MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM TỶ LỆ HỌC
SINH YẾU, KÉM MÔN VẬT LÝ
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài
-Trong những năm gần đây và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, chúng ta đang tiến hành cuộc cách mạng toàn diện trên mọi
lĩnh vực, trong đó đổi mới giáo dục là một trong những trọng tâm của công cuộc
đổi mới.Với quan niệm giáo dục là quốc sách hàng đầu, báo cáo chính trị của đại
hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ”. Trong
thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực
để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động lớn
như : "Hai không", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo", "Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Qua thực hiện các cuộc vận động
này đã làm giáo dục thay đổi khá nhiều về mọi mặt.
-Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ
học sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để tất cả các đối tượng học
sinh này có thể khai thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu là
vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng tiếp thu
bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh khác. Cần xem xét
những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra những biện
pháp nhằm dẫn dắt các em thu được kết quả cao nhất, tránh cho các em bị rơi vào
những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân muốn
trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học
Trang………………………………………………………………………………….…...1
-Nâng cao chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay
và đổi
mới giáo dục toàn diện là một trong những vấn đề trọng tâm phải thực hiện.
b.Phương pháp nghiên cứu đề tài
-Kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học để thực hiện đề tài:
+Phương pháp dạy thực nghiệm áp dụng các giải pháp đã đề ra
+Điều tra, so sánh, đối chiếu kết quả học tập của học sinh của từng năm và các bộ
môn liên quan
+Trao đổi với học sinh, đồng nghiệp để tìm hướng giải quyết vấn đề
III.Giới hạn của đề tài
-Đề tài nghiên cứu một số giải pháp giảm tỉ lệ học sinh yếu kém môn vật lý trong
trường học THCS
-Thời gian nghiên cứu đề tài :Từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 05 năm 2014
-Địa điểm : Trường trung học cơ sở Nguyễn Công Trứ
-Đối tượng học sinh lớp: 9A-9B
IV.Các giả thiết nghiên cứu
- Cơ bản nắm được thực trạng và những nguyên nhân khách quan, chủ quan
dẫn đến chất lượng học tập của học sinh yếu kém ở môn vật lý.
-Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo
viên bộ môn vật lý giảng dạy và lấy thông tin hồ sơ của học sinh.
-Phân loại thành công các nhóm học sinh yếu kém
-Có sự kết hợp thông tin hai chiều nhà trường với phụ
huynh học sinh và ngượi lại.
V.Cở sở lý luận, cơ sở thực tiễn
a,Cơ sở lý luận :
- Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT
nhắc kĩ lưỡng những thông tin nhận được để “ lấp lại lỗ hổng kiến thức”
và phải luôn có hành động phản hồi lại kiến thức một cách chính xác,
khoa học nhất.
b,Cơ sở thực tiễn.
Trang………………………………………………………………………………….…...4
-Từ thực tế việc giảng dạy môn Vật lý ở Trường THCS Nguyễn Công Trứ
những năm qua thì tỷ lệ học sinh yếu kém rất cao, ảnh hưởng không nhỏ đến kết
quả học tập chung của các em. Giảm tỷ lệ học sinh yếu kém trong môn vật lý cũng
đồng nghĩa với việc góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và giảm học sinh bỏ
học.
-Việc giảm tỉ lệ học sinh yếu môn vật lý phần nào phản
ánh được hiệu quả việc đổi mới phương pháp giảng dạy của
giáo viên bộ môn.
-Môn Vật lý trung học cơ sở là một môn học có thể nói là khó học, khó hiểu
với
nhiều
học
sinh
nhất
là
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, chưa có quyết tâm học
tập, mất căn bản kiến thức ngay từ lớp dưới. Nhiều học sinh đuối sức trong học
tập, không theo kịp các bạn, thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp
Trang………………………………………………………………………………….…...5
đang học (ngồi nhầm lớp), sinh ra chán học, sợ học.. Khả năng chú ý và tập trung
vào bài giảng của giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải
giúp.
- Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học: hầu hết là học thụ động,
lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng
không hiểu gì cả ), học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức
- Học sinh lười học: Đa số các em không có thời gian cho việc tự học, không
chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài,
cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường.
- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể
phủ nhận với chương trình học tập hiện nay. Nguyên nhân này có thể nói
đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học
sinh. Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học
tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Trình độ tư duy, vốn
kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, chưa biết phát huy khả năng của mình.
Nhiều học sinh chưa biết đổi đơn vị, chưa biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán
cơ bản, cần thiết.
- Một số học sinh đi học thất thường, đến trường nhưng không vào lớp
học, ham chơi, la cà quán xá.
b. Về phía gia đình học sinh
- Đa số Gia đình học sinh làm nghề biển, gặp nhiều khó khăn về kinh tế
khiến trẻ không chú tâm vào học tập, cũng như bố mẹ lo làm lụng suất ngày không
có thời gian quan tâm chú ý đến việc học tập của các em; một số ít phụ huynh
trong vùng đi làm ăn xa để con ở nhà một mình hoặc với ông bà lâu lâu mới về nên
sâu kiến thức trọng tâm nên khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học
sinh không tự suy nghĩ trả lời mà lập tức cắm cúi vào sách giáo khoa,
vào tài liệu, có khi còn sợ bị gọi trả lời, làm tiết học trở nên trầm trầm rời
rạc. Kết quả là giáo viên thường xuyên bị “ cháy” giáo án, học sinh nắm
bài hời hợt trở thành yếu kém làm hiệu quả tiết dạy chưa cao .
- Môn Vật lý là một môn học thực nghiệm nhưng một lượng lớn giáo
viên sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn
Trang………………………………………………………………………………….…...7
hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học; một số giáo
viên thì ngại sử dụng nên đã làm cho việc tiếp thu kiến thức của học
sinh trở nên thụ động, không tạo được hứng thú và kích thích niềm say
mê môn học của học sinh.
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém,
không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình Chưa xử lý hết
các tình huống trong tiết dạy, chưa động viên tuyên dương kịp thời khi
học sinh có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù là rất nhỏ.
e. Môi trường xã hội:
- Tình hình kinh tế xã hội của địa phương nhìn chung có đi lên nhưng
không
ổn
định,
theo
mùa
năm
học
qua,
tham
khảo
thêm
điểm
một
môn học có liên quan hoặc gần gũi cùng khối như Toán,
số
Hóa.
-Điểm khảo sát chất lượng học sinh đầu năm.
-Những biểu
hiện
và
quá
+ Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để
học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực
tiễn.
+ GV phải tăng cường sử dụng triệt để các thí bị thí nghiệm, ĐDDH sẵn có
và tự làm trong các bài học, tăng cường cho học sinh làm các thí nghiệm
thực hành. Đồng thời, giáo viên định hướng và giao nhiệm vụ cho các nhóm
học sinh (đặc biệt là nhóm các học sinh yếu kém) tự làm các thí nghiệm đơn
giản và các ĐDDH có trong chương trình học.
+ Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn
cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ
chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt
và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của
việc học. Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập
của học sinh. Do hiện nay, đa số các phụ huynh thiếu sự quan tâm đến con
cái, bản thân phụ huynh cũng chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học
tập. Giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm
đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho
các em ý chí phấn đấu vươn lên.
Trang………………………………………………………………………………….…...9
- Giáo viên xây dựng một môi trường học tập thân thiện trong từng tiết dạy của
mình: Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả
cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm
giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những tâm tư tình cảm, những suy nghĩ
trong cuộc sống và đặc biệt là những khó khăn trong học tập của bản thân mình.
+ Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không
la mắng nặng lời hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học
sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng
mình.
tìm
được
vị
trí
đích
thực
của
mình
trong
tập
thể.
Ví dụ yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể
dành cho 1-3 bài, còn 1-2 bài mức độ cao hơn dành cho các đối tượng
học sinh khá hơn.
-Nhà trường tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡ
trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo từ 1 đến 3 tiết trong
một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải được giáo viên chuẩn bị kỹ, làm
sao cho học sinh đi học phụ đạo thấy được rằng việc đi học này có tác dụng, bổ
ích, học sinh có khả năng tiếp thu và tiến bộ trong học tập thì công tác phụ đạo mới
sinh tự tìm ra kiến thức. Điều đó, yêu cầu học sinh phải tự nghiên cứu, tự
tìm tòm, tự khám phá theo sự định hướng, dẫn dắt của giáo viên, tức là
học sinh phải hoạt động nhiều hơn. Trước vấn đề đó, người giáo viên
phải thường xuyên tìm tòi, khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận
dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với
từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh hướng
phát huy chủ động, sáng tạo.Tuy nhiên đối với học sinh yếu kém, đôi khi trong quá
trình triển khai các hoạt động, tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm, thảo luận
lại phản tác dụng . Ví dụ: Học sinh đã học yếu, khả năng tiếp thu, phân tích, kết
luận hạn chế mà khi được giáo viên phân công vào nhóm có các học sinh khá hơn
thì học sinh yếu sẽ thụ động hẳn đi, không tự tin nêu ra ý kiến của mình, ỷ lại vào
các bạn học khá hơn sẽ đại diện cho nhóm nên học sinh yếu không muốn hoạt
Trang………………………………………………………………………………….…...11
động và sẽ càng yếu hơn. Bên cạnh đó việc đổi mới phương pháp này đòi hỏi học
sinh phải tự giác, tự học rất cao, mà đối tượng học sinh yếu kém lại rất hạn chế ở
khả năng này. Vì thế theo ý kiến của cá nhân tôi thì đổi mới phương pháp, đặc biệt
là phương pháp hoạt động và thảo luận nhóm thì không phải bài nào cũng
áp dụng được mà chỉ nên vận dụng vào các bài đơn giản dễ hiểu, tiết bài
tập.
- Giao nhiệm vụ về nhà và hướng dẫn phương pháp tự học: Đây là một biện pháp
rất quan trọng đối với học sinh yếu kém
+ Trong mỗi tuần giao cho các em các một phần kiến thức
mà các em hổng, các em yếu và một lượng bài tập vừa phải về nhà.Tuy
nhiên cần chú ý là phần kiến thức và hệ thống bài tập giao về nhà phải
phù hợp với các nhóm học sinh yếu kém ở trên.
+ Trong các tiết dạy giáo viên tỏ thái độ quan tâm, nhắc nhở và để tạo sự cởi
mở trong giao tiếp làm cho các em không ngần ngại. Mặt khác để các em có
cơ hội hỏi giáo viên những chỗ các em bị vướng mắc, chưa hiểu để về nhà
tượng
học
sinh
này,
kết
hợp
nhiều
mặt trong quá trình học tập của các em như:
+ Qua các con điểm các em đạt được trong các bài kiểm tra miệng, 15
phút, 45 phút và học kỳ.
+ Qua các biểu hiện học tập bộ môn trong cả học kỳ: thái độ, động cơ
học tập có thay đổi không? Nhiệm vụ giao cho về nhà ( bài tập, ghi
chép ) hoàn thành như thế nào? Ý thức học tập trên lớp như: xây dựng
bài, hoạt động và làm việc theo nhóm .Giáo viên bộ môn phối hợp chặt chẽ
với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
c. Các giải pháp cụ thể
Các biện pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh yếu kém như sau:
Đối với nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung, không có
hoặc có khả năng tiếp thu bài rất thấp
+ Khi triển khai bài mới, xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức
nền (những kiến thức cơ bản, có nắm được những kiến thức này mới giải
quyết được những câu hỏi và bài tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền
đối
với
học
sinh
yếu
kém,
coi
trọng
tính
vững
chắc
của kiến thức và kỹ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao mở rộng kiến
thức.
+ Khi hướng dẫn học sinh luyện tập,
đặc biệt chú ý đến các điều
sau: Đối với học sinh yếu chỉ nên yêu cầu các em làm các dạng toán thật
học
sinh
khác.
+ Sau khi thấy các em cơ bản làm được bài, giáo viên lên bảng yêu cầu
học sinh đứng tại chỗ trình bày, mỗi bước giải là một học sinh đễ tập
trung cả nhóm. Trong quá trình giải, giáo viên nhấn mạnh những chỗ học
sinh hay sai lầm, nên tránh.
+ Khi các em đã làm được bài nên khen ngợi cá nhân và nhóm học
sinh này, đồng thời phải cho điểm cao để khích lệ. Nên chú ý nêu các em
có làm sai chúng ta cũng không nên chê bai trước lớp mà phải tìm những
cái nhỏ nhất mà học sinh làm được để khen hoặc khen về mặt tự giác học
tập của học sinh.
-Đối với Nhóm 2: Có ý thức học tập, có khả năng tiếp thu bài nhưng
chậm so với học sinh bình thường.
+ Giáo viên chia nhỏ nhóm học sinh này ra, các nhóm được chia càng
nhỏ càng tốt, phân công các học sinh khá về học cùng nhóm này để giúp
đỡ các học sinh yếu này. Theo dõi sát trong quá trình học cũng
như sau mỗi bài kiểm tra, nếu nhóm nào tiến bộ tôi tuyên dương và cộng
điểm thưởng nhóm trưởng.
+ Giáo viên chú ý phân tích cho học sinh những kiến thức thường sai,
việc phân tích này thường xuyên thực hiện kết hợp trong các tiết học bài
Trang………………………………………………………………………………….…...14
mới cũng như các tiết luyện tập để giúp các em lấp lỗ hổng, chỗ yếu
học sinh các năm trước vì không chú tâm học nên không đạt điểm lên lớp. Nêu lên
những tấm gương các bạn học sinh vượt lên trên hoàn cảnh để đạt
được kết quả cao trong học tập
-Giúp các em tránh xa các trò chơi vô bổ, tránh xa các bạn bè hư hỏng:
phân tích cho các em về sự tác hại của các trò chơi đến tinh thần, đến sức
khỏe và đến học tập của các em. Đồng thời, làm thay đổi nhận thức
về bộ môn và tăng lòng yêu thích học tập bộ môn để cuốn các em quay
trở về việc học tập: giao cho các em thực hiện các công việc đơn giản, sau đó đánh
giá trước lớp, có tuyên dương khen thưởng và cho điểm.
-Bên cạnh đó phải tăng cường kiểm tra bài đầu giờ, cuối giờ; kiểm tra
việc ghi chép bài và làm bài tập ở nhà. Chú trọng kiểm tra bài cũ các em
yếu kém. Đối với những học sinh tiến bộ có học bài, làm bài, giáo viên
động viên, khuyến khích tinh thần của các em, khen ngợi các em trước
lớp. Giáo viên nghiêm túc phê bình những em chưa tiến bộ, giáo viên
cho học sinh thời hạn, sau thời hạn đó giáo viên cho học sinh kiểm tra
bài để học sinh có thể sữa chữa những con điểm xấu, từ đó tạo tâm lí cho
học sinh cảm thấy có động lực học và thấy bản thân có khả năng học nên
sẽ cố gắng hơn trong thời gian tới.
-Ngoài ra, tôi phải kết hợp với các giáo viên bộ môn khác, giáo viên
chủ nhiệm, các bộ lớp để thường xuyên kiểm tra, đôn đóc, nhắc nhở và
theo dõi sự tiến bộ của các em học sinh này để kịp thời động viên kịp
thời. Đồng thời phải phối hợp với gia đình để tăng hiệu quả của các biện
pháp giáo dục.
C .KẾT LUẬN
I,Ý nghĩa của đề tài đối với công tác
- Qua việc áp dụng các giải pháp để giảm tỉ lệ học sinh yếu, kém môn vật lý tôi
nhận thấy đề tài đã có những thành công bước đầu mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn
bất cập. Một số học sinh yếu, kém vẫn chưa tiến bộ là do không có động cơ học
19
5/2014
30
24
67%
81%
63%
80%
II,Kinh nghiệm
-Giáo viên phải phân loại học sinh yếu, kém phải tương đối chính xác từ đó có biện
pháp giáo dục hợp lý.
-Kết hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường: Đoàn, đội, tổ chuyên môn
và kết hợp với gia đình học sinh để việc giáo dục có hiệu quả
-Đổi mới phương pháp giảng dạy ,sử dụng các đồ dùng dạy học, giáo cụ trực quan
để tạo hứng thú cho các em, đặt biệt là các em học sinh yếu, kém. Khuyến khích,
khen ngợi các em khi có sự tiến bộ, mặc dù chỉ tiến bộ chút ít đó là sự thành công
bước đầu.
-Giáo viên cần gần gũi, thân thiết với học sinh; tạo niềm tin cho các em trong học
tập.
III.Kiến nghị :
- Các tổ nhóm chuyên môn cần tổ chức dự giờ của các đồng chí trong
nhóm. Từ đó để góp ý cho nhau về phương pháp giảng dạy, đặc biệt là phương
pháp dạy ở các lớp có nhiều học sinh yếu kém. Đồng thời các nhóm cũng thường
xuyên trao đổi đánh giá về sự tiến bộ của các lớp có nhiều học sinh yếu kém trong
a.Mục đích nghiên cứu ...............................................................
02
b.Phương pháp nghiên cứu đề tài ...........................................................................
02
III.Giới hạn của đề tài ..............................................................................................
03
IV.Các giả thiết nghiên cứu ......................................................................................
03
V.Cở sở lý luận, cơ sở thực tiễn ...............................................................................
03
a,Cơ sở lý luận : ........................................................................................................
03
b,Cơ sở thực tiễn. ..............................................................................................
04
B.PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng của vấn đề ..........................................................................................
05
a. Về phía học sinh ....................................................................................................
05
b. Về phía gia đình học sinh .....................................................................................
06
Trang………………………………………………………………………………….…...19
c.Về phía giáo viên ....................................................................................................
06
e. Môi trường xã hội………………..........................................................................
Trang………………………………………………………………………………….…...21
Xác nhận, đánh giá, xếp loại của
đơn vị :
Long Hải, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tôi xin cam đoan, sáng kiến kinh nghiệm
………………………………… này là do bản thân tôi viết, không sao
…………………………………
chép nội dung của bất kỳ ai.
…………………………………
…………………………………
…………………………………
…………………………………
VÕ TRƯỜNG BẢO PHƯƠNG
…………………………………
…………………………………
…………………………………
…………………………………
…………………………………
…………………………………
…………………………………
Thủ trưởng đơn vị