BỒI THƯỜNG THIỆT hại DO DANH dự, NHÂN PHẨM UY tín bị xâm PHẠM - Pdf 35

Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, trình độ văn hóa của con người ngày càng
được nâng cao, lối sống, cách ứng xử của con người trong xã hội vì thế mà cũng được
nâng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn có một bộ phận không nhỏ những
người với hành vi, ứng xử không phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã
hội, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người. Và những năm gần đây,
báo chí nhắc nhiều đến vấn đề bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm. Điển hình như, hiện nay cả dư luận đang xôn xao về vụ trả cô dâu của đại
gia Cần Thơ; trên blog (một dạng nhật kí điện tử cá nhân) của “Cô gái đồ long” - Lê
Nguyễn Hương Trà đã có những bài viết nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín của ca sỹ Phương Thanh vào năm 2007; hay vào năm 2009 tại Thành
Phố Rạch Giá (Kiên Giang) xảy ra hành vi vu khống của một thầy giáo làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm của người bị thiệt hại. Hay như gần đây, trong
khi bắt gái mại dâm, những chiến sĩ công an đã quay phim, chụp ảnh lại mà không cho
các cô gái được mặc quần áo đã là hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân
phẩm cần phải bị xử lý. Tất cả những hành vi này không những gây hậu quả đến
những người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín mà còn khiến cho dư luận vô
cùng bất bình. Qua thực tiễn cho thấy hành vi gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy
tín ngày càng gia tăng và phức tạp.
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, danh dự, nhân phẩm và uy tín là những thuật
ngữ pháp lí quan trọng được sử dụng như một căn cứ hay cơ sở để cá nhân thực hiện
quyền của mình đối với danh dự, nhân phẩm và uy tín của bản thân mình. Hành vi gây
ra thiệt hại đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hoàn toàn trái với
quy định của pháp luật và phải được trừng trị một cách nghiêm minh. Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy
tín của của pháp nhân và các chủ thể khác. Thiệt hại về vật chất là những tổn thất thực

danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường,
ai phải bồi thường, bồi thường cho ai, bồi thường bao nhiêu và bồi thường như thế
nào? Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật
về vấn đề này. Thông qua đó, người viết hy vọng đóng góp một phần nhỏ công sức,
công trình nghiên cứu cho nền khoa học pháp lý.
3. Phạm vi nghiên cứu

Trong bài luận này, người viết chỉ đi sâu nghiên cứu quy định về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà cụ thể là: “Bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”, người viết chủ yếu dựa vào những quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một sổ quy định của
Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với một vài văn bản
pháp luật có liên quan.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Kết hợp giữa quan điểm Chủ nghĩa
2


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp nghiên cứu như: so
sánh, phân tích, tổng hợp, thu thập tài liệu và đối chiếu các quy định của pháp luật…
Từ đó vận dụng giá trị thực hiện để điều chỉnh các quy phạm pháp luật trong Bộ luật
dân sự nói chung và bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
nói riêng.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề

dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả
đó. Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức. Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005
quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường”1. Và Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2005 có đề cập đến thiệt hại
về danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Điều này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế.
Do đó, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín. Có nhiều định nghĩa
khác nhau về khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín, nhưng ta có thể hiểu như sau:
•Danh dự: Đối với cá nhân, danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá
nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó. Danh dự của
một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ
công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời và
được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa.
•Danh dự là yếu tố luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, là một trong các
yếu tố để khẳng định vị trí, vai trò của chủ thể đó trong xã hội. Khi một ai đó có hành
vi vu khống xúc phạm đến danh dự của một cá nhân, thì người bị xúc phạm có quyền
yêu cầu cơ quan pháp luật bảo vệ mình. Bộ luật dân sự bảo vệ danh dự của các chủ
thể bằng các biện pháp thích hợp, phù hợp với phong tục tập quán Việt Nam để khôi
phục danh dự cho người đó như: “Buộc xin lỗi, cải chính công khai trên báo đài và
1

Xem Khoản 1 Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005

4


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

riêng càng được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn. Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia đã
nhận thức được tầm quan trọng của việc công nhận và bảo vệ quyền đối với danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Điều này được thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật quốc tế
về quyền con người. Tuy nhiên, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã
khẳng định: “Không một ai bị xâm phạm một cách độc lập về đời sống riêng tư, gia
2

Nguyễn Thùy Dương, Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật Dân sự, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997

5


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

đình, nhà ở hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi
người đều có quyền được pháp luật bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm như
vậy” (Điều 12). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng
nhấn mạnh tại Điều 17 như sau: “Không ai có thể xâm phạm trái phép hay độc đoán
vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm trái phép đến danh dự và thanh
danh; Ai cũng có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy”.
Sau khi, gia nhập Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1977 và đến năm 1982 thì
Việt Nam đã ký kết tham gia Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Pháp luật
Việt nam cũng có nhiều quy định nhầm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức. Theo quy định của Bộ luật
dân sự năm 2005 tại Điều 37 quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng
của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị tinh thần đạo đức tốt
đẹp. Nhân phẩm của con người là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân
đó. Uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ
phận dân sự đối với cá nhân. Cả 3 yếu tố trên tuy có tính độc lập tương đối nhưng lại

trọng trong việc ban hành các quy định cụ thể để bảo vệ quyền này: được thể hiện
trong Bộ Luật Hình sự, Tố tụng Hình sự, Hôn nhân gia đình, Báo chí, Dân sự và Tổ
tụng dân sự.
- Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, chủ thể có hành vi xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội danh như: Tội làm
nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái phép thông
tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226), Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy
(Điều 253).
- Theo Điều 7 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: “Công dân có quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp
luật. Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người
thân thích của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện
pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”.4
- Trong Bộ luật Dân sự năm 2005: Quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy
tín được quy định tại các Điều 31 - Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; Điều 37 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Điều 38 - Quyền bí mật đời tư. Và
các văn bản luật khác như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 21), Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 204, Điều 205), Luật báo chí năm 1999 (Điều 9).
Vì thế nên khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người bị xâm phạm, họ sẽ
có các quyền được quy định tại Điều 25 BLDS 2005:
“Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
1. Tự mình cải chính;
2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người

vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người
vi phạm bồi thường thiệt hại ”.5
Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã cụ thể hóa điều đó :
“Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt

Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lí, ta có thể hiểu “Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ
pháp lí của mình, gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà
mình gây ra”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những trách
nhiệm dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại
cho người khác. Chế định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” được hệ
thống ở chương XXI, phần thứ ba với các qui định từ Điều 604 đến Điều 630 BLDS
2005 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhầm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp, đồng thời giải quyết khách quan, nhanh chóng, công bằng theo quy định
của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 281 BLDS 2005, thì một trong những căn cứ
làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: “Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật và tương
ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XXI, Phần thức ba Bộ luật Dân sự
6

Xem Khoản 2 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005

8


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Sự kiện “gây thiệt hại do hành vi
trái pháp luật” là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Nhà
làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng” với “nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật”. Điều 604 BLDS
2005 đã xác nhận sự đồng nghĩa này bằng quy định:
“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc loi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,

Xem Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005
Lê Đình Nghị (Chủ biên), Giáo tình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Giáo Dục Việt Nam (tập 2), trang 191.

9


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

pháp luật”9. Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 quy định “người nào do lỗi cố ý hoặc vô
ý xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi
thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với
nghĩa vụ được quy định tại Điều 280 BLDS 2005 “nghĩa vụ dân sự là việc mà theo
quy định của pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa
vụ), phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một
hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” 10. Nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra.
Theo quy định tại Điều 611 BLDS 2005 thì những thiệt hại phải bồi thường do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại
về tinh thần. Thiệt hại về vật chất bao gồm: các chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục
thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Thiệt hại
về tinh thần là khoản thiệt hại phi vật chất, không mang tính kinh tế, tài sản cho nên
rất khó xác định được thiệt hại. Thực tế cho thấy các hành vi xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín được thể hiện bằng việc dùng lời lẽ có tính chất miệt thị, thiếu văn hóa
hay có những hành động có tính chất thóa mạ để lăng nhục, hạ thấp nhân cách làm
giảm sự tôn trọng, tín nhiệm của những người xung quanh...Do vậy, pháp luật quy
định cho các cá nhân và các chủ thể khác có quyền: yêu cầu người vi phạm hoặc Tòa
án buộc người vi phạm chấm dứt các hành vi vi phạm bằng việc xin lỗi, cải chính

hành vi gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ hợp đồng đã kí kết. Hay nói cách khác,
quan hệ hợp đồng không phải là căn cứ thực tiễn nhưng có thể đưa lại khả năng làm
phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phâm, uy tín”.
1.2. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1.2.1. Bảo vệ các quyền nhân thân
Quyền nhân thân của cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng nhằm cụ thể hóa những
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định, thể hiện sự tôn
trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người trong xã hội. Trong hệ thống
pháp luật của các nước đều thừa nhận quyền nhân thân của con người là quyền tự
nhiên, gắn liền với mỗi con người. “Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ
những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư
của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của con
người.
Theo Điều 24 Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành quy định: “Quyền nhân thân
được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. 11 Quy định
này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn
liền với cá nhân, không thể chuyển giao được. “Quyền” được hiểu theo góc độ pháp
lý là điều mà pháp luật công nhận cho người có quyền được hưởng, được làm, được
đòi hỏi. Các quyền nhân thân này có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau,
mỗi tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý đặc thù như: dựa vào căn cứ phát sinh mà
các quyền nhân thân có thể phân thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài
sản và nhóm các quyền nhân thân gắn với tài sản; dựa vào chủ thể mang quyền mà
các quyền nhân thân có thể được phân thành hai nhóm là: nhóm các quyền nhân thân
của cá nhân và nhóm các quyền nhân thân của các chủ thể khác (không phải là cá
nhân).... Thông qua các phân loại này chúng ta sẽ hiểu được rõ nét hơn bản chất pháp
lý của từng loại quyền nhân thân, từ đó nhận diện được chính xác các hành vi xâm
11

Xem Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005

của cá nhân một cách tày tiện cũng có thể xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác. Vì vậy pháp luật đã phải quy định các phương thức, biện
pháp bảo vệ quyền nhân thân trong trường hợp bị xâm phạm. Theo quy định tại Điều
25 BLDS 2005 thì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm được áp dụng các biện
pháp dân sự để bảo vệ quyền nhân thân của mình như tự cải chính; yêu cầu người vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc
người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt
hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc ngựời vi phạm bồi thường
thiệt hại.
Mặc dù danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân không trị giá
được bằng tiền, tuy nhiên, xâm phạm đến những giá trị này có thể ảnh hưởng đến sự

12


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

tồn tại và phát triển của chủ thể bị xâm phạm. Chính vì thế, không chỉ ở nước ta, mà
ở hầu hết các nước trên thế giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người đều được
bảo vệ. Tuy thế, phương thức bảo vệ có khác nhau. Ở Việt Nam, điều đó được thể
hiện rõ nhất qua các quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy
định nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín
của tổ chức.
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền nhân thân bị
xâm phạm được thực hiện các biện pháp bảo vệ trên để bảo vệ quyền nhân thân của
mình. Việc áp dụng một hay nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân hoặc áp dụng
biện pháp bảo vệ quyền nhân thân nào là tùy vào trường hợp cụ thể quyền nhân thân
bị xâm phạm và do người có quyền nhân thân bị xâm phạm tự lựa chọn quyết định.
Tuy nhiên, việc lựa chọn được biện pháp bảo vệ phù hợp sẽ giúp cho việc bảo vệ
quyền nhân thân của cá nhân có hiệu quả.

khác theo quy định của pháp luật.
♦ Quyền nhân thân đối với họ tên, hình ảnh, danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí
mật đời tư, đứng tên thật hoặc bút danh...được pháp luật bảo hộ, khi chủ thể không
còn nữa thì những người có liên quan được quyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi
xâm phạm. Ví dụ: Nếu có người tung tin thất thiệt làm tổn hại đến danh dự của một
người đã khuất thì những người thân thích của người đó vẫn có quyền yêu cầu chấm
dứt hành vi xâm hại và bồi thường thiệt hại.
♦ Quyền nhân thân không tách rời chủ thể tức là không có khái niệm về quyền
nhân thân một cách chung chung mà không gắn liền với bất kì chủ thể nào. Các
quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân
mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ
thể khác.
Quyền nhân thân mỗi con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng
không vì thế mà tuyệt đối hóa các quyền nhân thân thành các đặc quyền cho mình.
Nói cách khác, quyền nhân thân chỉ mang tính chất tương đối. Trong xã hội thì quyền
của người này thì liên quan đến nghĩa vụ của người kia. Vì thế, chúng ta phải dung
hòa quyền lợi với nhau. Quyền nhân thân của mỗi con người có được thực hiện hay
không tùy thuộc vào sự tôn trọng của người khác. Chính vì vậy, pháp luật có quy định
mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân của người khác.
1.2.1.2. Bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín củạ con người
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan
trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Kể cả trong
công ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề
quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 hay tại Bộ luật nhân quyền thế giới. Cùng với các văn bản pháp
luật khác, Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận
và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể. Ở nước ta, quyền bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền hiến định, được quy định trong văn bản pháp luật
có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp. Theo Hiến pháp 1992, quyền bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín là một trong những quyền cơ bản của công dân.

mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo
đã thu được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm,
danh dự của con người nói riêng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính
sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho
sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm
phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”,
tất cả vì con người và cho con người. Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự
tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung, nhân phẩm, danh dự của con người
nói riêng, mà còn làm hết sức mình để bảo đảm thực hiện trên thực tế.Tuy nhiên, bên
cạnh những mặt tích cực và thành tựu đã đạt được, trong thời gian qua, cũng đã nảy
15


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

sinh nhiêu vân đê tiêu cực, trong đó có nhiều vấn đề mới phát sinh có liên quan đến
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp
trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tình hình tội làm nhục người khác, xúc phạm nhân
phẩm, danh dự của người khác đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được dư luận
rất quan tâm, theo dõi.
Danh dự, nhân phẩm con người không thể tồn tại biệt lập, tách khỏi đời sống
hiện thực, lịch sử. Cụ thể, mỗi cá nhân đều tồn tại trong một cộng đồng hay một quốc
gia nhất định. Bởi vậy, mang giá trị tuyệt đối, giá trị phổ biến nhưng khi chúng tồn tại
dưới dạng các quyền của con người thì chúng trở thành phạm trù mang tính lịch sử,
vừa mang tính phổ biến vừa đặc thù. Phổ biến vì đó là thuộc tính cơ bản, đặc thù từ

Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

đoạt nhân phẩm của người khác. Các giá trị căn bản của con người trong xã hội Việt
Nam hiện tại đang bị xem nhẹ. Báo chí và truyền thông có thể dễ dàng hạ nhục người
khác bằng nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn.
Danh dự, nhân phẩm của con người chính là bản chất sâu xa nhất cấu thành
quyền con người. Nó là giá trị mang tính phổ biến tuyệt đối vì chúng tồn tại dưới
dạng năng lực vốn có, tất yếu và tiềm năng của mỗi con người và ngày càng được bồi
đắp bất chấp sự hạn định của những khuôn khổ pháp lý hay chuẩn mực xã hội. Danh
dự, nhân phẩm là giá trị được sinh ra từ chính quá trình sáng tạo bản chất nhân văn
chân thiện mỹ của con người. Việc thừa nhận và đặc biệt nhấn mạnh sự tôn trọng
danh dự, nhân phẩm chính là sự khẳng định bước tiến to lớn của cộng đồng nhân loại,
tạo tiền đề pháp lý quan trọng cho sự thúc đẩy và hiện thực các quyền con người.
1.2.2. Cơ chế bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Pháp luật dân sự đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền đối với danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Có thể nói, pháp luật dân sự quy định chi tiết, cụ thể và đầy đủ
nhất về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 31, Điều 37,
Điều 38, Điều 611) và các văn bản luật khác như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
(Điều 21), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 204, Điều 205), Luật báo chí năm 1999
(Điều 9). Trong Bộ luật dân sự năm 2005, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín được quy định tại Điều 37 “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ”. Đặc biệt là Điều 611 BLDS 2005 quy định một cách
cụ thể, chi tiết về bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm uy tín bị xâm phạm.
Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy
tín được quy định tại các Điều 9 - Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; Điều
31- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; Điều 37- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín; Điều 38 - Quyền bí mật đời tư; Điều 611- Thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm. Quy định tại các điều luật này được chia thành hai nhóm:
Công nhận quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và Bảo vệ quyền đối với danh

khác (trong đó có Nhà nước) phải tôn trọng. Cho nên, mọi hành vi xâm phạm quyền
đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; quyền đối với danh dự, uy tín của tổ
chức đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín thường thể hiện bằng cách: dùng những lời lẽ hoặc hành
động có tính chất thóa mạ, khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu
xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Sự
đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình
hay cố ý. Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là
những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của
những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại.
1.2.2.2. Bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm,
uy tín được quy định tại Điều 611 của BLDS 2005 là xuất phát từ nguyên tắc chung
của Hiến pháp năm 1992 (Điều 12) và các nguyên tắc cơ bản được quy định tại
chương I BLDS 2005, trong đó phải kể đến các nguyên tắc được quy định tại các
Điều 9, Điều 10, Điều 24 BLDS 2005. Điều 9 quy định : “Tất cả các quyền dân sự
của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”12.
12

Xem Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Dân sự năm 2005

18


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Điều 10 quy định : “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
phạm dến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người
khác” 13.Các nguyên tắc được quy định tại các điều này là nhằm cấm các chủ thể
“không được xâm phạm” vào các quan hệ đó. Nếu chủ thể nào “xâm phạm” sẽ bị áp

13

Xem Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2005

19


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, các cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền có thể ra quyết định (đối với Toà án là bản án, quyết định) với một hoặc
một số nội dung: công nhận quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình;
buộc bên xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi vi phạm; buộc bên xâm phạm
quyền phải xin lỗi, cải chính công khai; buộc bên xâm phạm quyền phải thực hiện
nghĩa vụ dân sự; buộc bên xâm phạm quyền phải bồi thường thiệt hại.
• Tùy thuộc vào chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm và đặc điểm, tính chất,
mức độ của hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín mà xác
định tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy
tín.
Ví dụ: Trong trường họp phóng viên M tung tin thất thiệt, viết bài báo cáo sai
sự thật về N, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của N, tổ chức có thẩm
quyền giải quyết trước hết là cơ quan báo chí quản lý M. Nếu hành vi xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín này gây thiệt hại cho N, N có quyền yêu Tòa dân sự xem xét,
buộc M phải bồi thường thiệt hại cho N. Nếu hành vi của M cấu thành tội phạm, sự
việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự trước Tòa án hình sự.

Khi quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, bên
gây thiệt hại phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị xâm phạm: (a) Chi phí hợp lý để
hạn chế, khắc phục thiệt hại; (b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; (c) Tổn
thất tinh thân. Đối với thiệt hại (a) và (b) cá nhân bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm,

dân sự năm 2005 quy định và được hướng dẫn chi tiết trong Nghị quyết 03/2006/NQHĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Những
quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong Bộ luật dân sự năm
2005 cũng thể hiện sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các văn bản pháp luật
quốc tế về vấn đề này. Nhìn chung, các vấn đề về bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy túi bị xâm phạm được hình thành từ rất sớm, tuy nhiên vấn đề này chỉ
thực sự được cụ thể hóa tại Điều 609 BLDS 1995 và hiện nay là Điều 604 BLDS
2005. Qua đó, nhận thấy rằng pháp luật dân sự Việt Nam đã thật sự quan tâm đến
quyền nhân thân của cá nhân, cũng như các chủ thể khác của pháp luật dân sự. Các
quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng được ghi nhận và cơ chế bảo vệ cũng ngày
càng tiến bộ hơn.
1.3. So sánh bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và
bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản của người khác
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, một trong những sự đa dạng
đó là đối tượng bị thiệt hại. Đối tượng bị thiệt hại có thể là tài sản, nhưng cũng có thể
là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Chúng ta có thể thấy rõ sự giống
và khác nhau giữa bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với bồi thường thiệt hại
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:
❖ Giống nhau:

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với bồi thường do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm đều là một loại tách nhiệm pháp lý. Đây chính là thái
độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó gây ra. Cả hai
loại trách nhiệm này đều là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với
người vi phạm, buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, pháp nhân, của các chủ thể khác được
pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với bồi

21



Cách mạng tháng Tám thành công, đánh dấu một bước ngoặc mới: Nhà nước
Việt Nam dân chủ ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hành được các văn bản
quy phạm pháp luật ngay. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra hàng ngày, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký Sắc lệnh số 90/SL ngày 10/10/1945 và Sắc lệnh
97/SL ngày 22/5/1950 thừa nhận luật lệ cũ trên tinh thần không tra với nguyên tắt độc
lập và chính thể dân chủ cộng hòa của Nhà nước ta. Những quy định trong Sắc lệnh
số 97/SL đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của luật dân sự. Lần đầu
tiên những nguyên tắt thực sự dân chủ, tiến bộ mang tính nhân dân sâu sắc được pháp

22


Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

điển hóa. Như nguyên tắc: “Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta
hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân” hay “người ta chỉ được hướng dụng và
sử dụng các vật thuộc quyền sở hửu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt
hại đến quyền lợi của nhân dân”.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Bác Hồ đọc
bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ công hòa. Ngày 10 tháng
10 năm 1945 Chủ tích Hồ Chí Mính đã ký sắc lệnh số 90/SL cho phép sử dụng một số
luật lệ tiến hành ở Bắc - Trung – Nam cho đến khi ban hành những bộ luật thống nhất
cho toàn quốc, nhưng những luật lệ ấy không trái với nền độc lập của nước Việt Nam
và chính thể dân chủ cộng hòa. Với tinh thần đó, lần lượt các Bộ luật dân sự như: Bộ
luật Dân sự Nam kỳ giản yế 1883; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ luật Trung kỳ
1936 được tiếp tục ban hành14. Tuy nhiên, Việt Nam lại phải lao vào cuộc chiến tranh
chống Đế Quốc Mỹ xâm lược. Do nhiệm vụ cấp thiết nên hai bản Hiến Pháp 1946 và
1959 được ban hành một cách cấp thiết và không có quy định nào đề cập đến bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tính bị xâm phạm và bồi
thường thiệt hại về tinh thần.

luật trên của Hiến pháp 1992 không chỉ chú trọng về các thiệt hại về tài sản mà
còn chú trọng các thiệt hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của con
người.
Sau một thời gian dài đất nước ổn định và phát huy tinh thần Hiến pháp 1992
và các văn bản hướng dẫn thi hành việc giải quyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, pháp luật ngày càng được hoàn thiện hơn. Mặt khác, xu hướng phát triển kinh
tế đất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý củạ Nhà nước, đòi hỏi phải có Bộ
luật dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội EỘrig lớn. Bộ luật Dân sự ra đời
pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luật thống nhất nhằm
khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn của pháp luật dân sự trước
đó... Điển hình là việc ra đời Bộ luật Dân sự 1995 và Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP
ngày 28 tháng 4 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng. Cụ thể tại Điều 609 BLDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố
ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Sau thời gian
áp dụng Bộ luật Dân sự 1995 đã không còn phù hợp, với thực tế trong giai đoạn đất
nước phát triển nên yêu cầu phải sữa đổi, bổ sung BLĐS 1995. Và ngày 14 tháng 6
năm 2005 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ hợp thứ 7
đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài họp đồng được quy định tại Điều 604: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi
vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Để đưa những điều luật đi
vào thực tế Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị Quyết
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường
thiệt hại ngoài họp đồng.
Pháp luật ngày nay mà điển hình là BLDS 2005 đã đề cập đến hai vấn đề lớn

dân, mỗi cá nhân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật. Bồi thường thiệt hại có ý
nghĩa trong việc bảo vệ cuộc sống của con người trong xã hội. Vì thế pháp luật quy
định trách nhiệm bồi thường của các cá nhân trong cuộc sống nhầm tạo ra tâm lý yên
tâm cho mọi người trong xã hội. Biện pháp bồi thường thiệt hại nhằm răn đe, phòng
ngừa vi phạm của các cá nhân. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại danh dự, nhân thân...
của người khác áp dụng khi người có hành vi vi phạm trực tiếp hay gián tiếp gây ra
thiệt hại. Người gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc theo
thỏa thuận của hai bên. Cùng với việc bảo vệ quyền con người biện pháp bồi thường
thiệt hại đã phần nào hạn chế mâu thuẫn trong xã hội.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status