1
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế
quốc gia, bởi vì nó tạo ra cơ sở vật chất để phát triển đô thị, tạo công ăn việc làm cho người
lao động, tạo thu nhập quốc dân. Nhưng vấn đề đặt ra là phát triển các doanh nghiệp ở địa
phương bị tác động bởi những yếu tố nào. Đồng thời, những yếu tố nào có khả năng tác
động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay. Tuy các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh
khác nhau như: ngành công nghiệp xây dựng, tác động của các dịch vụ hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ khá hạn chế trong bối cảnh các nước đang phát triển (Timberg, 1992).
Điển hình là nghiên cứu khảo sát các yếu tố tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Khan (2004); Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah,
(2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013). Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ được nghiên
cứu ở các khía cạnh như các yếu tố khả năng doanh nhân, hỗ trợ tài chính, kết nối thị
trường, hỗ trợ chính sách nhà nước, công nghệ phù hợp, cơ sở hạ tầng đầy đủ.
Từ vấn đề đặt ra, định hướng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng, tác giả
sử dụng mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) để làm sáng tỏ lý thuyết trong nghiên
cứu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Với những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu
đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng”.
2. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Neck (1977) đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát triển
các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến Gibb (1993) đã phát triển một khung khái niệm cho việc
đánh giá sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các nước khu vực miền
Trung và Đông Âu. Sau này các khung lý thuyết hình thành và phát triển, điển hình một số
công trình nghiên cứu thực nghiệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước
đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng nghiên cứu như Bangladesh (Rahman, 2004; Khan,
2012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) và tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Kenya (Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa and Gregory, 2014).
xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; (3) Phạm vi thời gian: Dữ liệu dùng
để thực hiện luận án được thu thập bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu được
thông qua các bảng khảo sát 257 doanh nghiệp xây dựng và được thiết kế phù hợp với vấn
đề cần nghiên cứu.
3
5. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp của luận án thể hiện qua các mặt sau: (1) Luận án đã góp một phần
vào vận dụng lý thuyết phát triển doanh nghiệp nhằm làm sáng tỏ trường hợp nghiên cứu
phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. (2) Luận án đã góp phần phát hiện một số
yếu tố mới bổ sung vào mô hình phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng; (3) Luận án
đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian
tới.
6. Kết cấu luận án
Luận án nghiên cứu với những nội dung chính được chia thành 5 chương; ngoài phần
tổng quan về nghiên cứu, kết luận và kiến nghị, bảng biểu, các hình, sơ đồ, tài liệu tham
khảo.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
XÂY DỰNG TỈNH SÓC TRĂNG
1.1 Một số khái niệm và phát triển doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng: Doanh nghiệp xây dựng là một tổ chức kinh tế, có tư cách
pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài)
trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Luật doanh nghiệp quy
định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công
khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, mối
quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm, cơ sở hạ tầng đầy đủ. Cùng với khái niệm
phát triển doanh nghiệp chính là sự tăng trưởng của doanh nghiệp được Gladys N. Wekesa
Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục đưa ra khung khái niệm phát triển doanh nghiệp
tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển độc lập của doanh
nghiệp vừa và nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và doanh
thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cuối cùng, theo quan điểm tác giả vận dụng và đề nghị làm sáng rõ khái niệm phát
triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là đo lường sự tăng trưởng của
doanh nghiệp và có mối quan hệ tác động giữa các yếu tố đến tăng trưởng, được mô tả như
nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, thị trường, công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng,
môi trường và chính sách nhà nước.
5
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển doanh nghiệp
Nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự phát triển doanh nghiệp là cơ sở khái niệm.
Mặc dù, không có nhiều công trình nghiên cứu cơ sở về những hạn chế của sự phát triển của
các doanh nghiệp, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khan (2004) cho rằng các
khó khăn sau đây tác động đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh:
(a) thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, (b), thiếu tổ chức công nghiệp, (c) kích thước giới
hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp, và (d) thiếu chính sách đúng đắn và mang
tính xây dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn.
Nhìn chung, cũng giống nghiên cứu của Khan (2004) được Jahangir H. Khan, Abdul
Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012) tiếp tục kế thừa các
yếu tố như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng đầy đủ, hỗ trợ chính
phủ, công nghệ phù hợp, kết nối thị trường. Nếu chúng ta vận dụng các yếu tố này vào
nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu kế thừa một số
yếu tố sẽ phù hợp với điều kiện phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam như yếu tố hỗ trợ chính
Nazmul,
Hossain,
Yếu
Yếu
Yếu
Yếu
Yếu
Yếu
Yếu
tố 1
tố 2
tố 3
tố 4
tố 5
tố 6
Khan (2004);
Leigthelm,
Batra,
Cant
Tan
(2002);
(2003);
Chowdhury, Amin (2011)
Chen, Lasker (2010)
Njuangang,
Liyanage
Douglas,
(2010);
Kent
Fairfield, Joel Harmon, Scott
Behson (2011)
Souza (2009)
xây dựng tỉnh Sóc Trăng sử dụng mô hình lặp lại của Chowdhury, Islam, Alam (2013), mô
hình này được điều chỉnh cho phù hợp với ngành xây dựng ở Sóc Trăng. Kết quả nghiên
cứu định tính (ở chương 2), thông qua thảo luận nhóm, giữ lại 4 yếu tố (nguồn vốn, công
nghệ phù hợp, hỗ trợ chính sách nhà nước, kết nối thị trường) của mô hình gốc, loại bỏ 2
yếu tố (khả năng doanh nhân, cơ sở hạ tầng đầy đủ), đồng thời mô hình được bổ sung thêm
3 yếu tố mới (kiến trúc xây dựng, môi trường, nguồn nhân lực).
1.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ tác động đến phát triển doanh
nghiệp xây dựng được dựa trên mô hình gốc của Mohammed S.Chowdhury, Rabiul Islam,
Zahurul Alam, (2013) phát triển doanh nghiệp ở Bangladesh. Hiện nay, doanh nghiệp tại
Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% số lượng doanh
nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011).
Do đó, các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là một địa bàn của cả nước, nên phát
triển các doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng cũng là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ phù
hợp khi vận dụng mô hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh của
8
Mohammed S.Chowdhury, Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) vào nghiên cứu trường hợp
phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Mô hình nghiên cứu đề xuất phát
triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng như sau:
Nguồn vốn (NV)
Kết nối thị trường
(TTXD)
H1
Chính sách nhà nước
(CS)
Tóm tắt chương 1: Từ cơ sở lý thuyết này, sẽ đo lường mức độ tác động của các
biến độc lập vào biến mục tiêu (phụ thuộc), đồng thời là cơ sở tiến hành nghiên cứu định
tính và định lượng để kiểm lý thuyết ban đầu đưa ra xem xét 7 yếu tố tác động vào sự phát
triển doanh nghiệp xây dựng với mức độ cao hay thấp, có ý nghĩa thống kê hay không; với
kết quả nghiên cứu nhằm đề ra giải pháp hợp lý cho phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh
Sóc Trăng trong thời gian tới.
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
9
Có hai loại phương pháp nghiên cứu phổ biến là định tính và định lượng. Một cuộc
tranh cãi lớn xuất hiện qua việc áp dụng các phương pháp này trong nhiều ngành khoa học
xã hội (Bryman, 1988). Trong phát triển doanh nghiệp được nghiên cứu các yếu tố tác động
đến tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp
định tính kết hợp với phương pháp định lượng nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến phát
triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Cụ thể 2 phương pháp nghiên cứu được thực
hiện như sau.
2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
2.2.1 Quy trình nghiên cứu định tính
Quy trình được thực hiện thông qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn này cũng giúp nghiên cứu sinh xây dựng, hiệu chỉnh nội
dung bảng câu hỏi và xây dựng thang đo phù hợp. Bảng câu hỏi mà nghiên cứu sinh xây
dựng được tham khảo từ tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây.
Giai đoạn 2: Điều tra, khảo sát thực tế: nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát các
doanh nghiệp xây dựng, các chuyên gia đang quản lý ở lĩnh vực xây dựng thông qua bảng
câu hỏi trực tiếp. Kết quả thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được yêu cầu
cùng là nhận định, xác định các thông tin với lý thuyết hoặc khái niệm trong quá trình
nghiên cứu (Miles & Huberman, 1994). Để đánh giá các yếu tố quan trọng và đảm bảo độ
tin cậy, nghiên cứu sẽ lựa chọn những vấn đề, khái niệm, thuật ngữ có tần suất hiện trên
60% trong quá trình phỏng vấn.
2.2.5 Kết quả nghiên cứu định tính
Sau khi thực hiện các công việc thiết kế nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn, thu thập số
liệu và xử lý số liệu, để bố cục thông tin được chặt chẽ và dễ theo dõi kết quả nghiên cứu
định tính được trình bày bằng cách trả lời các câu hỏi nghiên cứu, với kết quả nghiên cứu
cho thấy trên 60% mức độ đồng ý (phụ lục 3), có 2 yếu tố không đạt yêu cầu có mức đồng ý
thấp dưới 60% (yếu tố khả năng của doanh nhân đạt 42,11%; yếu tố cơ sở hạ tầng đầy đủ
đạt 36,48%).
Kết quả nghiên cứu yếu tố phát triển doanh nghiệp xây dựng
Khan Atiqur Rahman (2004) và Khan (2012) cho rằng các khó khăn trong phát triển
doanh nghiệp là sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Qureshi, Herani (2011)
đo lường sự phát triển và tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua đo lường các biến
quan sát như: Tăng năng suất; Tăng cường công việc; Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và
chất lượng cuộc sống; Giảm nghèo khó; Đầu tư vào y tế và giáo dục gia đình. Chowdhury,
Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là đo lường sự tăng trưởng của
11
doanh nghiệp. Nghiên cứu của Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục khẳng định phát
triển doanh nghiệp tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
doanh nghiệp nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường bằng lợi nhuận và doanh
thu bán hàng.
Từ kết quả cho thấy rằng có sự thay đổi của các yếu tố (nguồn vốn, kết nối thị
trường, hỗ trợ chính sách nhà nước, nguồn nhân lực, công nghệ phù hợp, môi trường, kiến
trúc xây dựng) sẽ có tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng; Kế thừa thang đo gốc
về phát triển (tăng trưởng) doanh nghiệp, kết hợp với kết quả nghiên cứu định tính, thang đo
12
hiệu NV: từ NV1 đến NV3
X2
Kết nối thị trường
Các biến quan sát để đo lường; Được ký
hiệu TTXD: TTXD1 đến TTXD6
Các
X3
Chính sách nhà nước
biến
Các biến quan sát để đo lường; được ký
hiệu CS: từ CS1 đến CS4
độc lập
X4
Nguồn nhân lực
Các biến quan sát để đo lường; Được ký
phụ
thuộc
Sóc Trăng (PTDN)
Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả
2.7 Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Mô hình đo lường gồm 35
biến quan sát, theo (Hair & Ctg, 1998) kích thước mẫu cần thiết là 1: 5, có nghĩa, 1 câu hỏi
cần 5 phiếu trả lời, do đó số phiếu cần khảo sát sẽ là n = 175 (35 x 5). Để đạt được kích
thước mẫu đề ra, có 262 bảng câu hỏi điều tra trực tiếp được gửi đi phỏng vấn. Kết quả thu
về và sàng lọc loại bỏ 5 mẫu không đạt yêu cầu, còn lại 257 mẫu hợp lệ và hoàn tất được sử
dụng cho nghiên cứu chính thức.
Tóm tắt chương 2: Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và các vấn đề nghiên cứu, luận án
đề xuất các phương pháp nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu phát triển các
doanh nghiệp xây dựng, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích hồi qui bội để phân tích
các thành phần tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.
13
Chương 3
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TỈNH SÓC TRĂNG
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Mẫu khảo sát
Trong nghiên cứu này, thực tế tổng số mẫu gởi đi là 262 bảng, kết quả thu về và qua
sàng lọc còn lại 257 bảng hợp lệ trả lời và được sử dụng để phân tích.
3.1.2. Phương pháp lấy mẫu
Cơ sở lý thuyết phát triển doanh nghiệp xây dựng được sử dụng trong nghiên cứu
gồm 7 biến độc lập và một biến phụ thuộc, với 35 biến quan sát được đánh giá sơ bộ thông
qua hai công cụ chính: (1) Hệ số tin cậy Cronbach alpha, và (2) Phương pháp phân tích
nhân tố khám phá EFA. Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn
hơn 50% và trọng số yếu tố phải từ 0.50 trở lên.
3.3.2 Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha
Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s alpha thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến phát
triển doanh nghiệp xây dựng được trình bày. Kết quả này cho thấy các thang đo đều đảm
bảo độ tin cậy, hệ số Cronbach’s alpha nhỏ nhất là 0.693 và cao nhất là 0.879 được chấp
nhận, hệ số tương quan biến – tổng đều đạt trên 0.3, các thang đo đều đạt yêu cầu và được
tiếp tục đưa vào phân tích EFA.
3.3.3 Kết quả phân tích nhân tố EFA của thang đo các biến độc lập.
Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA cho thấy thang đo đạt yêu cầu với tổng
phương sai trích là 66,39% ( > 50%) và yếu tố phần lớn đều lớn hơn 0.50; trích được 7 yếu
tố có Eigenvalue >1 (Xem phụ lục 1).
3.3.4 Kết quả phân tích nhân tố EFA của thang đo biến phụ thuộc.
Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA thang đo biến phụ thuộc cho thấy thang đo
đạt yêu cầu với tổng phương sai trích là 60,8% ( > 50%) và yếu tố phần lớn đều lớn hơn
0,70; trích được 1 yếu tố có Eigenvalue =3,0441 (xem phụ lục 2.2).
3.3.5 Kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
3.3.5.1 Phân tích trung bình và độ lệch chuẩn
Theo kết quả xử lý được nêu cho thấy giá trị trung bình của các yếu tố tác động đến
phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng dao động từ 3,48 đến 3,66 với thang điểm
cho từ 1 đến 5 và độ lệch chuẩn từ dao động 0,694 đến 0,786 (dưới 1).
3.3.5.2 Phân tích tương quan
15
Theo số liệu được nêu ở phụ lục lục 2.5 cho thấy, mối quan hệ tuyến tính giữa biến
Hằng số
1.513E-16
Sai lệch
chuẩn
.041
Hệ số
chuẩn
hóa
Thống kê cộng tuyến
Giá trị
t
Beta
.000
Mức ý
nghĩa
Sig.
1.000
Hệ số
chấp
nhận
.383
.041
.383
9.237
X6
.279
.041
.279
6.725
X7
.319
.041
.319
7.708
a. Biến phụ thuộc:
Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả
.000
.000
.001
.001
.000
.000
.000
.820
.608
.614
.750
0,000< 5% Chấp nhận
Nguồn nhân lực có tác động dương đến phát triển
doanh nghiệp xây dựng.
H5
Công nghệ phù hợp có tác động dương đến phát
triển doanh nghiệp xây dựng.
H6
Kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tích cực đến
phát triển doanh nghiệp xây dựng.
H7
Môi trường xây dựng có tác động dương đến phát
triển doanh nghiệp xây dựng.
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả
0,001
nguyên nhân, hạn chế thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng ở chương
4 nhằm đề xuất các nhóm giải pháp phát triển các DNXD Sóc Trăng ở chương 5.
Chương 4
HIỆN TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG
4.1 Giới thiệu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Nhìn chung phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng tăng dần từ khi mới
tái lập tỉnh đến nay, giai đoạn năm 2009-2013 số lượng doanh nghiệp mới thành lập tăng
18
đều qua các năm, cụ thể năm 2009 là 1.230 doanh nghiệp thành lập mới đến năm 2013 là
1.540 doanh nghiệp thành lập.
4.1.2 Số lượng doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp
Số lượng thành lập doanh nghiệp: Tình hình thành lập mới năm 2014 của tỉnh Sóc
Trăng toàn tỉnh có thêm 145 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 93% so cùng kỳ,
tổng vốn đăng ký đầu tư 349 tỷ đồng, tăng 6,3%; bên cạnh đó, có 31 doanh nghiệp đăng ký
giải thể, tăng 29%, với tổng vốn 56,5 tỷ đồng. Tính đến nay, toàn tỉnh có 1.672 doanh
nghiệp, với số vốn đăng ký 5.321 tỷ đồng.
Phân theo loại hình doanh nghiệp: Theo loại hình và vốn đóng góp tính đến năm
2014, toàn tỉnh chủ yếu là loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn, doanh nghiệp tư nhân có trên 1.672 các doanh nghiệp với tổng số vốn là 9.017 tỷ đồng.
Trong đó, doanh nghiệp tư nhân số lượng thành lập nhiều nhất là 798 doanh nghiệp, với số
vốn đăng ký kinh doanh là 2.350 tỷ đồng, trong khi đó Công ty cổ phần có số lượng chỉ 123
doanh nghiệp và lại thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân nhưng vốn đăng ký kinh doanh là
2.866 tỷ đồng gấp hơn rất nhiều lần.
Phân theo ngành nghề kinh doanh: Theo danh mục các doanh nghiệp đăng ký kinh
đến năm 2014 tăng lên 8.620 tỷ đồng; Thứ hai là ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô,
mô tô, xe máy và xe có động cơ khác năm 2010 với số vốn sản xuất kinh doanh là 2.833 tỷ
đồng và đến năm 2014 tăng lên 4.672 tỷ đồng; Thứ ba là ngành nghề kinh doanh xây dựng
năm 2010 với số vốn sản xuất kinh doanh là 2.583 tỷ đồng và năm 2014 tăng lên 3.702 tỷ
đồng.
4.1.5 Quy mô doanh thu thuần sản xuất kinh doanh
Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng phân theo
ngành nghề của 10 ngành nghề kinh doanh chính. Trong đó có 03 ngành nghề kinh doanh có
doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phân theo ngành nghề cao nhất
đó là: Thứ nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có vốn năm 2010 với doanh thu
thuần sản xuất kinh doanh 10.067 tỷ đồng và đến năm 2014 doanh thu tăng lên 20.420 tỷ
đồng; Thứ hai là ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ
khác năm 2010 với doanh thu thuần sản xuất kinh doanh là 9.625 tỷ đồng và đến năm 2014
doanh thu tăng lên 14.920 tỷ đồng; Thứ ba là ngành nghề kinh doanh doanh nghiệp xây
dựng năm 2010 với số vốn sản xuất kinh doanh là 1.431 tỷ đồng và sang năm 2014 doanh
thu tăng lên 1.982 tỷ đồng.
4.2 Thực trạng những yếu tố tác động phát triển doanh nghiệp xây dựng
20
Phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời gian qua,
thông qua tìm hiểu một số yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng như: Yếu
tố môi trường xây dựng; Yếu tố kiến trúc xây dựng; Yếu tố nguồn vốn; Về yếu tố kết nối thị
trường; Yếu tố tiếp cận các chính sách nhà nước; Yếu tố nguồn nhân lực; Về yếu tố công
nghệ phù hợp.
4.3 Đánh giá chung tình hình phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Trên cơ sở đánh giá chung thực trạng phát triển rút ra một số ưu điểm và những hạn
chế và nguyên nhân các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng.
5.2.2 Giải pháp về công nghệ phù hợp
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy công nghệ phù hợp tác động mạnh thứ hai
đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b5 = 38.3%, trung bình đánh giá là 3.66 và
độ lệch chuẩn là 0.694. Từ đó, trong thời gian tới doanh nghiệp xây dựng cần tập trung vào
một số giải pháp về công nghệ xây dựng như sau:
1) Doanh nghiệp bổ sung kinh phí để tiếp cận công nghệ xây dựng mới
2) Doanh nghiệp cần thực hiện liên tục cải tiến công nghệ xây dựng
3) Doanh nghiệp cần quan tâm đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ
mới
4) Doanh nghiệp cần quan tâm hơn công nghệ sản xuất đáp ứng nhu cầu khách hàng
5.2.3 Giải pháp về thiết kế kiến trúc xây dựng
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy thiết kế kiến trúc xây dựng tác động mạnh
thứ ba đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b7 = 31.9%, trung bình đánh giá là
3.55 và độ lệch chuẩn là 0.743. Để thực hiện giải pháp về thiết kế kiến trúc xây dựng doanh
nghiệp cần tập trung vào một số giải pháp như:
1) Thiết kế kiến trúc hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu
2) Thiết kế kiến trúc cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước ở tỉnh Sóc
Trăng cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long
3) Thiết kế của các doanh nghiệp xây dựng phải có tính kế thừa dòng kiến trúc dân
gian, dòng kiến trúc truyền thống
4) Đối với doanh nghiệp xây dựng thực hiện công tác tư vấn thiết kế kiến trúc xây dựng
cần quan tâm.
5.2.4 Giải pháp về môi trường
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy môi trường tác động mạnh thứ tư đến phát
triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b6 = 27.9%, trung bình đánh giá là 3.56 và độ lệch
chuẩn là 0.761. Tuy nhiên, hiện nay các chất ô nhiễm trong ngành xây dựng chủ yếu là tiếng
22
23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Xuất phát từ tình hình thực tế phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, luận
án đã phân tích được những nguyên nhân, hạn chế cơ bản tác động đến phát triển doanh
nghiệp xây dựng; và rút ra bảy yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.
2. Kiến nghị
2.1 Kiến nghị đối với nhà nước
Kiến nghị chính quyền địa phương: Một là, Ủy ban nhân tỉnh Sóc Trăng, Sở Xây
dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng cần có sự quan tâm đúng mức và xây dựng
chiến lược mang tính định hướng, mục tiêu phát triển doanh nghiệp toàn vùng và cả nước
theo Quyết định số 1231/QĐ-TTg của Chính Phủ và Quyết định số 2457/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm
2020. Hai là, đối với Ủy ban nhân tỉnh cần rà soát lại quy hoạch phát triển doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng để bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với tình hình
phát triển doanh nghiệp cụ thể ở Quyết định số 206/QĐ-UBND của Ủy ban nhân tỉnh Sóc
Trăng. Ba là, các Sở, Ban ngành tham mưu Ủy ban nhân tỉnh, trước hết Sở Kế hoạch và Đầu
tư cần được nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động; nhất là mảng quản lý nhà nước về
phát triển các doanh nghiệp xây dựng được tăng cường về nhân sự có chuyên môn sâu, bản
lĩnh và tâm huyết.
Kiến nghị chính sách nhà nước: Một là, đối với chính sách cải cách thủ tục hành
chính của chính quyền; Hai là, chính sách thuế đối với các doanh nghiệp xây dựng; Ba là,
đối với chính sách nhà nước quản lý kinh doanh bất động sản; Bốn là, đối với chính sách
quản lý đấu thầu trong hoạt động xây dựng; Năm là, chính quyền địa phương cần hoàn thiện
hệ thống pháp luật kinh doanh bất động sản nhằm nâng cao tính hấp dẫn của thị.
2.2 Một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo
Một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo, cũng như bất kỳ nghiên cứu