TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa 35 (2009 – 2013)
ĐỀ TÀI:
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ,
NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Sinh viên thực hiện:
Nèang Sóc Kim
MSSV: 5095430
Lớp: Thương Mại 3 – K35
Cần Thơ, Tháng 05/2013
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
1.1.1. Khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ ............................... 4
1.1.2. Khái niệm chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ................................ .5
1.1.3. Khái niệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm ...7
1.2. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ ....................... 8
1.2.1. Khái niệm chung về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín ................ 8
1.2.2. Bảo vệ các quyền nhân thân ................................ ................................ .............11
1.2.2.1. Đặc điểm cơ bản của quyền nhân thân................................ ....................... 12
1.2.2.2. Bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người ................................ ....14
1.2.3. Cơ chế bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ ....................... 16
1.2.3.1. Công nhận quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ .17
1.2.3.2. Bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ ......18
1.3. So sánh bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bồi
thường thiệt hại do xâm phạm tài sản của người khác ................................ ................... 20
1.4. Lịch sử phát triển của chế định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm ................................ ................................ ................................ ................... 22
1.4.1. Luật pháp thời Lê – Nguyễn ................................ ................................ .............23
1.4.2. Luật pháp thời kỳ Pháp thuộc ................................ ................................ ...........25
1.3.2. Luật pháp từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay ................................ .............25
1.5. Ý nghĩa của việc ghi nhận pháp lý về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm ................................ ................................ ................................ .........28
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm ................................ ................................ ................................ .............29
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ................................ ................................ ............................. 29
2.1.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật ................................ ................. 32
2.1.3. Có lỗi của người gây thiệt hại ................................ ................................ ...........34
THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN
BỊ XÂM PHẠM
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm ................................ ................................ ................................ ................... 69
3.1.1. Khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín ................................ ........................ 70
3.1.2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gặp khó khăn trong xác định mức bù đắp tổn
thất tinh thần ................................ ................................ ................................ ................... 72
3.1.3. Việc xác định căn cứ để bồi thường thiệt hại tinh thần ................................ ....74
3.1.4. Khó khăn trong việc xác định mức độ xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín
................................ ................................ ................................ ................................ .....75
3.1.5. Việc phân biệt giữa các loại xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và tội vu
khống, tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 121, 122 BLHS năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) ................................ ................................ .......................... 76
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những vấn đề bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm ................................ ................................ ..................... 81
3.2.1. Ban hành văn bản hướng dẫn mang tính chất định hướng chung về bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phậm ................................ ................... 81
3.2.2. Ghi nhận rõ hơn về khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín .............................. 83
3.2.3. Thường xuyên tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kỹ thuật của Thẩm
phán và những người làm công tác pháp luật ................................ ................................ .84
KẾT LUẬN ................................ ................................ ................................ ................ 87
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, trình độ văn hóa của con người ngày càng
được nâng cao, lối sống, cách ứng xử của con người trong xã hội vì thế mà cũng được
tinh thần tốt thì hiệu quả công việc cao, con người có thêm sức mạnh trong hoạt động
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
1
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
hằng ngày và ngược lại, tinh thần cũng rất dễ bị tổn thương và ảnh hưởng đến cuộc
sống thực tế. Đôi khi chỉ vài tác động nhỏ cũng có thể dẫn đến tinh thần bị suy sụp,
dẫn đến uất ức, thậm chí có thể đi đến sự bế tắc và xảy ra những hậu quả đáng tiếc. Vì
vậy, không chỉ có tài sản, tính mạng, sức khỏe cần được bảo vệ một cách tích cực mà
vấn đề về danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng cần được bảo vệ và tôn trọng. Nhìn chung,
khi quyền nhân thân của cá nhân nói chung hay quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại nói riêng sẽ được pháp luật bảo vệ và nếu ai đó
xâm phạm một cách trái pháp luật đối với cá nhân về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì
người đó phải chịu trách nhiệm bồi th ường thiệt hại cho cá nhân bị xâm phạm theo quy
định của pháp luật.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, người viết chọn đề tài: “Bồi
thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” để làm khóa luận
tốt nghiệp. Thông qua việc nghiên cứu để tìm ra những thiếu khuyết trong quy định
đó, đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật về chế định này nhằm nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi
chủ thể.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng tới làm rõ các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường, ai
phải bồi thường, bồi thường cho ai, bồi thường bao nhiêu và bồi thường như thế nào?
gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận thức chung về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị về bồi thường thiệt
hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô khoa Luật và Thạc sĩ
Nguyễn Thị Ngọc Tuyền đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em hoàn thành tốt đề tài
nghiên cứu này. Do đây là lần đầu tiên em nghiên cứu đề tài khoa học nên trình độ còn
nhiều hạn chế, kinh nghiệm và thực tiễn hạn hẹp, tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu không nhiều. Do vậy, việc nghiên cứu còn nhiều điểm chưa chặt chẽ và nhiều hạn
chế, kính mong sự đóng góp ý kiến từ các chuyên gia, đọc giả, cán bộ có trình độ
chuyên môn liên quan giúp cho bài viết hoàn thiện hơn. Tác giả xin chân thành cảm
ơn!
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
CHƯƠNG 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm
phạm
1.1.1. Khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín
Nguyễn Thùy Dương, Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật dân sự, NXB Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1997.
2
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
mình. Còn đối với tổ chức, danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín
nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó.
Nhân phẩm: Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá
nhân với tính cách là một con người. Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là
xúc phạm đến danh dự người đó. Nhân phẩm có từ khi con người mới sinh ra. Không
giống như danh dự, nhân phẩm chỉ là một khái niệm đối với cá nhân.
Uy tín: Đối với cá nhân, uy tín là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công
nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người
trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo. Quyền
được tôn trọng uy tín có vẻ gần giống quyền tác giả vì nó có cơ cấu kép bao gồm: Một
mặt là quyền nhân thân, có nghĩa là quyền gợi nhớ; mặt khác là quyền tài sản, có nghĩa
là tác giả có quyền khai thác giá trị thương mại của tác phẩm chứa đựng nhân cách, uy
tín của họ. Còn với tổ chức, uy tín là những giá trị tốt đẹp mà tổ chức đạt được trong
quá trình hoạt động và được mọi người công nhận.
Nội dung của ba khái niệm “danh dự”, “nhân phẩm”, “uy tín” có sự đan xen với
nhau. Trong đó, khái niệm danh dự là khái niệm rộng nhất, danh dự chứa đựng cả nhân
phẩm và uy tín. Do đó, xâm phạm nhân phẩm, uy tín chắc chắn sẽ xâm phạm danh dự
hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ
pháp lí của mình, gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà
mình gây ra”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những trách
nhiệm dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại
cho người khác. Chế định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” được hệ
thống ở chương XXI, phần thứ ba với các qui định từ Điều 604 đến Điều 630 BLDS
2005 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp, đồng thời giải quyết khách quan, nhanh chóng, công bằng theo quy định của
pháp luật.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 281 BLDS 2005, thì một trong những căn cứ làm
phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: “Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với
căn cứ này là các quy định tại chương XXI, Phần thức ba Bộ luật Dân sự “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” là căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Nhà làm luật trong trường
hợp này đã đồng nghĩa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” với “nghĩa
vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật”. Điều 604 BLDS 2005 đã xác nhận sự đồng
nghĩa này bằng quy định:
“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự,
uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong
trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”3.
Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp
luật. Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối với người khác làm
phát sinh các quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại.
Như vậy, bồi thường thiệt hại là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp
luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền
đến tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ
nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với nghĩa vụ
được quy định tại Điều 280 BLDS 2005 “nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của
pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ), phải làm
một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ
thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”6. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một
loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác gây ra thiệt hại
phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra.
Theo quy đinh tại Điều 611 BLDS 2005 thì những thiệt hại phải bồi thường do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại
về tinh thần. Thiệt hại về vật chất bao gồm: các chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục
thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Thiệt hại về
tinh thần là khoản thiệt hại phi vật chất, không mang tính kinh tế, tài sản cho nên rất
khó xác định được thiệt hại. Thực tế cho thấy các hành vi xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín được thể hiện bằng việc dùng lời lẽ có tính chất miệt thị, thiếu văn hóa
hay có những hành động có tính chất thóa mạ để lăng nhục, hạ thấp nhân cách làm
giảm sự tôn trọng, tín nhiệm của những người xung quanh...Do vậy, pháp luật quy
định cho các cá nhân và các chủ thể khác có quyền: yêu cầu người vi phạm hoặc Tòa
4
Lê Đình Nghị (Chủ biên), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Giáo Dục Việt Nam (tập 2), trang 191.
Xem Khoản 5 Điều 281 Bộ luật Dân sự năm 2005
6
Xem Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2005
5
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
1.2.1. Khái niệm chung về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Khi xã hội càng tiến bộ thì quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói
riêng càng được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn. Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia đã
nhận thức được tầm quan trọng của việc công nhận và bảo vệ quyền đối với danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Điều này được thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật quốc tế
về quyền con người. Tuy nhiên, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã
khẳng định: “Không một ai bị xâm phạm một cách độc lập về đời sống riêng tư, gia
đình, nhà ở hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi
người đều có quyền được pháp luật bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm như
vậy” (Điều 12). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng
nhấn mạnh tại Điều 17 như sau: “Không ai có thể xâm phạm trái phép hay độc đoán
vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm trái phép đến danh dự và thanh
danh; Ai cũng có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy”.
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Sau khi gia nhập Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1977 và đến năm 1982 thì
Việt Nam đã ký kết tham gia Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Pháp luật
Việt nam cũng có nhiều quy định nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân
và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức. Theo quy định của Bộ luật dân sự
năm 2005 tại Điều 37 quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ”. Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư
luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp. Nhân
phẩm của con người là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó. Uy tín cá
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
9
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái phép thông tin tr ên
mạng và trong máy tính (Điều 226), Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy (Điều 253).
- Theo Điều 7 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003:“Công dân có quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp
luật. Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người
thân thích của của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những
biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật ”8.
- Trong Bộ luật Dân sự năm 2005: Quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy
tín được quy định tại các Điều 31 - Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; Điều 37 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Điều 38 - Quyền bí mật đời tư. Và
các văn bản luật khác như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 21), Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 204, Điều 205), Luật báo chí năm 1999 (Điều 9).
Vì thế nên khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người bị xâm phạm, họ sẽ có
các quyền được quy định tại Điều 25 BLDS 2005:
“Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
1. Tự mình cải chính;
2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định, thể hiện sự tôn
trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người trong xã hội. Trong hệ thống
pháp luật của các nước đều thừa nhận quyền nhân thân của con người là quyền tự
nhiên, gắn liền với mỗi con người. “Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ
những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư
của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người.
Theo Điều 24 Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành quy định: “Quyền nhân thân
được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”11. Quy định
này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn
liền với cá nhân, không thể chuyển giao được. “Quyền” được hiểu theo góc độ pháp lý
là điều mà pháp luật công nhận cho người có quyền được hưởng, được làm, được đòi
hỏi. Các quyền nhân thân này có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi
tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý đặc thù như: dựa vào căn cứ phát sinh mà các
quyền nhân thân có thể phân thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản
và nhóm các quyền nhân thân gắn với tài sản; dựa vào chủ thể mang quyền mà các
quyền nhân thân có thể được phân thành hai nhóm là: nhóm các quyền nhân thân của
cá nhân và nhóm các quyền nhân thân của các chủ thể khác (không phải là cá nhân)….
Thông qua các phân loại này chúng ta sẽ hiểu được rõ nét hơn bản chất pháp lý của
từng loại quyền nhân thân, từ đó nhận diện được chính xác các hành vi xâm phạm và
đề ra được phương thức bảo vệ thích hợp nhất.
Quyền nhân thân là thứ quyền để bảo vệ cái “danh” của mỗi con người bao gồm
nhiều khái niệm danh dự, danh vị, danh tiếng, danh hiệu, thanh danh, bút danh… Khi
nói đến quyền nhân thân người ta thường quan tâm đến các quyền cụ thể như: quyền
đối với họ, tên; quyền đối với hình ảnh của mình; quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín; quyền được bảo vệ bí mật đời tư… Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu,
nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng
bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng
hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả. Ví dụ: Ở nước ta, trước
đây các quyền nhân thân được pháp luật quy định chưa nhiều, trong cuộc sống thường
BLDS 2005 thì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm được áp dụng các biện pháp
dân sự để bảo vệ quyền nhân thân của mình như tự cải chính; yêu cầu người vi phạm
chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.
Mặc dù danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân không trị giá được
bằng tiền, tuy nhiên, xâm phạm đến những giá trị này có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của chủ thể bị xâm phạm. Chính vì thế, không chỉ ở nước ta, mà ở hầu hết
các nước trên thế giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người đều được bảo vệ.
Tuy thế, phương thức bảo vệ có khác nhau. Ở Việt Nam, điều đó được thể hiện rõ nhất
qua các quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức.
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền nhân thân bị
xâm phạm được thực hiện các biện pháp bảo vệ trên để bảo vệ quyền nhân thân của
mình. Việc áp dụng một hay nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân hoặc áp dụng
biện pháp bảo vệ quyền nhân thân nào là tùy vào trường hợp cụ thể quyền nhân thân bị
xâm phạm và do người có quyền nhân thân bị xâm phạm tự lựa chọn quyết định. Tuy
nhiên, việc lựa chọn được biện pháp bảo vệ phù hợp sẽ giúp cho việc bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân có hiệu quả.
1.2.2.1. Đặc điểm cơ bản của quyền nhân thân
Trong quan hệ dân sự, quyền nhân thân là một trong những đối tượng được Bộ
luật dân sự điều chỉnh và là một loại quan hệ mang tính xã hội sâu sắc, phản ánh được
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn
gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác.
Quyền nhân thân mỗi con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng
không vì thế mà tuyệt đối hóa các quyền nhân thân thành các đặc quyền cho mình. Nói
cách khác, quyền nhân thân chỉ mang tính chất tương đối. Trong xã hội thì quyền của
người này thì liên quan đến nghĩa vụ của người kia. Vì thế, chúng ta phải dung hòa
quyền lợi với nhau. Quyền nhân thân của mỗi con người có được thực hiện hay không
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
13
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
tùy thuộc vào sự tôn trọng của người khác. Chính vì vậy, pháp luật có quy định mọi
người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân của ng ười khác.
1.2.2.2 Bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của con ng ười
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan
trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Kể cả trong
công ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề
quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966 hay tại Bộ luật nhân quyền thế giới. Cùng với các văn bản pháp luật
khác, Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và có
những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể. Ở nước ta, quyền bảo vệ danh
dự, nhân phẩm, uy tín là quyền hiến định, được quy định trong văn bản pháp luật có
hiệu lực cao nhất là Hiến pháp. Theo Hiến pháp 1992, quyền bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín là một trong những quyền cơ bản của công dân.
Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế xã hội của nước ta ngày càng phát
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã
thu được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự
của con người nói riêng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh
tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển
bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n ước. Mọi
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm phấn đấu cho mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người
và cho con người. Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ
quyền con người nói chung, nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, mà còn làm
hết sức mình để bảo đảm thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực và thành tựu đã đạt được, trong thời gian qua, cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề tiêu
cực, trong đó có nhiều vấn đề mới phát sinh có liên quan đến công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp trên tất cả các lĩnh
vực, trong đó tình hình tội làm nhục người khác, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của
người khác đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được dư luận rất quan tâm, theo
dõi.
Danh dự, nhân phẩm con người không thể tồn tại biệt lập, tách khỏi đời sống
hiện thực, lịch sử. Cụ thể, mỗi cá nhân đều tồn tại trong một cộng đồng hay một quốc
gia nhất định. Bởi vậy, mang giá trị tuyệt đối, giá trị phổ biến nh ưng khi chúng tồn tại
dưới dạng các quyền của con người thì chúng trở thành phạm trù mang tính lịch sử,
vừa mang tính phổ biến vừa đặc thù. Phổ biến vì đó là thuộc tính cơ bản, đặc thù từ
hiện thực hóa nhưng những nhu cầu thiết yếu ấy phụ thuộc vào sự phát triển của xã
hội, kinh tế, văn hóa, truyền thống…của từng quốc gia. N hư vậy, để bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín của mình, mỗi cá nhân nhất thiết và trước hết phải tôn trọng danh
người đều có những giá trị nhất định, không ai có quyền chà đạp hay tước đoạt nhân
phẩm của người khác. Các giá trị căn bản của con người trong xã hội Việt Nam hiện
tại đang bị xem nhẹ. Báo chí và truyền thông có thể dễ dàng hạ nhục người khác bằng
nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn.
Danh dự, nhân phẩm của con người chính là bản chất sâu xa nhất cấu thành
quyền con người. Nó là giá trị mang tính phổ biến tuyệt đối vì chúng tồn tại dưới dạng
năng lực vốn có, tất yếu và tiềm năng của mỗi con người và ngày càng được bồi đắp
bất chấp sự hạn định của những khuôn khổ pháp lý hay chuẩn mực xã hội. Danh dự,
nhân phẩm là giá trị được sinh ra từ chính quá trình sáng tạo bản chất nhân văn chân
thiện mỹ của con người. Việc thừa nhận và đặc biệt nhấn mạnh sự tôn trọng danh dự,
nhân phẩm chính là sự khẳng định bước tiến to lớn của cộng đồng nhân loại, tạo tiền
đề pháp lý quan trọng cho sự thúc đẩy và hiện thực các quyền con người.
1.2.3. Cơ chế bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Pháp luật dân sự đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền đối với danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Có thể nói, pháp luật dân sự quy định chi tiết, cụ thể và đầy đủ nhất
về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 31, Điều 37, Điều
38, Điều 611) và các văn bản luật khác như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều
21), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 204, Điều 205), Luật báo chí năm 1999 (Điều
9). Trong Bộ luật dân sự năm 2005, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
được quy định tại Điều 37 “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
16
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
pháp 1992 cũng nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Bởi thế, quyền
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và quyền bảo vệ danh dự, uy tín của tổ
chức là quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức mà tất cả các cá nhân, tổ chức khác
(trong đó có Nhà nước) phải tôn trọng. Cho nên, mọi hành vi xâm phạm quyền đối với
danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; quyền đối với danh dự, uy tín của tổ chức
điều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi xâm phạm quyền được bảo danh dự,
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
SVTH: Nèang Sóc Kim
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
nhân phẩm, uy tín thường thể hiện bằng cách: dùng những lời lẽ hoặc hành động có
tính chất thóa mạ, khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho
người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Sự đánh giá
sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý.
Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những
nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của những tin
tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại.
1.2.3.2. Bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm,
uy tín được quy định tại Điều 611 của BLDS 2005 là xuất phát từ nguyên tắc chung
của Hiến pháp năm 1992 (Điều 12) và các nguyên tắc cơ bản được quy định tại
chương I BLDS 2005, trong đó phải kể đến các nguyên tắc được quy định tại các Điều
9, Điều 10, Điều 24 BLDS 2005. Điều 9 quy định : “Tất cả các quyền dân sự của cá
nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”12. Điều 10
quy định : “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm dến