Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển kinh tế, xã hội các huyện miền núi - Pdf 34

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN TÓM TẮT
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT 
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ ­ XàHỘI 
CÁC HUYỆN MIỀN NÚI 

                                        

Học viên: 

Lai châu, 2014


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã dành sự  quan tâm đặc biệt đối với sự  phát 
triển kinh tế  ­ xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ  trương, chính sách, 
chương trình, dự  án và tổ  chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong 
nhiều năm qua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi 
bộ mặt nông thôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển. Ngân sách nhà nước 
đầu tư khá lớn cho khu vực miền núi. Tuy nhiên, kinh tế ­ xã hội tại miền núi 
vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập. 
Đối với tỉnh Lai Châu, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp  
cũng rất quan tâm đến đầu tư  cho miền núi và chắc chắn trong nhiều năm 
đến sẽ có sự đầu tư lớn cho phát triển kinh tế ­ xã hội khu vực miền núi.
Một thực tiễn rất đáng quan tâm là: có nhiều chương trình, dự án triển 
khai thực hiện  ở  miền núi  với tổng số  vốn đầu tư  lớn, nhưng s au khi kết 
thúc, tính  ổn định, phát huy không được giữ  vững   hoặc hiệu quả  thấp. Do 

Mục tiêu của đề tài là:
Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính  
sách hỗ  trợ đầu tư  phát triển kinh tế  ­ xã hội  ở  các huyện miền núi tỉnh Lai 
Châu  trong giai đoạn 2006 ­ 2010. Qua đó đánh giá hiệu quả  sử  dụng các  
nguồn lực đầu tư ở miền núi.
Đề  xuất các giải pháp có tính khả  thi góp phần đẩy mạnh phát triển  
kinh tế ­ xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế ­ xã hội  
các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá tình hình thực hiện một số 
chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế ­ xã hội tại các huyện miền  
núi tỉnh Lai Châu, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư  ở 
miền núi.
Xác định một số  nhiệm vụ  trọng tâm phát triển kinh tế  ­ xã hội các 
huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015. Đề  xuất các giải pháp 
góp phần phát triển kinh tế ­ xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
3. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ 
nghĩa duy vật biện chứng  và  chủ  nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận 
chủ  yếu của đề  tài là lý luận Mác­xít được sử  dụng trong toàn bộ  nội dung 
của đề tài. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện 
tượng tồn tại trong mối liên hệ  phổ  biến và chúng luôn vận động, biến đổi, 
phát triển không ngừng. Trên cơ  sở  quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử 
cụ  thể và quan điểm phát triển để  xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu  
của đề  tài. Vận dụng các quan điểm này để  làm cơ  sở  cho việc xem xét các 
sự kiện xã hội và quá trình phát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế ­ xã hội  
tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
Trên   cơ   sở   phương   pháp   luận   chung   đó,   đề   tài   chủ   yếu   vận   dụng 
hướng tiếp cận của Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng, Lý thuyết phát triển, quan 
điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài. Một 

hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015. Vì vậy, đây là 
luận cứ  khoa học phục vụ cho sự  lãnh đạo, chỉ  đạo, điều hành quản lý của 
tỉnh và trong việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế  ­ xã hội miền núi  
nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước.
Đề  tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề  xuất các 
giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ­ xã  
hội  ở  miền núi nhanh và bền vững. Vì vậy, đề  tài có giá trị  thực tiễn, giải 
quyết vấn đề  vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm 
sáng tỏ về mặt lý luận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát 
triển kinh tế ­ xã hội miền núi.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở  đầu, kết luận và phụ  lục, báo cáo tổng hợp kết quả 
nghiên cứu đề tài được thể hiện trong ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2.  Đánh giá tình hình thực hiện một số  chính sách, chương  
trình, dự án phát triển kinh tế­xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
Chương 3. Các giải pháp góp phần phát triển kinh tế­xã hội các huyện 
miền núi tỉnh Lai Châu


PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
1.1. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một  
số  lý thuyết: “Cấu trúc ­ chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của 
Đảng và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài. 
1.1.1. Vận dụng Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng 
Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội  

nhau khi nói đến thuật ngữ  “phát triển”. Có quan điểm coi phát triển và tăng 
trưởng có cùng nội dung. Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện 
tượng kinh tế  mà phải  được xem như  là toàn bộ  quá trình bao gồm các đặc 
điểm kinh tế  ­ chính trị  ­ xã hội và văn hoá. Trên quan điểm về  kinh tế  ­ xã  
hội, phát triển giúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu 
có hơn.
Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những 
vấn đề  thuần tuý có tính kinh tế. Lý thuyết phát triển ngày nay chú ý nhiều  
hơn các vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển, về lĩnh vực văn hoá, xã  
hội... Do đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với tăng trưởng kinh tế 
mà là sự phát triển một cách tổng thể. Với yêu cầu như vậy, khi vận dụng Lý  
thuyết phát triển vào nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải xây dựng khung  
lý thuyết nghiên cứu trên cơ sở của lý thuyết phát triển hiện đại.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đất nước, Đại hội đại 
biểu toàn quốc lần thứ  IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển kinh  
tế ­ xã hội giai đoạn 2001 ­ 2010; Cùng với những chủ trương, đường lối phát  
triển chung của đất nước, công tác Dân tộc và miền núi luôn được Đảng và 
Nhà nước xác định có vị  trí chiến lược quan trọng. Kế  thừa và phát huy kết  
quả  sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ  khi có  
Nghị  quyết 22­NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ  Chính trị  Về  một số  chủ  
trương, chính sách lớn phát triển kinh tế ­ xã hội miền núi, tình hình miền núi 
và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước chuyển biến quan trọng. Đảng 
và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế ­ xã  
hội của miền núi và đã có rất nhiều chủ  trương lớn lãnh đạo, chỉ  đạo, tổ 
chức thực hiện phát triển kinh tế­xã hội trong nhiều năm qua.
Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều 
rất quan tâm và có chủ  trương đầu tư  ngày càng nhiều cho miền núi. Nghị 
quyết số 30a/2008/NQ­CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh  
và bền vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là 

1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.2. Dân cư ­ Dân tộc
II. THỰC TRẠNG KINH TẾ ­ XàHỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI 
1.1. Khái quát chung về thực trạng kinh tế ­ xã hội 
Nhìn chung, kinh tế  các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra 
tình trạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường. 
Tốc   độ   tăng   trưởng   bình   quân   giai   đoạn   2006   ­   2010   chậm,   tăng  
13,66%, trong đó N­L­TS tăng 10,25%; CN­XDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng 
18,97%. Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904  
triệu đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng. 
Về  cơ  cấu kinh tế đã có sự  chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ  trọng 
ngành N­L­TS giảm dần. Tỷ  trọng CN­TTCN tăng chậm. Dịch vụ  chiếm tỷ 
trọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần. 
Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831 


tỷ  đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ. Mức thu này chưa thể  có tích lũy từ  nội bộ 
nền kinh tế  của các huyện trong vùng mà chủ  yếu dựa vào sự  hỗ  trợ  ngân 
sách của cấp trên.
Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, năm 2006 là 3.052 ngàn 
đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng; Lương thực bình quân đầu người 
năm 2006 là 296 kg/người/năm, đến năm 2010 là 327 kg/người/năm.
Đầu tư    xây dựng cơ  bản của khu vực miền núi được chú trọng,   kết 
cấu hạ tầng kinh tế ­ xã hội phát triển khá, nhất là hệ thống thủy lợi, đường  
giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, kè chống xói lở bờ sông... Đến nay, 
100% các huyện trong vùng có điện lưới quốc gia và mạng lưới bưu chính  
viễn thông. 
Lĩnh vực văn hoá ­ xã hội, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có 
những bước tiến triển mới, gắn kết hơn với quá trình phát triển kinh tế  ­ xã  
hội chung của toàn tỉnh và trong nội bộ vùng. 


(2001), 21,8 tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010).
Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn  
của tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng. Năng suất bình 
quân trong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha  
(2010). Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý 
và canh tác khoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường.
Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có 
lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng 
các tiến bộ khoa học ­ kỹ thuật vào sản xuất.    
Cây công nghiệp ngắn ngày:  Trong vùng có trồng các loại cây công 
nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng…  Diện tích mía có tăng có giảm qua 
các   năm,   năng   suất   bình   quân   trong   vùng   không   ổn   định   từ:   372,2   tấn/ha 
(2001), 449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010).  Diện tích và sản 
lượng cây lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng. Năm 
2001 diện tích 1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha. Đế 
năm 2008 diện tích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ  năng suất tăng lên  
15,7 tạ/ha nên sản lượng đạt 1.358 tấn. Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng 
có giảm, nhưng năng suất và sản lượng hàng năm đều tăng. Năm 2001 diện 
tích 29,0 ha đến 2002 diện tích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại  
giảm xuống còn 63,0 ha. Năng suất tăng từ  1,7 tạ/ha năm 2001 lên 3,9 tạ/ha  
năm 2008. Sản lượng tăng từ 5,0 tấn năm 2001 lên 24,3 tấn năm 2008.     
Cây công nghiệp dài ngày: Cây quế  (Diện tích 2.521 ha, sản lượng 
2.255 tấn); Cây cau (Diện tích 620 ha, sản lượng 6.875 tấn); Cây chè (Diện  
tích 140 ha, sản lượng 252 tấn); 
Cây ăn quả: Diện tích 663 ha, sản lượng 3.434 tấn. Trồng phân tán 
trong vườn các hộ gia đình.
­ Về chăn nuôi:
+ Đàn trâu, bò: Hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn là chăn nuôi quảng 
canh, chưa phát triển thành các trang trại chăn nuôi tập trung trong khi vùng có  

thủ công nghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm  
huyện lỵ và các trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ 
công nghiệp vẫn chiếm tỷ  trọng rất nhỏ  trong cơ  cấu giá trị  sản xuất của  
vùng. Năm 2008, trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở 
thì hầu hết đều thuộc loại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở),  
chỉ có 02 cơ sở sản xuất thuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể. 
1.2.3. Thương mại ­ Dịch vụ và Du lịch
Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ  yếu là 
gỗ  và sản phẩm chế  biến từ  gỗ, cây mía, cây quế  và một số  lâm sản khác.  
Còn các sản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên 
liệu, phân bón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
Về  dịch vụ có tốc độ  tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ  trọng đáng  
kể trong cơ cấu kinh tế. Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển,  
có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế ­ xã hội của vùng. Tuy nhiên, vận tải 
trong vùng chủ  yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp  
ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng.
Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quá  
khó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển. 
1.3. Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộc  
trong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội  
ngũ cán bộ y tế được tăng cường. Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề 
ra, góp phần hạ  thấp tỷ  lệ  các bệnh như  sốt rét, bướu cổ...Tuy nhiên, tỷ  lệ 
mắc bệnh và tử vong trong vùng còn cao. Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y  
tế hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu. 
Việc xây dựng đời sống văn hóa, nhất là Phong trào “Toàn dân đoàn kết 
xây dựng đời sống văn hóa” và các chính sách phát triển văn hóa của nhà nước  
trong vùng tiếp tục được chú trọng thực hiện. 



được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ  sinh  đến năm 2010 chiếm khoảng 
76,83% dân số toàn vùng.
Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản 
của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng. Toàn vùng có 15.167 máy điện 
thoại cố  định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số  thuê bao Internet là 786  
thuê bao.
Về  văn hóa thông tin:  Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh ­  
phát lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ  trương chính 
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ  chính trị  địa phương. Hệ 
thống văn hóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và 
các trung tâm cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được 
đầu tư nhiều để đảm bảo yêu cầu thiết yếu.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển. 


Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ  yếu chỉ  tập trung từ 
các xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu.
Hệ thống thoát nước và vệ  sinh môi trường chưa được chú trọng đầu  
tư. Phương thức sản xuất  lạc hậu, cơ  sở  hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh 
hưởng không ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch  
bệnh.
Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện  
nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vực  
sản xuất. 
Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ,  
Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế  khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn 
Tây, Minh Long. Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện  
cơ sở hạ tầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây.
Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vì  
nguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít  

giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt đã dần thay thế những  
tập quán sản xuất lạc hậu; diện tích khai hoang ruộng lúa nước và năng lực 
tưới tiêu tăng lên giúp ổn định một phần lương thực. Góp phần cải thiện đời  
sống của đồng bào trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế  và sức  
khỏe cộng đồng: Về  cơ  bản trên địa bàn không còn hộ  đói kinh niên, tốc độ 
giảm nghèo hàng năm khá, từ  65% (trước khi có Chương trình) xuống còn 
23,84% (cuối năm 2005), bình quân giảm 4­5%/năm. Hầu hết các xã đều có 
trường tiểu học và THCS kiên cố, thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75  
% trẻ  em THCS trong độ  tuổi đến trường; nhiều địa phương đã hoàn thành  
phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời  
sống văn hoá được nâng cao một bước, văn hoá truyền thống của các dân tộc 
được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư 
đã góp phần  ổn định đời sống, giúp đồng bào được tiếp cận các hạ  tầng kỹ 
thuật, dịch vụ xã hội.
Những tồn tại, hạn chế:
­ Về  tổ  chức thực hiện:   Chưa sát thực tế  nên dẫn đến nhiều biến  
động về  số  xã thuộc Chương trình: Số  xã thuộc diện đầu tư  đã tăng dần từ 
21 đến 57 xã.  Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi 
Chương trình.Chỉ có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56%. 
Mặt khác, do không có sự  đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát  
khỏi Chương trình. Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung. 
Sự  phối hợp giữa Ban chỉ  đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng  
bộ. Công tác tuyên truyền phổ  biến chưa được quan tâm đúng mức. Nhiệm  
vụ  giám sát thiếu chặt chẽ, kém hiệu lực.  Thực hiện đầu tư  còn dàn trãi,  
chưa đồng bộ. Nội dung thiếu mục tiêu cụ thể cho từng vùng đầu tư. Dự án 
quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thực hiện được việc hỗ trợ dãn dân, công 
tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập dự án quy hoạch... Trong xây dựng  
CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các công trình giao thông (chiếm 42,90%); 
trong khi vốn đầu tư  cho thủy lợi (33,75%), nước sinh hoạt (7,39%),  điện 
(3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang (0,68%) là chưa hợp lý. 

cao nhận thức pháp luật.
­ Thời gian thực hiện: Từ năm  2006 ­ 2010. 
­ Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Gồm 43 xã ĐBKK miền núi và 31 
thôn ĐBKK thuộc các xã khu vực II. 
b. Đánh giá kết quả thực hiện
Những kết quả đạt được:
Chương trình đã đạt được phần lớn các nội dung; về cơ bản, không còn 
tình trạng hộ  đói thường xuyên; tỷ  lệ  hộ  nghèo của các xã, thôn ĐBKK đã  
giảm từ  71,56% đầu năm 2006 xuống còn 44,24% vào giữa năm 2010 (giảm 
27,32%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 5,5%). 
­ Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm 
bảo phục vụ  cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ  thôn bản có điện ở 
các cụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi  
được đến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ  lệ  học sinh THCS trong độ  tuổi  
được đến trường là 91,17%  (MT 75%); Tỷ  lệ  hộ  có hố  xí hợp vệ  sinh đạt  


52,33% (MT 50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ 
pháp luật miễn phí là 100 % (MT 95%).
­ Về  phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ  cấu kinh tế:   Sản xuất nông 
nghiệp đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi 
mới và  ứng dụng khoa học, kỹ  thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật 
nuôi tăng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số  đã từng bước thay thế  dần tập  
quán sản xuất lạc hậu. Tỷ  lệ  hộ  có mức thu nhập bình quân đầu người trên 
3,5 triệu đồng/năm của vùng tăng từ  26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm 
2010.
­ Về  hoàn thiện cơ  sở  hạ  tầng:  Hệ  thống cơ  sở  hạ  tầng thiết yếu tại  
các địa bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện  đầu tư  từ 
nguồn vốn của CT 135­II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác  
đã cơ  bản phục vụ  được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản  



nhiều lúng túng, nhiều văn bản hướng dẫn ban hành chậm. Một số  nội dung 
của văn bản hướng dẫn phải sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho các địa  
phương. 
­ Trong tổ  chức thực hiện: Việc phân bổ  vốn thực hiện Chương trình 
còn chậm, thường phân thành nhiều đợt đã gây khó khăn cho các địa phương  
trong việc lập kế hoạch tổ  chức thực hiện cũng như  giải ngân vốn. Nguyên 
tắc “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thêm thu nhập từ  việc tham gia  
lao động công trình tại xã” chưa được thực hiện tốt. Vai trò và nhiệm vụ của 
một số cơ quan cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo 
thực hiện Chương trình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời. Công tác  
quản lý, tổ  chức triển khai thực hiện của cán bộ  xã nhiều nơi còn lúng túng, 
gặp nhiều khó khăn. 
II. MỘT SỐ  CHÍNH SÁCH HỖ  TRỢ  ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT  Ở,  
NHÀ   Ở   VÀ   NƯỚC   SINH   HOẠT   CHO   HỘ   ĐỒNG   BÀO   DÂN   TỘC 
THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN (CHƯƠNG TRÌNH 134)
2.1. Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
­ Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa; 
Giao đất  ở  tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ  trợ  nhân dân xây dựng nhà ở  theo 
phương châm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ  trợ  và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ 
trợ giải quyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán.
­ Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 ­  2008. 
­ Phạm vi thực hiện:  67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6 
huyện miền núi). Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019 
hộ.
2.2. Đánh giá kết quả
Những kết quả  đạt được:  Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ  
bản tình trạng khó khăn về  đất  ở, nhà  ở  và nước sinh hoạt:  Khai thác được 
tiềm năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một 

quả  cao. Việc phân công cán bộ  cấp huyện, xã còn phải kiêm nhiệm nhiều  
chương trình, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, khối lượng công việc nhiều, nên 
công tác chỉ  đạo chưa được tập trung. Công tác khảo sát thiết kế  công trình  
tồn tại nhiều yếu kém. Nhiều công trình nước sinh hoạt không phát huy hiệu  
quả  do khảo sát nguồn nước; công suất thiết kế  không phù hợp với nguồn  
nước và nhu cầu sử  dụng. Nhiều công trình bảo quản kém nên chỉ  cần hư 
hỏng nhỏ ở đầu nguồn là công trình không sử dụng được. Công tác sơ kết rút 
kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cộng đồng, nhân rộng điển hình chưa 
kịp thời.
III. DỰ ÁN TRỒNG MỚI 5 TRIỆU HA RỪNG  (DỰ ÁN 661)

3.1.Nội dung dự án, thời gian, phạm vi Dự án
­ Nội dung: Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có; Thực hiện ngay từ giai 
đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ  chức, hộ  gia đình cá nhân gắn  
với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết  
hợp trồng bổ  sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ  rừng đặc  
dụng và trồng 3 triệu ha rừng sản xuất.
­ Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 ­ 2010.
­ Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy 
hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha 
(trong đó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích). 
 3.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả  đạt được:  Việc ban hành văn bản quy phạm pháp  
luật, cơ  chế, chính sách thực hiện Dự  án:  Được thực hiện từ  Trung  ương, 
đến địa phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển  
khai thực hiện.  Công tác chỉ  đạo, điều hành:  Việc tổ  chức, hoạt động của 
Ban chỉ  đạo, Ban quản lý Dự  án 661 được sự  chỉ  đạo thống nhất và xuyên 
suốt từ Chính phủ đến các cấp chính quyền địa phương.  Việc đầu tư  NSNN,  
huy động vốn: Việc đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để 
thực hiện dự  án là nỗ  lực lớn nhằm phủ  xanh đất trống đồi trọc, cải thiện  

ngày 15/01/1994, chính quyền một số  xã và Lâm trường đã cho tổ  chức, cá 
nhân mượn hoặc thuê đất để trồng cây nguyên liệu, nhưng chưa được sự cho 
phép của cấp có  thẩm quyền và chưa  được  cấp GCNQSDĐ, trong đó có  
người không thuộc hộ khẩu địa phương và tổ chức không có chức năng trồng 
rừng. Đến nay, khi người dân địa phương có nhu cầu đất sản xuất và đòi phải  
trả  lại đất để  chia cho dân, thì chưa giải quyết được vì cây trồng chưa đến 
kỳ  khai thác. Việc thực hiện các giải pháp lâm sinh chưa tạo điều kiện cho 
cây trồng chính phát triển. Suất đầu tư  cho các công trình lâm sinh còn thấp, 
từ  khoán quản lý bảo vệ  rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, đến trồng rừng.  
Tình trạng xâm hại rừng và tranh chấp đất lâm nghiệp diễn ra khá phức  
tạp.Nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi.
IV. ĐỀ  ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN – MIỀN 
NÚI 
Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh,  Đề án phát triển giao  
thông nông thôn ­ miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006­2010.
4.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
­   Mục   tiêu:  Thực   hiện   nhựa   hóa,   cứng   hóa   ít   nhất   1.500   km   tuyến  


đường huyện, xã, thôn, khối phố, trong đó: 
Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V. Phấn đấu đến năm 
2010 nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị  
trấn (đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B. Phấn đấu 
đến năm 2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến;  
Đường thôn, khối phố  (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A,  
B. Từng bước cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến  
đường thôn, đường ra đồng ruộng. Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100%  
các đường hẻm nội thành. 
­ Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 ­ 2010.
­ Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).

39,1%. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho thấy hiệu quả  các Đề  án giao 
thông nông thôn còn hạn chế, chiếm 33,9% “chưa hiệu quả  lắm” và 20%  


“không hiệu quả”. 
V. ĐỀ ÁN KIÊN CỐ HÓA KÊNH MƯƠNG ­ THỦY LỢI
Đề  án được thực hiện theo chủ  trương của tỉnh,  Đề  án Chương trình  
Kiên cố hóa kênh mương thủy lợi giai đoạn 2006­2010.
5.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
­ Mục tiêu:  Kiên cố  hóa (KCH) 500 km kênh mương, trong đó: Kênh 
loại II: 53 km; Kênh loại III: 247 km. Kiên cố  hóa được đầu tư  từ  chương 
trình, dự án lồng ghép khác: 200 km. 
­  Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 ­ 2010.
­ Phạm vi thực hiện: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
          5.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả  đạt được:  Đề  án góp phần nâng cao năng lực tưới  
tiêu, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp.  Đồng bào dân tộc miền núi đã  
bước đầu tiếp cận, tận nguồn thủy lợi để  thâm canh lúa nước, trồng ngô,  
nuôi trồng thủy sản. Đề án được sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các cấp, 
các ngành, các tổ chức chính trị. Được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân, 
người dân nhiều nơi tỏ ra tích cực trong việc tham gia phần vốn 30­40% đóng  
góp, nhiều HTX chủ  động vận động thu trước khi có vốn hỗ  trợ  của tỉnh.  
Góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong xây dựng, khái thác và bảo 
vệ  công trình thủy lợi. Một số huyện miền núi như  Sơn Hà, Minh Long nhờ 
thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ  các chương trình khác triển khai trên 
địa bàn, nên đã huy động được nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục  
tiêu Đề án.
 Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện 
mục tiêu chưa khả thi. Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng  
hưởng lợi  ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo, 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status