BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN MAI THỊ KIM HÒA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ NGHÈO ĐÓI CỦA CÁC HỘ NGƢ DÂN
VEN ĐẦM THỦY TRIỀU, HUYỆN CAM LÂM,
TỈNH KHÁNH HÒA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN MAI THỊ KIM HÒA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ NGHÈO ĐÓI CỦA CÁC HỘ NGƢ DÂN
LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cám ơn thầy Phạm Hồng Mạnh đã hướng dẫn tôi
trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô, những người đã truyền đạt kiến thức
cho tôi trong thời gian học cao học vừa qua.
Chân thành cám ơn Ban Thường vụ Huyện ủy Cam Lâm, HĐND huyện Cam
Lâm, UBND huyện Cam Lâm đã cho phép tôi được tham gia học tập khóa học này.
Xin cám ơn các anh chị phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cam Lâm, Trạm
Khuyến công – Khuyến nông – Khuyến lâm – Khuyến ngư Cam Lâm, phòng Lao
động – Thương binh và Xã hội Cam Lâm, UBND các xã Cam Hòa, Cam Hải Tây,
Cam Thành Bắc và thị trấn Cam Đức cùng bà con ngư dân ven đầm Thủy Triều đã
cung cấp những thông tin liên quan, hữu ích cho luận văn này. Đặc biệt, tôi chân thành
cám ơn các đồng nghiệp tại UBND xã Cam Hải Đông đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên
tinh thần trong quá trình học tập và làm luận văn của tôi.
Lời cám ơn sau cùng đến những người thân đã quan tâm tạo điều kiện tốt nhất
để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Trân trọng cám ơn !
Trần Mai Thị Kim Hòa
iii
MỤC LỤC
2.3.3. Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu 32
2.3.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 32
2.3.4.1. Mô hình hồi quy đa biến xác định những nhân tố tác động đến thu
nhập đầu người 33
2.3.4.2. Mô hình Binary Logistic 33
CHƢƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGHÈO TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢ
DÂN VEN ĐẦM THỦY TRIỀU HUYỆN CAM LÂM………………………………… 40
3.1. Sơ lược về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cam Lâm 40
3.1.1. Vị trí địa lý 40
3.1.2. Điều kiện tự nhiên 41
3.1.3. Đất đai 41
3.1.4. Khí hậu và thủy văn 42
3.1.5. Nguồn lợi thủy sản 43
3.2. Sơ lược về kinh tế - xã hội huyện Cam Lâm 43
3.2.1. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 43
3.2.2. Giáo dục 44
3.2.3. Y tế 45
3.2.4. Tình hình đời sống dân cư 45
3.3. Phân tích thực trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân ven đầm thủy triều
huyện Cam Lâm 47
v 3.3.1. Khái quát về mẫu nghiên cứu 47
3.3.2. Đo lường mức độ nghèo 49
3.3.3. Đặc điểm tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân khai thác ven đầm
Thủy Triều 50
3.3.3.1. Đặc điểm nghèo và nghề khai thác 50
3.3.3.2. Nghèo và trình độ học vấn 52
3.3.3.3. Quy mô hộ gia đình và số người sống phụ thuộc 53
vii DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo 15
Bảng 2.1. Kết quả nghiên cứu sơ bộ……………………………………………… 27
Bảng 2.2. Số lượng mẫu điều tra tại các địa phương……………………………… 29
Bảng 3.1. Số liệu về nhà kiên cố, điện, nước máy và nhà vệ sinh tự hoại từ 2008
đến 2012 46
Bảng 3.2. Thông tin cá nhân của hộ gia đình ngư dân 48
Bảng 3.3. Thu nhập bình quân đầu người và quy mô hộ gia đình 49
Bảng 3.4. Chỉ số đánh giá tình trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân khai thác
ven đầm Thủy Triều 49
Bảng 3.5. Số nghề khai thác thủy sản và phương tiện khai thác 51
Bảng 3.6. Số hộ nghèo với số nghề tham gia khai thác 52 1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu. Nó không
chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại ngay tại các
quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế
chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói
của từng quốc gia có khác nhau [20].
Việt Nam luôn coi vấn đề xóa đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1
, cũng như Việt Nam đã công bố cam kết
thực hiện các mục tiêu phát triển của Liên hiệp quốc (UN) tại Hội nghị thượng đỉnh
các quốc gia năm 2000. Nhìn lại hai thập kỷ qua cho thấy Việt Nam đã đạt được
những thành tựu ấn tượng trong giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và
đánh giá cao. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã
giảm liên tục trong vòng hai thập kỷ, từ 58% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998;
28,9% năm 2002; 16% năm 2006;14,5% năm 2008; 11,76% năm 2011; 9,6% năm
2012, nhờ đó mà gần 30 triệu người đã thoát nghèo [23], [14].
Mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo, song một bộ phận
dân cư vẫn chưa thoát hẳn khỏi bẫy nghèo đói và không có nghĩa là công cuộc giảm
nghèo đã được hoàn tất. Do đó, trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI đã xác định trong phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 2011 – 2020 như
sau: “…Tạo ra bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an
quốc gia giảm 3%/năm, tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn vay 95% theo Nghị quyết
của Đảng bộ huyện Cam Lâm [10] là một vấn đề khó khăn đòi hỏi các ngành, các cấp,
và tự mỗi gia đình phải vươn lên thoát nghèo bền vững. Do đó tác giả đã chọn đề tài:
“Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm Thủy
Triều, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Đây là đề
tài mới, chưa từng được triển khai nghiên cứu tại huyện Cam Lâm, do đó đề tài sẽ chắc
chắn góp phần thiết thực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho các ngư dân khai thác
ven bờ tại các xã trong vùng nghiên cứu thuộc địa bàn huyện Cam Lâm.
2.Mục tiêu đề tài
2.1. Mục tiêu chung
3 Nghiên cứu các yếu tố tác động đến nghèo của các hộ ngư dân ven đầm Thủy
Triều, nhằm cải thiện các điều kiện sống cho người dân tại khu vực này.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng nghèo tại khu vực ven đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tại khu vực này.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xác suất gây ra đói nghèo đồng thời xây
dựng các kịch bản nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng lớn tới tình trạng nghèo.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề nghèo đói
của ngư dân khai thác trong đầm Thủy Triều.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ ngư dân ven đầm Thủy Triều,
gồm các xã, thị trấn: Cam Hòa, Cam Hải Tây, Cam Hải Đông, Cam Thành Bắc, thị
trấn Cam Đức. Ngư dân tại các xã ven đầm Thủy Triều chủ yếu khai thác thủy sản
trong đầm Thủy Triều bằng công cụ thô sơ, năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào nguồn
lợi thủy sản trong đầm và phụ thuộc vào thời tiết, mùa biển động đời sống ngư dân gặp
nhiều khó khăn, do đó tỷ lệ nghèo cao.
Chương 1, luận văn nêu cơ sở lý thuyết về nghèo bao gồm các quan điểm, khái
niệm, các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo và các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng
nghèo của hộ gia đình.
Chương 2, luận văn đề cập tới phương pháp nghiên cứu bao gồm đề xuất mô
hình nghiên cứu của luận văn, nguồn số liệu, mẫu nghiên cứu.
Chương 3, trình bày về phân tích thực trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân
ven đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm, bao gồm: khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc
điểm kinh tế xã hội huyện Cam Lâm, phân tích các yếu tố tác động đến nghèo của các
hộ ngư dân ven đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa, các yếu tố tác động
đến thu nhập trong cộng đồng ngư dân ven đầm Thủy Triều.
5 Cuối cùng, trong chương 4 đề cập tới những giải pháp nhằm gợi ý chính sách
giảm nghèo cho các xã ven đầm Thủy Triều.
6 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ KHÁI NIỆM VỀ NGHÈO
1.1.1. Quan điểm về nghèo
Theo Ngân hàng thế giới (WB) nghèo là tình trạng không có khả năng có mức
sống tối thiểu. Với cách đánh giá này thì điểm khởi đầu để xác định ranh giới đói
nghèo là nhu cầu kcalo (năng lượng) tối thiểu được dùng cho mỗi người mỗi ngày.
Mức tối thiểu mà WB sử dụng là 2100 kcalo/người/ngày với rổ lương thực thực phẩm
gồm 40 sản phẩm. WB gọi đây là chỉ số phúc lợi – thước đo chất lượng cuộc sống và
tiềm năng con người. Người dân không thể có được khả năng thỏa mãn một cách đầy
đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn mặc, ở… Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp
cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn
thể và không được thỏa mãn cả nhu cầu về văn hóa xã hội… Nói tóm lại, sự lựa chọn
của người dân bị hạn chế. Áp dụng quan điểm tiếp cận này cho phép định nghĩa nghèo
đói như là sự thiếu vắng hàng loạt nhu cầu cơ bản và hạn chế sự lựa chọn của con
người. Quan điểm này không loại trừ hai quan điểm nêu trên, mà bao trùm lên cả hai
quan điểm ấy. Nghĩa là bao gồm cả mức thu nhập thấp và hạn chế khả năng con người
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mình. Cách nhìn cấn đề từ quan điểm phát triển
con người cho phép khảo sát nghèo đói như là một hiện tượng đa chiều, có nguồn gốc
sâu xa. Nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu đã xác định “nghèo” là phần dân số mà
không thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cơ bản. Các tác giả khác xem nghèo đói là một
hàm của các biến số nhu giáo dục hoặc sức khỏe, bao gồm các biến số như tuổi thọ
hoặc tử vong ở trẻ em, và quy mô hộ gia đình. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho
rằng, đòi nghèo được hiểu trong phạm vi rất rộng như: không thể đáp ứng “nhu cầu cơ
bản”. Nhu cầu cơ bản được đề cập bao gồm nhu cầu vật chất (thực phẩm, sự chăm sóc
về y tế, giáo dục, chỗ ở…) và phi vật chất (sự tham gia, danh dự) và đòi hỏi một cuộc
sống có ý nghĩa”. Trong khi đó Ngân hàng thế giới lại xem nghèo là một vấn đề đa
chiều nên rất khó để đưa ra một định nghĩa và tổ chức này trong thời gian qua cũng có
những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Trong năm 1990,
định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và
8 dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2001 báo cáo đã thêm vào
khái niệm những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tính dễ bị tổn
thương.
Hầu hết các nước phát triển sử dụng thu nhập (income) để xác định nghèo đói,
trong khi các nước đang phát triển sử dụng chi tiêu (expenditure). Đối với các nước
phát triển, thu nhập phần lớn là từ lương nên dễ xác định, trong khi chi tiêu dùng thì
1.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐO LƢỜNG NGHÈO
1.2.1. Cơ sở xác định nghèo
1.2.1.1. Phƣơng pháp dựa vào thu nhập
Thu nhập là chỉ báo kinh tế đánh giá phúc lợi của con người đạt được. Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội đã áp dụng phương pháp này để xác định ngưỡng nghèo.
Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội đưa ra để đo lường mức nghèo có thể xếp vào loại này. Phương pháp
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài
sản và về thu nhập từ các nguồn khác nhau. Thu nhập từ tất cả các nguồn này được
cộng lại, chia cho số người trong hộ, và so sánh với chuẩn nghèo được quy định.
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng
chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn. Kể từ 1993 đến nay Chính phủ đã 6 lần điều
chỉnh mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh năm lần vào các năm 1993,
1997, 1998, 2001, 2005. Chuẩn nghèo được áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 đối
với khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, còn ở khu vực
thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới
3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [9].
Tuy nhiên, trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2006 – 2010, sự tăng
trưởng kinh tế nhanh đã làm cho các biến số vĩ mô của nền kinh tế có những thay đổi
lớn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã làm cho chuẩn nghèo tuyệt đối không còn phù
hợp trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình. Do đó, Chính phủ tiếp tục
điều chỉnh chuẩn nghèo mới để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay bằng
10 Quyết định số 09/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2011- 2015 như sau: ở khu vực nông thôn những hộ có mức bình quân
từ 400.000 đ/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (từ 4.800.000 đồng/người/năm); ở
khu vực thành thị thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo
Bên cạnh đó, thu nhập từ các hoạt động khai thác thủy sản có thể thay đổi bất
thường hàng năm hoặc thậm chí hàng ngày trong khi mức tiêu dùng vẫn tương đối ổn
định. Nói cách khác, đặc điểm về chi tiêu ổn định hơn nhiều so với thu nhập, và được
sử dụng tốt hơn trong phân tích nghèo đói. Những biến động của thu nhập và chi tiêu
được minh họa trong hình 1.1.
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2005
Hình 1.1. Sự biến động giữa thu nhập và chi tiêu theo thời gian
Phương pháp tiếp cận này đã được Ngân hàng Thế giới sử dụng trong các báo
cáo phân tích của mình. Rõ ràng, chi tiêu không những ít bị khai thấp hơn thu nhập mà
nó còn ổn định hơn từ năm này qua năm khác, do đó có đủ cơ sở và căn cứ lý thuyết
để sử dụng các thước đo chi tiêu nhằm phản ánh mức sống.
1.2.1.3. Phƣơng pháp phân loại của địa phƣơng
Trong phương pháp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trên thực tế tại
các địa phương đã không tuân thủ một cách cứng nhắc phương pháp dựa vào thu nhập
nêu trong tài liệu hướng dẫn. Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo để
phân bổ các khoản trợ giúp ở địa phương là có sự chi phối của cộng đồng dân cư mà
đại diện là thôn. Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo thông qua sự bàn bạc của
người dân (Phạm Hồng Mạnh, 2010).
12 Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một tiêu chuẩn và quy tắc chặt chẽ
để xác định hộ nghèo. Những hộ bị coi là không chịu chăm chỉ lao động hoặc không
rất hữu ích trong trường hợp đo lường hiệu quả của các chính sách xóa đói giảm nghèo
theo thời gian như giảm tỷ lệ phần trăm hoặc giảm số người nghèo. Tuy nhiên, chỉ số
đếm đầu người không thể phản ánh được sự khác biệt trong phân phối thu nhập và
mức độ nghèo của người dân.
- Khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)
Nếu gọi là thu nhập trung bình của người nghèo và z là chuẩn nghèo thì
I = z - là khoản thu nhập thiếu hụt trung bình. Chỉ tiêu này đo lường mức tiền thiếu
hụt cần gia tăng từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo. Hạn chế chủ yếu của chỉ số
khoảng cách nghèo đói là thất bại trong việc phản ánh số lượng người nghèo trong
tổng dân số.
- Mức độ nghiêm trọng của nghèo đói (bình phương khoảng cách nghèo đói)
Chỉ số này đo lường khoảng cách từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo cùng với
sự bất bình đẳng giữa các nhóm nghèo. Công thức đo lường sự nghèo đói này bao gồm
sự thay đổi trong tổng số người nghèo, thay đổi trong tình trạng thiếu hụt thu nhập và
sự nhạy cảm của nghèo đói như sau:
P
α
(y,z) = hay P
α
(y,z) = (2)
Trong đó:
α >0
n: là tổng số hộ trong cộng đồng dân cư
q: là số hộ nghèo dưới mức chuẩn nghèo
g
i
: là khoảng cách nghèo đói của hộ gia đình thứ i
y
i
: là thu nhập của hộ nghèo thứ i
P
1
(y,z) = = (5)
α là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người
nghèo [18].
1.3.YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH
Ngân hàng Thế giới đã đưa ra 4 nhóm đặc điểm chính ảnh hưởng đến tình trạng
nghèo của hộ gia đình:
Thứ nhất, các đặc điểm của cấp độ vùng: những đặc điểm này bao gồm các vấn
đề như: sự cách biệt, sự cách biệt về địa lý/xã hội do thiếu hạ tầng cơ sở; hạn chế trong