A/MỞ ĐẦU:...........................................................................................................................1
B/NỘI DUNG:.......................................................................................................................2
I/Những vấn đề lý luận chung:..........................................................................................2
1/Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:........................................................................2
1.1/Khái niệm:..........................................................................................................2
1.2/ Đặc điểm:..........................................................................................................2
2/Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra:.......................................................................3
2.1/ Khái niệm:.........................................................................................................3
2.2/ Đặc điểm:..........................................................................................................3
3/Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm nguy hiểm cao độ gây ra:........................5
3.1/ Khái niệm:.........................................................................................................5
3.2/ Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ:...........................................................5
4/ Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra.......................................................................6
4.1/ Khái niệm:.........................................................................................................6
4.2/ Đặc điểm của thú dữ:........................................................................................7
II/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra:......................................................9
1/Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ):.................................................................9
2/Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:.......................................................10
2.1/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu:...........................................11
2.2/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng:..................12
2.3/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật:
.....................................................................................................................................13
3/Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại:....................................................14
3.1/Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại:..........................14
3.2/Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng và tình thế cấp thiết:...........15
III/Thực tiễn:....................................................................................................................16
IV/Kiến nghị hoàn thiện:.................................................................................................18
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
C/KẾT LUẬN:.....................................................................................................................19
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
tránh khỏi những sai sót, mong quý thầy cô góp ý để bài tiểu luận của em được
hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
B/NỘI DUNG:
I/Những vấn đề lý luận chung:
1/Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
1.1/Khái niệm:
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự theo đó,
người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường
những tổn thất mà mình gây ra mà giữa người có hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại và người bị thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng
nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng.2
1.2/ Đặc điểm:
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm
pháp lý nói chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có
những đặc điểm riêng sau đây:
-Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm
dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người hoặc tài sản
gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường
thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy
định trong Bộ luật dân sự ở Điều 13 và Chương XX và các văn bản hướng dẫn
thi hành Bộ luật dân sự.
-Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ
đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi
gây thiệt hại hoặc có sự kiện tài sản gây thiệt hại xảy ra trên thực tế, có mối
2 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội,Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2,NXB Chính trị quốc gia Sự thât, Hà
Nội, 2017, tr377.
3 Luận án tiến sĩ luật học Nguyễn Văn Hợi về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp
luật dân sự Việt Nam”
3
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
2.2/ Đặc điểm:
Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng có những đặc điểm
riêng biệt sau:
Thứ nhất, hoạt động của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại
Hiện nay vẫn tồn tại hai luồng ý kiến xung quanh vấn đề tài sản gây thiệt hại
có hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản hay
không? Ý kiến thứ nhất cho rằng khi tài sản gây thiệt hại vẫn tồn tại hành vi trái
pháp luật của chủ sở hữu hoặc các chủ thể khác, và hành vi trái pháp luật này có
thể tồn tại dưới dạng hành động hoặc không hành động và đó là nguyên nhân
dẫn đến thiệt hại. Ý kiến thứ hai (cũng là quan điểm của em) cho rằng khi tài sản
gây thiệt hại có thể tồn tại hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu hoặc các chủ thể
khác, nhưng hành vi này không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Hành vi
đó là hành vi liên quan đến hoạt động quản lý tài sản, và thiệt hại xảy ra không
phải là kết quả tất yếu của hành vi quản lý tài sản.Vì vậy, có thể thấy thiệt hại
xảy ra là hậu quả của sự hoạt động của tài sản, tức là không tồn tại hành vi gây
thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng tài sản.
Thứ hai, lỗi không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng minh
Đối với trường hợp tài sản gây thiệt hại, người bị thiệt hại không cần phải
chứng minh lỗi của chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng tài
sản. Thực tế cho thấy, lỗi là yếu tố gắn liền với hành vi trái pháp luật và có ý
thức của con người. Do đó, khi tài sản gây thiệt hại thì bản thân tài sản không
thể bị coi là có lỗi, bởi vì hoạt động gây thiệt hại của tài sản không thể coi là một
3.1/ Khái niệm:
Tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: “Nguồn nguy
hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện,
nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.”
Thế nhưng nguồn nguy hiểm cao độ trong Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ mang
tính chất liệt kê, chứ chưa đủ để gọi khái niệm. Do vậy, nghiên cứu sinh Nguyễn
5
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
Văn Hợi sau qua trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm khá đầy đủ trong luận án
tiên sĩ của mình. Nguồn nguy hiểm cao độ là:
“Nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản mà hoạt động của nó luôn
tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho con người và môi trường xung quanh với
mức độ cao hơn bình thường, mà chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng
và những người xung quanh khó có thể phòng tránh và phản ứng kịp thời.”
3.2/ Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ:
Từ khái niệm nêu ở trên, ta thấy được nguồn nguy hiểm có một số đặc điểm
sau đây:
Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn “tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại bất
ngờ cho con người hoặc gây thiệt hại về tài sản mà không phải bao giờ con
người cũng có thể lường được trước và có thể ngăn chặn” 4 .Đặc điểm này cho
thấy, con người “không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt
hại”5.
Thứ hai, tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ cao hơn các loại
tài sản khác. Các loại tài sản khác thường chỉ gây thiệt hại với tần suất thấp (nhà
sập xong là chấm dứt hoạt động gây thiệt hại, nhà bên cạnh thường khó có thể
sập theo).Tuy nhiên, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường xảy ra liên
“Thú dữ là một trong những loài động vật ăn thịt, rất lớn, chưa được con
người thuần hóa, hoạt động mang tính bản năng cao, có thể gây thiệt hại cho
con người và các loài động vật khác6”
4.2/ Đặc điểm của thú dữ:
Thú dữ có những đặc điểm riêng biệt, khác biệt so với những loại động vật
khác, chúng có một số đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, thú dữ là một nguồn nguy hiểm cao độ. Bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định Khoản 1 Điều 623 7 Bộ luật dân
sự năm 2005 và Khoản 1 Điều 6018 Bộ luật dân sự năm 2015. Nguồn nguy hiểm
cao độ được liệt kê bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải
điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc,
chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy
định. Hiện nay vẫn chưa có các nghị định hướng dẫn hoặc các nghị quyết của
6 Luận án tiến sĩ luật học Nguyễn Văn Hợi về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp
luật dân sự Việt Nam”, tr 86.
7 Xem Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
8 Xem Khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
7
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định chi tiết về các nguồn
nguy hiểm cao độ khác. Bởi trên thực tế có rất nhiều loài tuy nhỏ nhưng có khả
năng gây thiệt hại rất cao cho con người nhưng lại không được xếp vào thú dữ.
Ví dụ ong,..
Thứ hai, thú dữ là một loài có kích thước lớn so với con người. Chính vì kích
thước này nhưng vẫn chưa được thuần hóa nên thú dữ có khả năng gây thiệt hại
cho con người là rất cao.
Thứ ba, thú dữ là một loài có tính bản năng cao. Thú dữ bao gồm hổ, báo, sư
nuôi trong nhà không thể vượt khỏi tầm kiểm soát của con người ngay cả khi
con người đang không trực tiếp quản lý chúng (ví dụ: trâu, bò nhốt trong chuồng
thường không có phản ứng vượt ra ngoài). Trong khi đó, thú dữ là loài động vật
“không chấp nhận” sự kiểm soát của con người, chúng luôn có ý thức phản
kháng lại trước sự quản lý của con người. Ngay cả khi đang nằm trong sự kiểm
soát của con người, nhưng chỉ cần một sơ ý nhỏ của người quản lý, thú dữ sẽ
vượt khỏi tầm kiểm soát, thậm chí tấn công cả người đang quản lý. Đây chính là
đặc điểm cho thấy việc quản lý chặt chẽ thú dữ là vô cùng quan trọng, không thể
có bất cứ một sự lơ là nào trong việc quản lý thú dữ.
II/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra:
Thú dữ được liệt kê là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ được quy
định tại Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, tất cả những quy phạm
pháp luật điều chỉnh về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
cũng điều chỉnh bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra.
1/Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ):
Hiện nay, vẫn còn rất nhiều nhằm lẫn giữa bồi thường thiệt hại do tài sản gây
ra và bồi thường thiệt hại do hành vi con người con người thông qua tài sản.
Việc xác định đúng chủ thể gây ra thiệt hại là hết sức quan trọng để xác định cơ
sở pháp lý và chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Cụ thể là:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý để áp dụng: Nếu thiệt hại do thú dữ gây ra thì cơ
sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là quy định tại
Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra); Nếu thiệt hại xảy ra là do người sử dụng thú dữ gây
ra, tức là thiệt hại có liên quan đến thú dữ những không phải do tự thân thú dữ
9
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
gây ra thì cơ sở pháp lý được áp dụng là Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm
2015 (cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra nói
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
Những bằng chứng là người quản lý tài sản đưa ra để loại trừ yếu tố lỗi là căn cứ
quan trọng trong việc xác định chủ thể phải bồi thường. Đối với trường hợp thú
dữ gây thiệt hại, dường như việc chứng minh “không có lỗi” trong quản lý tài
sản không ảnh hưởng đến việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu,
người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường ngay cả
trong trường hợp không có lỗi. Theo quy định này, khi nguồn nguy hiểm cao độ
gây thiệt hại, người đang trực tiếp quản lý nguồn nguy hiểm cao độ sẽ phải bồi
thường thiệt hại, bất kể người đó có lỗi hay không có lỗi. Người trực tiếp quản
lý tài sản này có thể là người được hưởng lợi hoặc không được hưởng lợi ích từ
tài sản mình quản lý. Điều này cho thấy,pháp luật đặc biệt đề cao trách nhiệm
của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng trong việc quản lý nguồn nguy
hiểm cao độ.
Theo quy định tại các Khoản 2, 3và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể
thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc người chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật. Tuy nhiên, cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
các chủ thể này cũng khác nhau, cụ thể:
2.1/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu:
Chủ sở hữu là người sở hữu tài sản có đủ ba quyền năng bao gồm quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, là người hưởng lợi nhiều nhất từ tài sản. Theo lẽ
công bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu được hưởng thì khi tài sản
gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu thú dữ xuất phát từ việc chủ sở
hữu được hưởng lợi ích mà tài sản mang lại, bất kể trong việc quản lý nguồn
nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi.
Tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:
“Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất
Tại Khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015:
12
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
“Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử
dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy tại Khoản 2, trường hợp này là một trường hợp loại trừ trách nhiệm
bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu thú dữ mà cụ thể là khi chủ sở hữu đã giao
cho người cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải chịu trách
nhiệm bồi thường. Câu hỏi đặt ra là giao như thế nào thì chủ sở hữu thú dữ
không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay giao trong mọi trường hợp
đều được? Cả Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 đều không
quy định cụ thể, nhưng Nghị quyết 03/2006/NQ- HĐTP lại có hướng dẫn cụ
thể về vấn đề này. Theo hướng dẫn tại điểm đ tiểu mục 2 mục III Nghị quyết
này, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (thú dữ) gây ra
phải là người được giao thông qua một giao dịch và giao dịch này phải là giao
dịch hợp pháp.
Theo quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, trách
nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng thú dữ cũng giống như trách
nhiệm của chủ sở hữu. Tức là họ phải chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi
trong việc quản lý. Đồng thời, họ cũng phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu có
lỗi để thú dữ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại. Như vậy, cơ sở
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giao chiếm hữu, sử dụng thú dữ
cũng xuất phát từ sự vi phạm trong việc quản lý thú dữ, hoặc từ lẽ công bằng
trong việc hưởng lợi và gánh chịu thiệt hại.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi nguồn
chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại thì ta không cần phải xét đến
yếu tố có lỗi hay không lỗi.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng thú dữ có thể
là trách nhiệm toàn bộ hoặc trách nhiệm liên đới. Trách nhiệm toàn bộ của người
chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thú dữ phải chịu nếu chủ sở hữu, người chiếm
hữu, sử dụng thú dữ chứng minh được mình không có lỗi trong việc để thú dữ
“lọt” vào tay của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Ngược lại, chủ sở
14
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
hữu, người chiếm hữu, sử dụng phải chịu trách nhiệm liên đới do lỗi của mình
đã sơ suất trong việc quản lý thú dữ.
3/Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như
khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây
thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt được loại trừ trong 3 trường hợp: (a) Thiệt
hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; (b) Thiệt hại xảy ra trong
trường hợp bất khả kháng; (c) Thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết.
3.1/Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại:
Đây là sự khác biệt trong căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra so với căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do các loại tài sản khác gây ra.Thông thường, khi thiệt hại xảy ra hoàn
toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của chủ thể có liên quan. Nội dung này đã được quy định tại khoản 2
Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo những quy định này, chỉ cần người bị
thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì dù lỗi đó là cố ý hay vô ý, chủ sở hữu, người được
giao chiếm hữu, sử dụng tài sản sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại. Về cơ bản, quy định này là phù hợp, bởi vì một chủ thể chỉ phải chịu trách
nhiệm dân sự nói chung trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng khi họ có lỗi
Trên cơ sở những khái niệm trên, “sự kiện bất khả kháng” là một trong các
căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại là
hoàn toàn phù hợp.Bởi vì, đây là một sự kiện xảy ra hoàn toàn khách quan,
không phụ thuộc vào hành vi cũng như ý chí của con người, con người có thể
nhận thức được nhưng lại không thể ngăn chặn nó xảy ra.Tuy nhiên, em lại
không cho rằng “tình thế cấp thiết” lại là một trong những căn cứ loại trừ trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra. Bởi vì, theo khái niệm được trích
dẫn ở trên, thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết luôn do hành vi của con người
có nhận thức gây ra. Trong tình thế cấp thiết, người gây thiệt hại có đủ nhận thức
để đánh giá thiệt hại cần ngăn chặn lớn hơn hay thiệt hại sẽ gây ra lớn hơn. Do
đó, chỉ nên coi đó là căn cứ xác định trách nhiệm của người gây ra tình thế cấp
thiết mà không phải trách nhiệm của người gây thiệt hại cũng như của chủ sở
16
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản gây thiệt hại. Đồng thời, cũng không nên
coi đây là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản nói chung,
nguồn nguy hiểm cao độ (thú dữ) nói riêng gây ra.
III/Thực tiễn:
Trên thực tế có một số vụ việc liên quan đến thú dữ gây thiệt hại. Nhưng qua
nghiên cứu hoạt động xét xử của Tòa án về vấn đề bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, em chưa tìm thấy một bản án nào giải quyết
tranh chấp về bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra. Có thể kể đến một số vụ
việc điển hình như sau:
Vụ việc thứ nhất, chiều 10/9/2009, ba nhân viên vườn thú Khu du lịch Đại
Nam, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đang trồng cây xanh cho sân
chơi trong chuồng hổ trắng thì bất ngờ một con hổ vàng từ chuồng kế bên nhảy
qua bờ tường vách ngăn cao khoảng 3 mét được lắp xung điện. Con hổ lao vào
tấn công nhóm nhân viên trước sự chứng kiến của nhiều người đang làm việc
một chủ thể nhất định thì vấn đề bồi thường sẽ được đặt ra khi thú dữ gây thiệt
hại. Tuy nhiên, các bên thường thỏa thuận cụ thể về mức bồi thường thiệt hại,
trong đó bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường được ra mức bồi
thường lớn hơn so với quy định pháp luật, nên bên bị thiệt hại thường dễ chấp
nhận mà không khởi kiện.
IV/Kiến nghị hoàn thiện:
Thứ nhất, về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ còn mang tính chất liệt kê.
Điều này sẽ dẫn đến sự thiếu sót của pháp luật. Các nhà làm luật nên sữa đổi nó
bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực nhất định trong luật hoặc các nghị
định, nghị quyết hướng dẫn. Điều này sẽ làm cho luật không bỏ sót bất cứ các
đối tượng nào, kéo dài ‘tuổi thọ” của nó. Ví dụ: đưa ra tiêu chuẩn để có thể xem
là thú dữ phải có đủ các điều kiện: ăn thịt, lớn, chưa được thuần hóa, có khả
năng gây thiệt hại cho con người.
Thứ hai, tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định: “Chủ
sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ,
vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật” mà chưa
quy định trách nhiệm của người chiếm hữu, sử dụng được chủ sở hữu trao
quyền. Nhưng tại Khoản 4 Điều này lại quy định trách nhiệm liên đới cho cả
11 605309.html;
18
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
người chiếm hữu,sử dụng là chưa hợp lý bởi lẽ chưa có nghĩa vụ mà lại quy định
trách nhiệm.
Thứ ba, việc sử dụng cụm từ “người chiếm hữu, sử dụng” mặc dù bao quát
được cả các chủ thể chiếm hữu, sử dụng có căn cứ pháp luật khác mà không bao
gồm chủ sở hữu và người được chủ sở hữu chuyển giao. Tuy nhiên, cụm từ này
cũng gây ra bất cập ở chỗ chính bản thân nó cũng bao hàm cả người chiếm hữu,
2,Nxb Chính trị quốc gia Sự thât, Hà Nội, 2017.
5. PGS.TS.Phạm Văn Tuyết, Hướng dẫn môn học Luật Dân sự,tập 2, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2017.
6. Trần Thị Huệ ,Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp
luật dân sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
2013.
7. Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe
và tính mạng, Nxb Hà Nội, Hà Nộ,2009.
20
BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A
8. Luận án tiến sĩ luật học Nguyễn Văn Hợi về “ Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”.
9. Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Mai Anh (1997) về “Những vấn đề cơ bản
về TNBTTH ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự”.
10. Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Trà Giang (2011) về “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”
11. />12. />
21