Dẫn độ trong tương trợ tư pháp - Lý luận, thực tiễn, bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật. - Pdf 50

A.

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, mặt trái của quá trình phát triển của các
quốc gia là sự gia tăng không ngững của tỷ lệ tội phạm cả về mà mức độ và tính
chất nguy hiểm. Để nhằm ngăn chặn, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm thì
hoạt động dẫn độ tội phạm luôn được các quốc gia coi trọng và thể hiện trong các
điều ước quốc tế song phương và đa phương với nhau và thậm chí dẫn độ tội phạm
còn được các quốc gia thể chế hóa trong quy định pháp luật của chính quốc gia
mình.
Sau đây là một số lý thuyết về dẫn độ, thực tiễn áp dụng cũng như các tồn tại
vướng mắc về hoạt động dẫn độ tội phạm tại các nước và điển hình là Việt Nam.

B.
I.

NỘI DUNG

Khái Niệm Và Đặc Điểm Dẫn Độ
1. Khái niệm
Dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp đã có từ rất lâu trong lịch sử phát

triển của loàì người. Khái niệm dẫn độ được pháp luật nước ta quy định trong Luật
tương trợ tư pháp 2007 tại Khoản 1 Điều 32:”Dẫn độ là việc một nước chuyển giao
cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết án hình sự đang có
mặt trên quốc gia của mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình
sự người đó”.
2. Đặc điểm
Một, dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp giữa các quốc gia. Tuy
nhiên, dẫn độ không giống với tương trợ tư pháp hình sự, nó là một chế định độc

ước song phương hay đa phương về dẫn độ. Vấn đề có đi có lại là nhu cầu xuất


phát từ thực tiễn khách quan và sớm trở thành thông lệ được áp dụng rộng rãi trên
thế giới.
Nội dung của nguyên tắc được thể hiện : khi một quốc gia được yêu cầu dẫn
độ một người cho quốc gia khác thì quốc gia này sẽ chỉ đáp ứng yêu cầu dẫn độ khi
và chỉ khi quốc gia được yêu cầu có cơ sở chắc chắn rằng trong trường hợp tương
tự ở tương lai quốc gia yêu cầu dẫn độ sẽ đáp ứng yêu cầu của quốc gia này.
Đây là nguyên tắc được áp dụng rộng rãi sở dĩ nó thể hiện sự bình đẳng giữa các
quốc gia vì chỉ khi các quốc gia thật sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau thì nguyên
tắc có đi có lại mới phát huy được hiệu quả. Đây cũng là một nguyên tắc thể hiện
tính linh hoạt áp dụng trong dẫn độ tội phạm khi mà nó cho phép giữa các nước
không có quan hệ hay chưa kí với nhau một điều ước nào về dẫn độ có thể thực
hiện được các yêu cầu pháp lí mà không cần phải đi đến các thủ tục rườm rà, phức
tạp.
2. Nguyên tắc tội phạm kép.
Đây là một trong những nguyên tắc cốt lõi cũng như là nguyên tắc đặc thù
của hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia. Pháp luật các quốc gia, các điều ước quốc
tế song phương và đa phương liên quan đến nội dung dẫn độ đều ghi nhận nguyên
tắc này.
Nội dung của nguyên tắc được thể hiện : để yêu cầu dẫn độ được thực hiện
thì hành vi nguy hiểm cho xã hội phải cấu thành tội phạm ở quốc gia yêu cầu dẫn
độ và cả quốc gia mà người phạm tội chạy trốn đến. Hay nói cách khác, một người
chỉ có thể bị dẫn độ khi hành vi của người đó đều bị coi là tội phạm và cấu thành
tội phạm theo pháp luật hình sự của quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu.
Trên thực tế, giữa các nước luôn xảy ra sự xung đột danh pháp khi một hành vi
được coi là tội phạm ở quốc gia này nhưng được coi là vô tội ở quốc gia khác. Vì



III. Một số nội dung pháp luật về dẫn độ
1. Các trường hợp bị dẫn độ
Cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án bằng một bản án
có hiệu lực pháp luật và đã bỏ trốn sang quốc gia khác thì quốc gia nơi người này
phạm tội hoặc nơi mà người này bị kết án có quyền yêu cầu quốc gia mà người đó
bỏ trốn sang dẫn độ về nước để truy cứu TNHS hoặc thi hành bản án đã tuyên. Do
vậy người bị dẫn độ luôn phải là một cá nhân cụ thể, tuy nhiên không phải bất cứ
cá nhân cụ thể phạm tội nào cũng là đối tượng của dẫn độ. Thông thường người
phạm tội bị dẫn độ khi thỏa mãn các điều kiện được ghi nhận trong các điều ước
quốc tế song phương, điều ước quốc tế khu vực, điều ước quốc tế đa phương và
pháp luật quốc gia. Đối với pháp luật Việt Nam một cá nhân phạm tội bị dẫn độ khi
thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 33 Trường hợp bị dẫn độ ( Luật TTTP
2007) theo đó đã xác định ra ba căn cứ để dẫn độ:
Một là, người có thể bị dẫn độ theo quy định của Luật này là người có hành
vi phạm tội mà Bộ luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của nước yêu cầu
quy định hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình
hoặc đã bị Tòa án của nước yêu cầu xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù
còn lại ít nhất sáu tháng. ( K1 Điều 33 LTTTP 2007 )
Theo đó chỉ có thể dẫn độ một người thực hiện hành vi phạm tội khi hình
phạt áp dụng đối với người đó thấp nhất là 1 năm hoặc đối với trường hợp đã bị xử
phạt tù thì thời hạn chấp hành hình phạt còn lại ít nhất 6 tháng. Thời gian còn lại ít
nhất 6 tháng nhằm mục đích đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho
phạm nhân có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.


Hai là, hành vi phạm tội của người quy định tại khoản 1 Điều này không
nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu
thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật Việt
Nam và pháp luật của nước yêu cầu.( K2 Điều 33 LTTTP 2007 )
Pháp luật của các quốc gia ngoài những điểm tương đồng nhau thì luôn có

Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định về các trường hợp từ chối
dẫn độ cho nước ngoài như sau:
Trường hợp thứ nhất, người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam.
Khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch 2008 quy định: “Người có quốc tịch Việt Nam là
công dân Việt Nam” đồng thời tại khoản 2 Điều 17 Hiến pháp 2013 cũng quy định:
“Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.” Như
vậy trường hợp từ chối dẫn độ nếu người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam
phù hợp với nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình, đảm bảo việc một
người không thể bị dẫn độ nếu có thể chứng minh được có quốc tịch Việt Nam và
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm bảo hộ công dân
Việt Nam. Như vậy, đối với trường trường hợp này, nếu người bị yêu cầu dẫn độ có
thể chứng minh mình mình mang quốc tịch Việt Nam thì không thể bị dẫn độ bởi
cơ quan có thẩm quyền Việt Nam.
Thứ hai, theo quy định của pháp luật Việt Nam người bị yêu cầu dẫn độ
không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời
hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác. Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết


thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được tính
từ ngày tội phạm được thực hiện. Người phạm tội cũng có thể không bị dẫn độ vì
những lý do hợp pháp khác, ví dụ như được miễn trách nhiệm hình sự khi có một
trong các căn cứ được quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015.
Thứ ba, người bị yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự đã bị Tòa
án của Việt Nam kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội
được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị đình chỉ theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam. Như vậy, trường hợp bản án kết tội của Tòa án Việt
Nam đối với người phạm tội về tội phạm trong yêu cầu dẫn độ đã có hiệu lực pháp
luật thì người pham tội không thể bị dẫn độ. Quy định này thể hiện nguyên tắc
không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (khoản 3 Điều 31 Hiến pháp 2013 và

1. Đạt được
Thứ nhất, Đảng và nhà nước đã có những quan tâm, chú trọng xây dựng các
văn bản luật, nghị định, ký kết các hiệp ước song phương, hiệp ước quốc tế liên
quan đến hoạt động dẫn độ. Các cơ quan có thẩm quyền của nước ta đã phối hợp
chặt chẽ được với các cơ quan có thẩm quyền tương ứng về hoạt động dẫn độ của
nước khác, đối với các quốc gia có chung đường biên giới thì hoạt động này càng
được quan tâm chặt chẽ hơn nhằm thực hiện việc dẫn độ hợp pháp, nhanh chóng và
phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam, luật pháp nước bạn và pháp luật
quốc tế.
Hai là, cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ ngày càng được hoàn thiện, nâng
cao phù hợp tình hình hiện tại.


Ngày nay, không quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa cũng
như hội nhập quốc tế. Do đó mà tội phạm và các vi phạm pháp luật khác ngày càng
có xu hướng “quốc tế hóa”, số lượng yêu cầu dẫn độ giữa các quốc gia tăng cao,
tính chất các loại tội phạm ngày càng phức tạp, gây ra nhiều khó khăn, đòi hỏi các
quốc gia phải bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy định liên quan trong hoạt động
dẫn độ. Một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và một số quốc
gia khác là: Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm
2003( Hiệp định gồm 20 Điều, là hiệp định song phương chuyên biệt đầu tiên về
dẫn độ của nhà nước ta); Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô viết
ký ngày 10/12/1981, nội dung về hình sự và dẫn độ quy định tại Chương III
"Tương trợ tư pháp về hình sự dẫn độ", gồm 16 điều từ Điều 53 đến Điều 68. Hiệp
định này hiện nay Liên bang Nga đã kế thừa…Ngoài hiệp định chuyên biệt đầu
tiên về dẫn độ trên, hiện nay, hai hiệp định song phương mới nhất về dẫn độ tội
phạm đã được nước ta đàm phán kí kết là Ấn Độ (2013) và Hungari (2013).
Hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng đã được bổ sung và hoàn thiện nhằm
đáp ứng với tình hình trong nước cũng như quốc tế. Tại Chương 37, phần 8 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định riêng về dẫn độ và chuyển giao tài liệu, vật

TTTP còn chưa thống nhất. Hầu hết các hiệp định TTTP đều quy định chỉ dẫn độ
để truy cứu TNHS đối với những đối tượng bị coi là tội phạm mà theo pháp luật
của cả hai quốc gia có thể bị áp dụng hình phạt ít nhất là một năm tù giam hoặc để
thi hành hình phạt đối với bản án đã tuyên từ một năm tù trở lên. Tuy nhiên, trong


một số hiệp định như Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Ba Lan, Việt Nam và Liên
Xô cũ, Việt Nam và Mông Cổ lại quy định hình phạt tối thiểu đã tuyên là từ 6
tháng. Điều này ở khía cạnh nào đó sẽ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng
của Việt Nam khi thực hiện thủ tục hoạt động dẫn độ.
Hai là, hệ thống các văn bản hướng dẫn các bộ luật, luật về tương trợ tư
pháp của Việt Nam còn chưa đầy đủ, cụ thể dẫn đến việc thực hiện của các cơ quan
chức năng còn gặp lúng túng. Mặc dù, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đến
việc đẩy mạnh xây dựng, ký kết các văn bản hợp tác quốc tế phòng, chống tội
phạm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều quốc gia chưa ký hiệp định
tượng trợ tư pháp hình sự với nước ta, dẫn đến tình trạng bị động, kéo dài, thậm chí
không giải quyết được việc dẫn độ.
Ba là, trong nhiều năm qua, việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về
hình sự theo các hiệp định tương trợ tư pháp mà nhà nước ta ký kết chưa đi vào
quy chuẩn. Việc thực hiện các hiệp định song phương đạt hiệu quả chưa cao; nhiều
khi quan hệ hợp tác chỉ đóng khung trên nguyên tắc “có đi có lại” mà không tuân
theo các quy định của văn bản đã ký kết. Bên cạnh đó, nhiều văn bản hợp tác đã ký
kết từ lâu nhưng không được tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm; cũng chậm được
sửa đổi, bổ sung nên vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc.
Bốn là, hạn chế về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện. Đội
ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp nói chung và
hoạt động dẫn độ nói riêng còn mỏng và yếu nhiều mặt đặc biệt là về ngoại ngữ và
kiến thức pháp luật quốc tế.
Những hạn chế, vướng mắc trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan, nhưng tập trung chủ yếu là những nguyên nhân sau:

thiết thực đến từ Nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền phụ trách việc thực
hiện hoạt động dẫn độ. Có thể kể đến một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý có liên quan đến vấn đề
dẫn độ. Như đã phân tích ở trên, hệ thống pháp luật về dẫn độ của chúng ta còn
nhiều khiếm khuyết, chưa rõ ràng, cụ thể, thiếu đồng bộ dẫn đến sự chồng chéo,
khó áp dụng, nhất là trong vấn đề về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan thực
thi và về trình tụ, thủ tục tiến hành dẫn độ. Do đó, trước mắt, các cơ quan lập pháp
cần tập trung xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành các
quy định về dẫn độ quy định trình tự, thủ tục thực hiện; xác định rõ thẩm quyền,
trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực
hiện hoạt động dẫn độ.
Thềm vào đó, chúng ta có thể tham khảo những trình tự, thủ tục dẫn độ của
pháp luật của Anh và Hàn Quốc nhằm tạo cơ sở pháp lí, cũng như tạo điều kiện
thuận lợi và thống nhất cho việc thực hiện thủ tục dẫn độ theo các hiệp định TTTP
mà Việt Nam đã kí kết với một số quốc gia trên thế giới.
Thứ hai, cần tích cực kí kết cũng như thực hiện các điều ước quốc tế song
phương và đa phương, nâng cao chất lượng khi thực hiện hoạt động dẫn độ giữa
Việt Nam và các quốc gia khác. Thực tiễn giải quyết hoạt động dẫn độ cho thấy,
việc tham gia ký kết các điều ước quốc tế mới chỉ là bước đầu, tạo nền tảng cho
hoạt động dẫn độ. Mặc dù, Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế song
phương và đa phương có quy định về dẫn độ hoặc là các điều ước quốc tế chuyên
biệt về dẫn độ. Tuy nhiên cũng cần phải chú trọng đến hiệu quả thực hiện các điều
ước quốc tế đó. Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia có sự tổ chức, phân công phù hợp
đối với từng giai đoạn, từ tuyên truyền đến phân công, tổ chức các cơ quan có thẩm


quyền tiến hành, đặc biệt có những văn bản thể hiện sự rõ ràng, cụ thể trong việc
phân bổ công việc cho các cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, hiện nay Việt
Nam chưa có quy định rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan trong việc áp dụng và
thực hiện điều ước quốc tế song phương và đa phương vì thế nhiều điều ước quốc

pháp lý cùng với các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Các
điều ước quốc tế song phương và đa phương giữa các quốc gia đã và đang là công
cụ hữu hiệu để giúp các quốc gia đấu tranh phòng chống tội phạm một cách tốt
nhất. Những hoạt động này sẽ góp phần vào sự đấu trnah chung của cộng đồng
quốc tế nhằm đảm bảo an ninh chung của các quốc gia và toàn thể nhân loại


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Thuận (Chủ biên) (2007), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an
Nhân dân, Hà Nội.
2. Nguyễn Giang Nam (2012), Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn
độ trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng cảnh sát
nhân dân (sách chuyên khảo), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội.
3. Trường đại học Luật Hà Nôi, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an Nhân
dân, Hà Nội 2011.
4. Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương trợ tư pháp về hình sự
và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống tội phạm” NXB
Chính trị quốc gia năm 2000
5. Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tương Trợ Tư Pháo
6. Luật tương trợ tư pháp năm 2007 của Việt Nam
7.

“Dẫn độ tội phạm trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với một
số quốc gia trên thế giới” – ThS. Ngô Thanh Xuyên – Viện Khoa học pháp
lý, bộ tư pháp – Cổng thông tin Bộ Tư Pháp




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status