HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TÓM TẮT
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
Học viên:
Lai châu, 2014
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ trương, chính sách,
chương trình, dự án và tổ chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong
nhiều năm qua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi
bộ mặt nông thôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển. Ngân sách nhà nước
đầu tư khá lớn cho khu vực miền núi. Tuy nhiên, kinh tế xã hội tại miền núi
vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập.
Đối với tỉnh Lai Châu, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp
cũng rất quan tâm đến đầu tư cho miền núi và chắc chắn trong nhiều năm
đến sẽ có sự đầu tư lớn cho phát triển kinh tế xã hội khu vực miền núi.
Một thực tiễn rất đáng quan tâm là: có nhiều chương trình, dự án triển
khai thực hiện ở miền núi với tổng số vốn đầu tư lớn, nhưng s au khi kết
thúc, tính ổn định, phát huy không được giữ vững hoặc hiệu quả thấp. Do
Mục tiêu của đề tài là:
Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính
sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Lai
Châu trong giai đoạn 2006 2010. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các
nguồn lực đầu tư ở miền núi.
Đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển
kinh tế xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 2015.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế xã hội
các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá tình hình thực hiện một số
chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội tại các huyện miền
núi tỉnh Lai Châu, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở
miền núi.
Xác định một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế xã hội các
huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 2015. Đề xuất các giải pháp
góp phần phát triển kinh tế xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
3. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận
chủ yếu của đề tài là lý luận Mácxít được sử dụng trong toàn bộ nội dung
của đề tài. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện
tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi,
phát triển không ngừng. Trên cơ sở quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử
cụ thể và quan điểm phát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu
của đề tài. Vận dụng các quan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét các
sự kiện xã hội và quá trình phát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế xã hội
tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, đề tài chủ yếu vận dụng
hướng tiếp cận của Lý thuyết cấu trúc chức năng, Lý thuyết phát triển, quan
điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài. Một
hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 2015. Vì vậy, đây là
luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của
tỉnh và trong việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế xã hội miền núi
nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước.
Đề tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các
giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội ở miền núi nhanh và bền vững. Vì vậy, đề tài có giá trị thực tiễn, giải
quyết vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm
sáng tỏ về mặt lý luận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát
triển kinh tế xã hội miền núi.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu đề tài được thể hiện trong ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2. Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương
trình, dự án phát triển kinh tếxã hội tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu.
Chương 3. Các giải pháp góp phần phát triển kinh tếxã hội các huyện
miền núi tỉnh Lai Châu
PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
1.1. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một
số lý thuyết: “Cấu trúc chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài.
1.1.1. Vận dụng Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội
nhau khi nói đến thuật ngữ “phát triển”. Có quan điểm coi phát triển và tăng
trưởng có cùng nội dung. Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện
tượng kinh tế mà phải được xem như là toàn bộ quá trình bao gồm các đặc
điểm kinh tế chính trị xã hội và văn hoá. Trên quan điểm về kinh tế xã
hội, phát triển giúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu
có hơn.
Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những
vấn đề thuần tuý có tính kinh tế. Lý thuyết phát triển ngày nay chú ý nhiều
hơn các vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển, về lĩnh vực văn hoá, xã
hội... Do đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với tăng trưởng kinh tế
mà là sự phát triển một cách tổng thể. Với yêu cầu như vậy, khi vận dụng Lý
thuyết phát triển vào nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải xây dựng khung
lý thuyết nghiên cứu trên cơ sở của lý thuyết phát triển hiện đại.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đất nước, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển kinh
tế xã hội giai đoạn 2001 2010; Cùng với những chủ trương, đường lối phát
triển chung của đất nước, công tác Dân tộc và miền núi luôn được Đảng và
Nhà nước xác định có vị trí chiến lược quan trọng. Kế thừa và phát huy kết
quả sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có
Nghị quyết 22NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ
trương, chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi, tình hình miền núi
và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước chuyển biến quan trọng. Đảng
và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế xã
hội của miền núi và đã có rất nhiều chủ trương lớn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện phát triển kinh tếxã hội trong nhiều năm qua.
Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều
rất quan tâm và có chủ trương đầu tư ngày càng nhiều cho miền núi. Nghị
quyết số 30a/2008/NQCP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh
và bền vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.2. Dân cư Dân tộc
II. THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
1.1. Khái quát chung về thực trạng kinh tế xã hội
Nhìn chung, kinh tế các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra
tình trạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường.
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 2010 chậm, tăng
13,66%, trong đó NLTS tăng 10,25%; CNXDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng
18,97%. Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904
triệu đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng.
Về cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng
ngành NLTS giảm dần. Tỷ trọng CNTTCN tăng chậm. Dịch vụ chiếm tỷ
trọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần.
Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831
tỷ đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ. Mức thu này chưa thể có tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế của các huyện trong vùng mà chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ ngân
sách của cấp trên.
Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, năm 2006 là 3.052 ngàn
đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng; Lương thực bình quân đầu người
năm 2006 là 296 kg/người/năm, đến năm 2010 là 327 kg/người/năm.
Đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực miền núi được chú trọng, kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển khá, nhất là hệ thống thủy lợi, đường
giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, kè chống xói lở bờ sông... Đến nay,
100% các huyện trong vùng có điện lưới quốc gia và mạng lưới bưu chính
viễn thông.
Lĩnh vực văn hoá xã hội, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có
những bước tiến triển mới, gắn kết hơn với quá trình phát triển kinh tế xã
hội chung của toàn tỉnh và trong nội bộ vùng.
(2001), 21,8 tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010).
Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn
của tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng. Năng suất bình
quân trong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha
(2010). Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý
và canh tác khoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường.
Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có
lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Cây công nghiệp ngắn ngày: Trong vùng có trồng các loại cây công
nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng… Diện tích mía có tăng có giảm qua
các năm, năng suất bình quân trong vùng không ổn định từ: 372,2 tấn/ha
(2001), 449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010). Diện tích và sản
lượng cây lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng. Năm
2001 diện tích 1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha. Đế
năm 2008 diện tích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ năng suất tăng lên
15,7 tạ/ha nên sản lượng đạt 1.358 tấn. Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng
có giảm, nhưng năng suất và sản lượng hàng năm đều tăng. Năm 2001 diện
tích 29,0 ha đến 2002 diện tích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại
giảm xuống còn 63,0 ha. Năng suất tăng từ 1,7 tạ/ha năm 2001 lên 3,9 tạ/ha
năm 2008. Sản lượng tăng từ 5,0 tấn năm 2001 lên 24,3 tấn năm 2008.
Cây công nghiệp dài ngày: Cây quế (Diện tích 2.521 ha, sản lượng
2.255 tấn); Cây cau (Diện tích 620 ha, sản lượng 6.875 tấn); Cây chè (Diện
tích 140 ha, sản lượng 252 tấn);
Cây ăn quả: Diện tích 663 ha, sản lượng 3.434 tấn. Trồng phân tán
trong vườn các hộ gia đình.
Về chăn nuôi:
+ Đàn trâu, bò: Hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn là chăn nuôi quảng
canh, chưa phát triển thành các trang trại chăn nuôi tập trung trong khi vùng có
thủ công nghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm
huyện lỵ và các trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất của
vùng. Năm 2008, trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở
thì hầu hết đều thuộc loại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở),
chỉ có 02 cơ sở sản xuất thuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể.
1.2.3. Thương mại Dịch vụ và Du lịch
Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ yếu là
gỗ và sản phẩm chế biến từ gỗ, cây mía, cây quế và một số lâm sản khác.
Còn các sản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên
liệu, phân bón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
Về dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ trọng đáng
kể trong cơ cấu kinh tế. Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển,
có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của vùng. Tuy nhiên, vận tải
trong vùng chủ yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp
ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng.
Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quá
khó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển.
1.3. Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộc
trong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội
ngũ cán bộ y tế được tăng cường. Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề
ra, góp phần hạ thấp tỷ lệ các bệnh như sốt rét, bướu cổ...Tuy nhiên, tỷ lệ
mắc bệnh và tử vong trong vùng còn cao. Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y
tế hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu.
Việc xây dựng đời sống văn hóa, nhất là Phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa” và các chính sách phát triển văn hóa của nhà nước
trong vùng tiếp tục được chú trọng thực hiện.
được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến năm 2010 chiếm khoảng
76,83% dân số toàn vùng.
Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản
của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng. Toàn vùng có 15.167 máy điện
thoại cố định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số thuê bao Internet là 786
thuê bao.
Về văn hóa thông tin: Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh
phát lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ trương chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị địa phương. Hệ
thống văn hóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và
các trung tâm cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được
đầu tư nhiều để đảm bảo yêu cầu thiết yếu.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển.
Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ yếu chỉ tập trung từ
các xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu.
Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường chưa được chú trọng đầu
tư. Phương thức sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh
hưởng không ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch
bệnh.
Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện
nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vực
sản xuất.
Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ,
Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn
Tây, Minh Long. Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện
cơ sở hạ tầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây.
Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vì
nguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít
giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt đã dần thay thế những
tập quán sản xuất lạc hậu; diện tích khai hoang ruộng lúa nước và năng lực
tưới tiêu tăng lên giúp ổn định một phần lương thực. Góp phần cải thiện đời
sống của đồng bào trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và sức
khỏe cộng đồng: Về cơ bản trên địa bàn không còn hộ đói kinh niên, tốc độ
giảm nghèo hàng năm khá, từ 65% (trước khi có Chương trình) xuống còn
23,84% (cuối năm 2005), bình quân giảm 45%/năm. Hầu hết các xã đều có
trường tiểu học và THCS kiên cố, thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75
% trẻ em THCS trong độ tuổi đến trường; nhiều địa phương đã hoàn thành
phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời
sống văn hoá được nâng cao một bước, văn hoá truyền thống của các dân tộc
được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư
đã góp phần ổn định đời sống, giúp đồng bào được tiếp cận các hạ tầng kỹ
thuật, dịch vụ xã hội.
Những tồn tại, hạn chế:
Về tổ chức thực hiện: Chưa sát thực tế nên dẫn đến nhiều biến
động về số xã thuộc Chương trình: Số xã thuộc diện đầu tư đã tăng dần từ
21 đến 57 xã. Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi
Chương trình.Chỉ có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56%.
Mặt khác, do không có sự đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát
khỏi Chương trình. Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung.
Sự phối hợp giữa Ban chỉ đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng
bộ. Công tác tuyên truyền phổ biến chưa được quan tâm đúng mức. Nhiệm
vụ giám sát thiếu chặt chẽ, kém hiệu lực. Thực hiện đầu tư còn dàn trãi,
chưa đồng bộ. Nội dung thiếu mục tiêu cụ thể cho từng vùng đầu tư. Dự án
quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thực hiện được việc hỗ trợ dãn dân, công
tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập dự án quy hoạch... Trong xây dựng
CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các công trình giao thông (chiếm 42,90%);
trong khi vốn đầu tư cho thủy lợi (33,75%), nước sinh hoạt (7,39%), điện
(3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang (0,68%) là chưa hợp lý.
cao nhận thức pháp luật.
Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 2010.
Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Gồm 43 xã ĐBKK miền núi và 31
thôn ĐBKK thuộc các xã khu vực II.
b. Đánh giá kết quả thực hiện
Những kết quả đạt được:
Chương trình đã đạt được phần lớn các nội dung; về cơ bản, không còn
tình trạng hộ đói thường xuyên; tỷ lệ hộ nghèo của các xã, thôn ĐBKK đã
giảm từ 71,56% đầu năm 2006 xuống còn 44,24% vào giữa năm 2010 (giảm
27,32%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 5,5%).
Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm
bảo phục vụ cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ thôn bản có điện ở
các cụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi
được đến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi
được đến trường là 91,17% (MT 75%); Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh đạt
52,33% (MT 50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ
pháp luật miễn phí là 100 % (MT 95%).
Về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sản xuất nông
nghiệp đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi
mới và ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật
nuôi tăng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng bước thay thế dần tập
quán sản xuất lạc hậu. Tỷ lệ hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trên
3,5 triệu đồng/năm của vùng tăng từ 26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm
2010.
Về hoàn thiện cơ sở hạ tầng: Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu tại
các địa bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện đầu tư từ
nguồn vốn của CT 135II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác
đã cơ bản phục vụ được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản
nhiều lúng túng, nhiều văn bản hướng dẫn ban hành chậm. Một số nội dung
của văn bản hướng dẫn phải sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho các địa
phương.
Trong tổ chức thực hiện: Việc phân bổ vốn thực hiện Chương trình
còn chậm, thường phân thành nhiều đợt đã gây khó khăn cho các địa phương
trong việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện cũng như giải ngân vốn. Nguyên
tắc “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thêm thu nhập từ việc tham gia
lao động công trình tại xã” chưa được thực hiện tốt. Vai trò và nhiệm vụ của
một số cơ quan cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo
thực hiện Chương trình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời. Công tác
quản lý, tổ chức triển khai thực hiện của cán bộ xã nhiều nơi còn lúng túng,
gặp nhiều khó khăn.
II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT Ở,
NHÀ Ở VÀ NƯỚC SINH HOẠT CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN (CHƯƠNG TRÌNH 134)
2.1. Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa;
Giao đất ở tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ trợ nhân dân xây dựng nhà ở theo
phương châm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ
trợ giải quyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán.
Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 2008.
Phạm vi thực hiện: 67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6
huyện miền núi). Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019
hộ.
2.2. Đánh giá kết quả
Những kết quả đạt được: Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ
bản tình trạng khó khăn về đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt: Khai thác được
tiềm năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một
quả cao. Việc phân công cán bộ cấp huyện, xã còn phải kiêm nhiệm nhiều
chương trình, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, khối lượng công việc nhiều, nên
công tác chỉ đạo chưa được tập trung. Công tác khảo sát thiết kế công trình
tồn tại nhiều yếu kém. Nhiều công trình nước sinh hoạt không phát huy hiệu
quả do khảo sát nguồn nước; công suất thiết kế không phù hợp với nguồn
nước và nhu cầu sử dụng. Nhiều công trình bảo quản kém nên chỉ cần hư
hỏng nhỏ ở đầu nguồn là công trình không sử dụng được. Công tác sơ kết rút
kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cộng đồng, nhân rộng điển hình chưa
kịp thời.
III. DỰ ÁN TRỒNG MỚI 5 TRIỆU HA RỪNG (DỰ ÁN 661)
3.1.Nội dung dự án, thời gian, phạm vi Dự án
Nội dung: Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có; Thực hiện ngay từ giai
đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn
với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết
hợp trồng bổ sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ rừng đặc
dụng và trồng 3 triệu ha rừng sản xuất.
Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 2010.
Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy
hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha
(trong đó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích).
3.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, cơ chế, chính sách thực hiện Dự án: Được thực hiện từ Trung ương,
đến địa phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển
khai thực hiện. Công tác chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức, hoạt động của
Ban chỉ đạo, Ban quản lý Dự án 661 được sự chỉ đạo thống nhất và xuyên
suốt từ Chính phủ đến các cấp chính quyền địa phương. Việc đầu tư NSNN,
huy động vốn: Việc đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để
thực hiện dự án là nỗ lực lớn nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện
ngày 15/01/1994, chính quyền một số xã và Lâm trường đã cho tổ chức, cá
nhân mượn hoặc thuê đất để trồng cây nguyên liệu, nhưng chưa được sự cho
phép của cấp có thẩm quyền và chưa được cấp GCNQSDĐ, trong đó có
người không thuộc hộ khẩu địa phương và tổ chức không có chức năng trồng
rừng. Đến nay, khi người dân địa phương có nhu cầu đất sản xuất và đòi phải
trả lại đất để chia cho dân, thì chưa giải quyết được vì cây trồng chưa đến
kỳ khai thác. Việc thực hiện các giải pháp lâm sinh chưa tạo điều kiện cho
cây trồng chính phát triển. Suất đầu tư cho các công trình lâm sinh còn thấp,
từ khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, đến trồng rừng.
Tình trạng xâm hại rừng và tranh chấp đất lâm nghiệp diễn ra khá phức
tạp.Nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi.
IV. ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN – MIỀN
NÚI
Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án phát triển giao
thông nông thôn miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 20062010.
4.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
Mục tiêu: Thực hiện nhựa hóa, cứng hóa ít nhất 1.500 km tuyến
đường huyện, xã, thôn, khối phố, trong đó:
Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V. Phấn đấu đến năm
2010 nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị
trấn (đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B. Phấn đấu
đến năm 2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến;
Đường thôn, khối phố (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A,
B. Từng bước cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến
đường thôn, đường ra đồng ruộng. Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100%
các đường hẻm nội thành.
Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 2010.
Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
39,1%. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho thấy hiệu quả các Đề án giao
thông nông thôn còn hạn chế, chiếm 33,9% “chưa hiệu quả lắm” và 20%
“không hiệu quả”.
V. ĐỀ ÁN KIÊN CỐ HÓA KÊNH MƯƠNG THỦY LỢI
Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án Chương trình
Kiên cố hóa kênh mương thủy lợi giai đoạn 20062010.
5.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
Mục tiêu: Kiên cố hóa (KCH) 500 km kênh mương, trong đó: Kênh
loại II: 53 km; Kênh loại III: 247 km. Kiên cố hóa được đầu tư từ chương
trình, dự án lồng ghép khác: 200 km.
Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 2010.
Phạm vi thực hiện: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
5.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Đề án góp phần nâng cao năng lực tưới
tiêu, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp. Đồng bào dân tộc miền núi đã
bước đầu tiếp cận, tận nguồn thủy lợi để thâm canh lúa nước, trồng ngô,
nuôi trồng thủy sản. Đề án được sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các cấp,
các ngành, các tổ chức chính trị. Được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân,
người dân nhiều nơi tỏ ra tích cực trong việc tham gia phần vốn 3040% đóng
góp, nhiều HTX chủ động vận động thu trước khi có vốn hỗ trợ của tỉnh.
Góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong xây dựng, khái thác và bảo
vệ công trình thủy lợi. Một số huyện miền núi như Sơn Hà, Minh Long nhờ
thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình khác triển khai trên
địa bàn, nên đã huy động được nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục
tiêu Đề án.
Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện
mục tiêu chưa khả thi. Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng
hưởng lợi ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo,