh; theo quan
điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ phát triển hội nhập; đồng
thời phù hợp với quan điểm của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên hợp
quốc UNESCO với 4 mục đích của giáo dục: Học để biết, Học để làm việc,
Học để tự khẳng định mình, Học để cùng chung sống.
1.3.3. Thực trạng đào tạo hệ VLVH tại các
trƣờng
cao đẳng, đại học
Việt Nam
Việt Nam đã chính thức công bố: tiến tới một xã hội học tập. Nói cho dễ
hiểu, đó là một xã hội mà người dân có cơ hội học tập suốt đời. Trong bất cứ giai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20


21

chương trình mang ng màu sắc nghiên cứu của hệ chính quy, không đáp ứng
cho những người đang đi làm. ng ta thử hình dung một nguồn nhân lực mà
có kiến thức ở bậc phổ thông thiếu một , lên đại học lại
bớt một ít, thì chất
lượng sẽ như thế nào? Rõ ràng, ng ta đã sai từ quan điểm khi
hình thành hệ
đào tạo này. Với hệ VLVH, nhất thiết nội dung chương trình đào tạo phải
hướng kiến thức người học đến gần với thế giới nghề nghiệp chuyên môn
mà họ đang làm sẽ chọn sau này. Họ không thể và càng không phải là cái
“bóng mờ”của hệ đào tạo chính quy. Với yêu cầu của thời đại, đại học hôm nay
không thể chỉ dừng lại ở mô hình đào tạo tinh hoa nữa, yêu cầu phổ cập đại học
là chuyện không thể tránh được trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, hội
nhập toàn cầu. Do đó, đất nước nào dù giàu có đến đâu cũng không đủ sức phát
triển chỉ một loại hình đại học tinh hoa (nghiên cứu), vừa lãng phí về đầu tư,
vừa không thể đáp ứng được khả năng học tập của người dân. Bởi năng lực học
tập và hoàn cảnh học tập cũng như định hướng tương lai nghề nghiệp của mỗi
người mỗi khác.[29]
Thay đổi tên gọi từ hệ “tại chức” sang hệ VLVH từ thực trạng biến
tướng. Đào tạo hệ VLVH nở rộ từ năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, và bị
biến tướng khi đối tượng đi học không chỉ còn là những người đang đi làm,
được cơ quan cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện bằng
cấp. Để phù hợp với thực tế, khái niệm "hệ tại chức" được chuyển thành "hệ
VLVH" với đối tượng học cho cả những người chưa đi làm. Đã có thời kỳ, các
trường đại học ồ ạt mở rộng quy mô đào tạo đại học tại chức, đến mức có
những trường có cơ sở trên tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Khi nhìn nhận
thực tế về chất lượng đào tạo, đã có những ý kiến đề nghị xiế xóa bỏ
hệ này, nhưng vì là "nồi cơm" của các trường đại học nên không thể bỏ như câu
nói của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Bên cạnh đó, vấn nạn học để lấy

lượng dạy và học, vì thế khối lượng kiến thức cũng phải ngắn theo. Ví dụ
một môn học có khối lượng là bốn đơn vị học trình (hệ niên chế), tương đương
với 60 tiết giảng. Sinh viên hệ chính quy sẽ được học đầy đủ 60 tiết, tuy nhiên
sinh viên hệ VLVH "được" ngắn xuống còn từ 38 đến 42 tiết (tùy môn học).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23

Thời gian đào tạo đối với những lớp VLVH học tại cơ sở ĐT, dù
ngắn 1/3 thời gian học, nhưng vẫn được học trong thời gian 6 đến 7 tuần (trung
bình mỗi tuần 06 tiết). Nhưng đối với những lớp học được tổ chức tại địa
phương, đ biệt các lớp liên kết đào tạo, để tiết kiệm chi phí và tạo điều kiện
thuận lợi (cho cả người học lẫn người dạy). Thời gian học được ngắn đến
mức tối đa mà không có sự quản lý và kiểm soát của cơ sở đào tạo cũng như
cơ sở liên kết. Ví dụ môn học 60 tiết giảng nêu trên, thời lượng giảng dạy trung
bình khoảng 40 tiết, và sẽ được dạy trong 08 ngày, mỗi ngày 05 tiết. Tuy nhiên:
lớp đề nghị, thầy đề nghị học cả ngày, nghĩa là thời gian dạy chỉ còn
04 ngày (mỗi ngày 10 tiết). Với thời gian như vậy, đến sinh viên chính quy
chỉ ăn và học còn không tiếp thu nổi, chứ đừng nói gì đến sinh viên VLVH.
Khi các cơ sở đào tạo được tự chủ trong tuyển sinh các ngành học, được
xây dựng chương trình học và thi riêng, được mở lớp và liên kết mở lớp tại
các địa phương cũng như đào tạo VLVH là "nồi cơm" của các trường thì quy
mô mở rộng là điều tất yếu. Tất cả các cơ sở đào tạo đều mở rộng quy mô bằng
cách mở lớp tại các địa phương. Có những trường ĐH, 64 tỉnh thành thì có đủ
64 cơ sở đào tạo tại chức. Có những trường đại học còn có 2-3 cơ sở trong cùng
một tỉnh thành. Tình trạng trăm hoa đua nở, trường trường mở lớp tại chức,
người người nộp tiền đi học tại chức. Và m có tới 50% số thi sinh dự thi
hàng năm đỗ vào các trường ĐH, CĐ, nhưng không vì thế mà số lượng sinh viên
hệ VLVH giảm xuống. Thực trạng đó dẫn đến chất lượng cán bộ công chức làm
việc kém hiệu quả. [29]

bằng chung của hệ VLVH yếu kém.
Từ đó chúng tôi thấy tố chất của người học mới là mấu chốt của vấn đề
chứ không phải là các yếu tố khác”. Thời gian qua, các trường Cao đẳng, Đại
học được mở ra, các địa phương hình thành nhiều trung tâm, cơ sở liên kết đào
tạo và đã đem lại lợi ích cho nhiều bên. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh
hình thức đào tạo này nhưng không kiểm soát chăt chẽ điều kiện, quy trình đào
tạo nên chất lượng đào tạo ngày càng xuống cấp; việc tổ chức thi tuyển, quản lý
đào tạo, dạy không đủ giờ, không đủ nội dung của giáo viên cũng góp phần làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25

chất lượng đào tạo giảm sút.
Trong số sinh viên hệ VLVH hiện nay cũng có nhiều người có ý thức và
học tập tốt nên xã hội cần phải bảo vệ quyền được học cho những người này.
Đây là hình thức đào tạo nên được duy trì để tạo cơ hội học tập suốt đời cho
nhiều người chưa có ho ưa đủ điều kiện để học đại học chính quy và là một
nhu cầu chính đáng.
Khả năng nhận thức, tư duy và vốn kiến thức phổ thông của mỗi người học
khác nhau, do đó, có một số ít người học có thể dùng mánh khóe khác nhau
trong quá trình học để đạt được mục tiêu kiếm được tấm bằng cử nhân, trong
khi đó, hoạt động này rất khó kiểm soát. Đây cũng là một trong nhiều nguyên
nhân làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo Đại học Cao đẳng hệ VLVH.
Hệ đào tạo này chất lượng còn kém là do chưa đảm bảo từ chất lượng đầu
vào, chưa ý đến đối tượng chính là cán bộ - viên chức muốn học để nâng
cao chuyên môn; chưa tổ chức lại quy trình đào tạo, xem nhẹ thời gian biểu,
xem nhẹ việc bố trí giảng viên.
Đơn vị sử dụng lao động chưa có sự thay đổi nhiều về tư duy trong bằng
cấp khi tuyển dụng người lao động, do đó người học Đại học hệ VLVH luôn
mang những nỗi m cảm của mình so với hệ chính quy. Bên cạnh đó nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status