Sự chuyển đối của loại hình tác giả văn học việt nam trước cách mạng tháng tám qua trường hợp nguyễn công hoan - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

HÀ HUY THÍCH

SỰ CHUYỂN ĐỔI CỦA LOẠI HÌNH TÁC GIẢ
VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM QUA TRƢỜNG HỢP
NGUYỄN CÔNG HOAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

HÀ HUY THÍCH

SỰ CHUYỂN ĐỔI LOẠI HÌNH TÁC GIẢ
VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM QUA TRƢỜNG HỢP
NGUYỄN CÔNG HOAN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Trần Ngọc Vƣơng


Hà Huy Thích


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài- Giới hạn nghiên cứu. ...................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn.............................................. 3
3. Lịch sử vấn đề: .............................................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
5. Cấu trúc luận văn. ......................................................................................... 4
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 5
Chƣơng 1: SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VÀ
VÙNG VĂN HÓA SƠN NAM ....................................................................... 5
1.1. Truyền thống gia đình. ............................................................................ 5
1.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Công Hoan. ............................. 5
1.1.2. Truyền thống gia đình. .......................................................................... 13
1.2. Vùng văn hóa Sơn Nam Hạ. .................................................................. 16
1.2.1. Đặc điểm về địa lý. ................................................................................ 16
1.2.2. Đặc điểm về văn hóa xã hội. ................................................................. 16
1.2.3. Một số tác giả văn học tiêu biểu trấn Sơn Nam có ảnh hưởng đến
phong cách sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan. ............................. 18
Chƣơng 2: SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO VÀ VĂN
HỌC TÂY ÂU TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 – 1945 ................................................. 25
2.1. Văn hóa truyền thống và văn chƣơng nhà Nho. ................................. 25
2.1.1. Văn học dân gian. ................................................................................. 25
2.1.2. Từ cái nhìn của nhà Nho trong văn học Trung đại đến cái nhìn của nhà
văn, nhà thơ trào phúng cuối thế kỉ XIX trong tiến trình văn học Việt Nam. . 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 103


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài- Giới hạn nghiên cứu.
Lịch sử phát triển văn học của mỗi quốc gia, dân tộc đều ghi dấu sự vận động
và phát triển của lịch sử quốc gia, dân tộc ấy. Từ đó hình thành nên những bản sắc
riêng của quốc gia, dân tộc đó. Với hàng nghìn năm lịch sử vận động và phát triển,
văn học Việt Nam đã thực sự tạo được một dấu ấn riêng, bản sắc riêng về văn học,
văn hóa Việt.
Văn học Việt Nam có một bề dày truyền thống. Từ văn học dân gian đến văn
học thành văn đã góp phần không nhỏ trong việc thể hiện, phản ánh tâm tư, tình cảm
của con người Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Đặc biệt là gần mười thế kỉ tồn tại và
phát triển của văn học trung đại, Nho giáo giữ vai trò định hướng phát triển văn học
Việt Nam. Điều ấy thực sự tạo nên một bản sắc rất riêng của Văn học Việt Nam.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX văn học Việt Nam có những bước phát triển
mới. Đó là bước chuyển từ truyền thống sang hiện đại. Một thời đại mới của văn
học đã phôi thai từ giai đoạn quá độ, từng bước hòa nhập vào quỹ đạo của văn học
thế giới.
Sự vận động phát triển của thời đại lịch sử đã đưa văn học Việt Nam chuyển
mình sang một hướng mới. Đó là sự vận động, chuyển đổi cả nội dung và nghệ thuật
phản ánh của văn học Việt Nam. Từ những áng văn chương mang đậm màu sắc của
văn chương Trung đại chuyển sang hướng hiện đại hóa của văn học Phương Tây.
Thực tế của nền văn học sử Việt Nam cho thấy, mối liên hệ từ truyền thống
đến hiện đại chưa thực sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác. Đặc biệt
là sự vận động của văn học Việt Nam được thể hiện qua một số tác giả tiêu biểu như:
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…Sự vận động trong sáng tác
của họ thể hiện quy luật đặc thù của văn học Việt Nam.
Và nhà văn thể hiện sự vận động chuyển đổi về phong cách sáng tạo nghệ
thuật ấn tượng hơn cả là nhà văn Nguyễn Công Hoan.

nghệ thuật của nhà văn qua những sáng tác của ông. Nhằm chứng minh cho nhận
định: sự vận động chuyển đổi loại hình tác tác giả văn học qua sáng tác của Nguyễn
Công Hoan trước cách mạng tháng Tám 1945.
Tuy nhiên, do thời gian tiếp cận đề tài còn hạn chế, vốn kiến thức được trang
bị nhiều điểm còn chưa thực sự sâu sắc, nên có những vấn đề chưa được nghiên cứu
sâu. Luận văn chưa mở rông sang các tác giả cùng thời khác để thấy được sự vận
động biến đổi của hệ quy chiếu trong hầu hết các tác giả những năm đầu thế kỉ XX.

2


2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn.
2.1. Mục đích và ý nghĩa lý luận.
Đối tượng nghiên cứu là một tác giả lớn, quá trình hình thành, vận động và
phát triển phong cách nhà văn Nguyễn Công Hoan. Vì vậy, chúng tôi xác định mục
đích, tính chất của luận văn là vấn đề nghiên cứu của văn học sử. Cụ thể là nghiên
cứu sự chuyển biến mang tính quy luật đặc thù của văn học Việt Nam qua ngòi bút
nhà văn.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
Thực hiện được mục tiêu trên, chúng tôi hi vọng luận văn của mình góp phần
phục vụ trực tiếp cho việc tìm hiểu và giảng dạy tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết
của Nguyễn Công Hoan ở cấp độ phân tích, cảm nhận văn học qua thực chứng lịch
sử khách quan.
3. Lịch sử vấn đề:
Có khá nhiều nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết cho sáng tác của Nguyễn
Công Hoan, và nhiều nhà nghiên cứu coi Nguyễn Công Hoan là một nhà văn tiêu
biểu của chủ nghĩa hiện thực.
Trên tạp chí Nam Phong 7 – 1932, Trúc Hà viết phê bình về truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan “Một ngọn bút mới”. Trong bài viết của mình, Trúc Hà chỉ ra
những “lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm một vài câu hoặc

- Chương 1: Sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình và vùng văn hóa Sơn
Nam .
-Chương 2. Sự ảnh hưởng văn học nhà Nho và văn học Tây Âu trong sáng tác
của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8 - 1945.
-Chương 3. Sự vận động trong tư tưởng của nhà văn qua những tác phẩm văn
học của ông.

4


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VÀ VÙNG
VĂN HÓA SƠN NAM
1.1. Truyền thống gia đình.
1.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Nguyễn Công Hoan- tác giả truyện ngắn xuất sắc, một hiện tượng đặc biệt
trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại.
Ông sinh ngày mồng 6 tháng 3 năm 1903 trong một gia đình nho học ở làng
Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hưng Yên). Gia đình ông là
gia đình nhà nho có nhiều người làm quan với Pháp. Cha ông tuy đỗ tú tài nhưng
chỉ được nhận chức huấn đạo và ở mãi chức này cho đến khi mất. Đồng lương ít ỏi
của cha không đủ nuôi đàn con đông, nên Nguyễn Công Hoan từ nhỏ đã được ông
bác ruột, một ông quan yếm thế có tinh thần yêu nước đón về nuôi dưỡng và giáo
dục. Ngay từ những ngày còn nhỏ ông đã tỏ ra là một cậu thiếu niên thông minh,
nghịch ngợm và hóm hỉnh. Tuy bé nhất trong nhà nhưng ông lại luôn là người đầu
trò trong các cuộc chơi. Ông thường tự biên soạn những vở chèo, vở tuồng từ những
tích cũ, tự lập sân khấu rồi cùng các anh con của bác chơi trò biểu diễn. Đề tài
những vở kịch do ông nghĩ ra hoàn toàn dựa theo những truyện hàng ngày nghe kể,
khi là chơi trong các trại lính lệ, lính cơ nhằm giễu cợt những thói hư tật xấu của kẻ
có quyền và xót thương những người nghèo khờ dại. Những buổi biểu diễn này

một cây bút mới với lối văn hoàn toàn mới lạ. Mặt khác, do ham đọc thơ văn, ông
có con mắt nhìn đời bằng hồn thi sĩ, nên phong cách hiện thực phê phán sắc sảo của
ông đậm chất trữ tình.
Tốt nghiệp trường Nam Sư phạm năm ông hai mươi ba tuổi. Công việc dạy
học của ông vô cùng long đong, vất vả. Do bị tình nghi có tham gia hoạt động cách
mạng nên ông không ở đâu được lâu mà luôn bị thuyên chuyển vùng. Từ thị xã Hải
Dương ông phải chuyển đến huyện Nam Sách, huyện Kim Môn, thị xã Lào Cai,
thành phố Nam Định, rồi ra đảo Trà Cổ. Con đường văn nghiệp của ông cũng không
kém phần lao đao, trắc trở. Ông luôn bị thực dân Pháp theo dõi, ghìm ngòi bút, có
thời kỳ còn bị treo bút. Nhiều tiểu thuyết của ông bị cấm lưu hành như (Cái thủ lợn1939), nhiều truyện ngắn bị kiểm duyệt, cắt xén hoặc xóa trắng (Êu êu Mê đo; Hồi
còi báo động). Lớn lên trong thời kì những sự kiện chính trị lớn dốn dập xảy ra ở
trong và ngoài nước, lại làm cái nghề luôn bị chèn ép và bản thân bị nghi kị nên
giúp ông có cái nhìn đúng về xã hội đương thời. Sẵn có thái độ hằn học với kẻ xu

6


nịnh, hằn học với bọn thực dân tàn ác, quan lại tham nhũng, bọn giàu sang gian trá,
nên Nguyễn Công Hoan không dễ lùi bước trước mọi khó khăn. Truyện ngắn của
ông ngày càng điêu luyện về nghệ thuật, sắc sảo về nội dung dần đưa ông tới vị trí
hàng đầu trong dòng văn học hiện thực phê phán.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, theo quy luật chung của sự phát triển, văn
học Việt Nam dần chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học hiện đại. Thời kì
này giữa biết bao nếp nghĩ vay mượn, cách diễn đạt vay mượn, giữa biết bao sự mời
gọi quyến rũ tưởng không cưỡng lại được của văn học ngoại lai nhưng Nguyễn
Công Hoan đã giữ cho ngòi bút của mình đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa
hiện thực. Ông trở thành một trong những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng
nền móng cho nền văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam. Đó cũng là thời kì văn
học Việt Nam đang ở buổi sơ khai của nền văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ. Giai
đoạn này đòi hỏi mỗi người cầm bút phải tự tìm lấy mình, khẳng định mình, khẳng

là một cái mốc đánh dấu trong sự nghiệp văn chương của nhà văn. Ông viết:“việc
cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm tôi rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và
tôi có thể theo đuổi nghề văn” [23/188]. Tập truyện với nghệ thuật độc đáo, mới lạ,
có truyện không có cốt truyện (Cô Kếu gái tân thời), có truyện viết không theo hình
thức kể chuyện (Thế là mợ nó đi Tây) đã thu hút được đông đảo bạn đọc trong cả
nước. Những tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh… bị lu mờ,
thay vào đó là những tác phẩm hiện thực của Nguyễn Công Hoan. Năm đó, Kép Tư
Bền được đánh giá là tập truyện ngắn hay nhất, được mười tám tờ báo ở Trung,
Nam, Bắc viết bài khen ngợi và trở thành đề tài cho một cuộc tranh luận về nghệ
thuật. Phái nghệ thuật vị dân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công
kích nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh. Khi cuộc tranh luận đang trong độ
gay cấn nhất thi Hải triều đọc được Kép Tư Bền. Kép Tư Bền trở thành cứu cánh
đưa phái nghệ thuật vị dân sinh đi đến thắng lợi. Trong một bài bút chiến của Hải
Triều có viết “Cái chủ trương nghệ thuật vị dân sinh của tôi ngày nay đã biểu hiện
bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của văn sĩ Nguyễn công
Hoan” [48]. Để khẳng định chủ trương của mình, Hải Triều còn tổ chức buổi gặp
mặt tác giả với bạn đọc và trưng cầu ý kiến độc giả tại nhà sách Hương Giang (Huế).
Kết quả của cuộc trưng cầu là tác Phẩm Kép Tư Bền được xếp hàng đầu, tác giả của
nó được bạn đọc hoan nghênh nhất. Ông trở thành ngọn cờ đầu của văn học hiện
thực phê phán Việt Nam.

8


Thời kỳ mặt trận Dân chủ (1936- 1939), thực dân Pháp nới lỏng chế độ kiểm
duyệt sách báo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan được tung hoành hơn. Nhờ ảnh
hưởng của Đảng, của sách báo Mác xít, của phong trào quần chúng khắp nơi, những
tác phẩm của ông đạt chất lượng cao hơn trước. Chúng như những chiếc gai nhọn
đối với nhà cầm quyền. Thời kỳ ông viết sung sức chưa từng thấy, với hơn 80
truyện ngắn, trong đó có khoảng 30 truyện đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân.

được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo yêu cầu của chủ
nghĩa hiện thực. Đề tài của tiểu thuyết ảnh hưởng nhiều của sách báo đảng Cộng
Sản bấy giờ và đã gây được tiếng vang lớn trong kỳ mặt trận Dân chủ.
Sang những năm dại chiến thế giới II, Nguyễn Công Hoan mất phương
hướng và bế tắc. Từ con đường chủ nghĩa hiện thực ông đi chệch hướng sang con
đường chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ. Vốn chịu ít nhiều tư tưởng phong kiến, ông đã
viết một số tiểu thuyết có khuynh hướng phục cổ, tiêu biểu là “Thanh đạm” (1942).
Tác phẩm đề cao Nho giáo, phong tục và sinh hoạt phong kiến cổ xưa. “Thanh đạm”
bị lên án gay gắt làm cho Nguyễn Công Hoan trở nên bi quan, chán nản.
Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, nhà văn vui mừng, hồ hởi mặc áo
lính, làm công tác văn hóa trong quân đội và dần có cơ hội trở lại viết văn. Ông
sáng tác nhiều truyện dài, nhiều tiểu thuyết xã hội như: “Tranh tối tranh sáng”
(1950); “Hỗn canh hỗn cư” (1961); “Đống rác cũ” (1963)…ngoài ra ông còn viết
nghiên cứu về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…viết bài cho phát thanh, tham
gia vào việc biên soạn từ điển, ngữ pháp tiếng Việt của viện Ngôn ngữ. Đặc biệt,
ông viết được nhiều tập hồi ký chân thực và có giá trị: “Đời viết văn của tôi”; “Nhớ
gì ghi nấy”… “Đời viết văn của tôi” viết năm 1971, cuốn hồi ký này ghi lại các sự
kiện 60 năm văn học nước nhà, từ những bước đầu của ngành báo chí xuất bản.
Cuốn sách giới thiệu nhiểu nhà văn, nhà nghiên cứu, trong hoàn cảnh nước ta trước
đây các ngành bảo tồn, bảo tàng, xã hội học, dân tộc học chưa phát triển thì đây là
tài liệu rất tốt cho giúp cho các thế hệ sau dựng lại bức tranh chân thật về một thời
kỳ lịch sử đã qua đồng thời cũng cho họ những chi tiết chính xác về cái xã hội tù
túng, quằn quại dưới ách thực dân phong kiến. Mặt khác, cuốn hồi ký này để lại cho
các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu thế hệ sau nhiều tri thức quý báu về nghề
văn cũng nhưu kinh nghiệm viết văn của ông. Cuốn sách được đánh giá là “một
cuốn cẩm nang văn học” đối với “những hậu duệ văn học” [51/30].
Là nhà văn viết khỏe, với trên nửa thế kỉ sáng tác, Nguyễn Công Hoan sáng
tác tác trên 200 truyện ngắn, hơn 30 truyện dài và các thể loại khác, ông xứng đáng

10

đến một kết thúc bất ngờ làm nổi bật tiếng cười giễu cợt. Từ nghệ thuật xây dựng
nhân vật đặc sắc đến nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu giản dị, trong sáng,

11


dễ hiểu. Đặc biệt ông rất thành công khi sử dụng thủ pháp trào phúng, gây cười
trong truyện ngắn của mình. Truyện ngắn của ông được viết dưới nhiều cung bậc
tình cảm. Có truyện ông viết ra để gây căm hờn (Sáng, chị phu mỏ), để làm kinh
tởm (Gói đồ nữ trang), để gợi lòng thương (Anh Sẩm; Cái vốn để sinh nhai), hoặc
để cười (Samandji). Có những truyện là tấn hài kịch (Ai khôn; Đàn bà là giống yếu;
Một tấm gương sáng), bi kịch (Bộ ba Chiếc quan tài), hoặc bi hài lẫn lộn (Thằng ăn
cắp; Hai thằng khốn nạn). Có những truyện xây dựng trên nguyên tắc tượng trưng
(Đào kép mới), lại có những truyện thực ra là sự nhạo lại cái gì xảy ra trong thực tế
(Cụ Chánh Bá mất giày; Báo hiếu). Đề tài thường xuyên thu hút nhà văn là quan hệ
giữa kẻ áp bức và người bị áp bức. Phanh phui bất công xã hội là lập trường tư
tưởng duy nhất ông chấp nhận.
Nhà văn sống hòa mình vào cuộc sống, lấy đề tài sáng tác từ giữa cuộc sống
lố lăng thời bấy giờ, nên tác phẩm của ông thường nhằm nâng cao năng lực nhận
thức và khám phá các hiện tượng xã hội phức tạp. Xã hội phong kiến nửa thực dân
ở Việt Nam trước 1945 đầy rẫy sự lừa bịp và khôi hài, thế nhưng kẻ thống trị luôn
tìm cách để che dấu bộ mặt thật của chúng. Cần phải phanh phui những mâu thuẫn
nội tại ấy. Một loạt các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (Đào kép mới; Tinh
thần thể dục; Chính sách thân dân…) đã đáp ứng được yêu cầu đó. Những truyện
ngắn này đã vạch ra những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữa nội dung
và hình thức để bật lên tiếng cười đả kích.
Cách mạng tháng Tám thành công, khi một loạt các nhà văn phải trăn trở “lột
xác”, “nhận đường” thì Nguyễn Công Hoan tuyệt nhiên không có hiện tượng đó.
Bạn đọc có thể đọc có thể đọc một truyện ngắn trong “Kiếp hồng nhan” viết năm
1920 với truyện “Chiếc xe lam” một trong những sáng tác sau cùng khi nhà văn vào

con số kỷ lục trong một lần xuất bản (lên tới 20.100 bản năm 1962). Năm 1997
chuẩn bị 95 năm ngày sinh của nhà văn (1903 – 1998), Nhà xuất bản Văn nghệ trẻ
thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời 9 cuốn tiểu thuyết với tên “Tủ sách Nguyễn
Công Hoan”. Có nhiều công trình khoa học ở trong nước và quốc tế nghiên cứu về
ông và tác phẩm của ông. Nguyễn Công Hoan thực sự trở thành một cây đại thụ
trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
1.1.2. Truyền thống gia đình.
Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn
Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang,

13


tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế.
Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu
thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp
quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này.
Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan
trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công
Bồng nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ nguyên Tổng
Giám đốc đầu tiên của Nha bình dân học vụ.
Truyền thống gia đình với Nguyễn Công Hoan có sự ảnh hưởng sâu sắc tới
sự nghiệp văn chương của nhà văn sau này. Có thể nói, tuổi ấu thơ của ông giống
như “kho tài liệu” quý giá cho ông khai thác dần dần về sau. “Nếu tờ giấy trắng
được nhuộm màu nào đầu tiên thì cái màu ấy là nền, nó rõ mãi và bền mãi. Thì
trong đời người ta những điều mắt thấy, tai nghe được và nhớ lâu nhất, tạo cho con
người một nền tảng về tư tưởng đối với sự việc, một khả năng làm cái gì sau này”
[25/53]. Cách nói đầy hình ảnh chứng minh cho con đường sáng tác của nhà văn,
đặc biệt trong những giai đoạn đầu. Đó là ảnh hưởng hoàn cảnh gia đình và hoàn
cảnh xã hội thời đại Nguyễn Công Hoan.

dần và từ đó biết suy nghĩ, trăn trở trước số phận của những con người thấp cổ bé
họng, biết “Tây là thế nào, quan ta, tổng lý, lính tráng đối với dân đen ra sao?”.
Từ hiện thực của cuộc sống gia đình đến những câu chuyện ngoài cổng chòi
và trong sân công đường đã tác động vào thế giới quan nhà văn tạo ra một cái nhìn
bi quan. Trong “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Công Hoan tổng kết; “Tóm lại cuộc
đời của tôi, sống dưới chế độ phong kiến và đế quốc, với những ảnh hưởng giáo dục
của truyền thống gia đình, của nhà trường, của xã hội, với những điều mắt thấy, tai
nghe của tôi trong quá trình làm công chức của thực dân, với những phen may mắn,
lo âu, đã tạo cho tôi thành một con người bi quan đối với thời cục, hằn học đối với
chế độ, hoài nghi đối với nhân tâm, sinh ra cho tôi cái tính nghịch ngợm, ranh
mãnh, khinh thế ngạo vật, làm cho tôi thói quen hay đùa bỡn, hay chế nhạo chua
chát” [25/99]. Ông đã “ dùng óc để học trong cuốn thiên nhiên xã hội Việt Nam”
viết lên cảnh huống, tâm trạng của những con người sống trong xã hội ấy chứ không
phải ở một thế giới nào xa xôi.
Cùng với vốn sống được tích lũy trong quãng đời từ 10 đến 20 tuổi, lòng yêu
văn học có ở Nguyễn Công Hoan ngay từ hồi còn “nói ngọng”. Khi còn nhỏ, ông
thuộc những phương ngôn, tục ngữ,ca dao do bà nội truyền lại. Lúc đến trường, qua

15


lời giảng của thầy, ông hứng thú đặc biệt với thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Khuyến, trần Tế Xương. Ông nói: “được nhập tâm những văn thơ hay, tôi
chịu ảnh hưởng của các bậc tiền nhân không nhỏ”.
Những năm đầu thế kỉ XX, khi báo chí xuất hiện, Nguyễn Công Hoan chăm
chú theo dõi những mẩu văn, những bài dịch từ sách Hán, sách Pháp, đặc biệt quan
tâm đến mục “Từ phú thi ca”, “Đoản thiên tiểu thuyết” bởi đó là văn sáng tác…
Lòng yêu gia đình, yêu văn học đã giúp ông nhìn cuộc đời không khô khan, trừu
tượng mà là cái nhìn của một tâm hồn thi sĩ “nghĩa là không nhìn bằng đôi mắt bình
thường những việc xảy ra một cách thẳng đuỗn, khô khan, mộc mạc, thật thà mà nhìn

Nam cùng với văn hóa Kinh Bắc, văn hóa Xứ Đoài hình thành bản sắc văn hóa Việt
truyền thống.
Trước hết, có thể nói trấn Sơn Nam là vùng đất phát tích đế vương. Những
anh hùng để lại dấu ấn lịch sử tiêu biểu nhất trên đất Sơn Nam là Đinh Bộ Lĩnh, Lý
Công Uẩn và Trần Hưng Đạo.
Trấn Sơn Nam còn là vùng đất văn chương, chữ nghĩa. Nhân kiệt Sơn Nam
còn phải kể đến những tên tuổi lừng lẫy thời xưa như Lương Thế Vinh, Nguyễn
Hiền, Lê Quý Đôn, Ngô Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… vang vọng thời
nay như Trần Huy Liệu, Nam Cao, Nguyễn Bính, Nguyễn Công Hoan… Đó không
chỉ là đất của đế vương mà còn là đất của chữ nghĩa, văn chương. Người có con
đường khoa bảng hanh thông nhất nước Việt cũng ở trấn Sơn Nam. Đó chính là
Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909). Thơ Nguyễn Khuyến diễn đạt
được hòa khí vời vợi của đất trời, đặc tả được sự mong manh, cô đơn của tâm hồn
con người trong không gian chật hẹp, hai mặt của cuộc đời. Thơ ông thanh thoát
ngôn từ mà trĩu nặng tâm tư, hình tượng gần gũi mà sang trọng, nhạc điệu bay bổng
vượt qua niêm luật hà khắc của thơ Đường.
Trấn Sơn Nam, bức thủy mặc hữu tình. Vùng đất Sơn Nam như bức thủy
mặc bát ngát châu thổ đồng bằng, chấm phá mấy hòn độc sơn vừa đủ tạo dáng non
nước hữu tình. Sơn Nam ôm trọn hạ lưu sông Hồng, sông Trà, sông Đáy… những
dòng sông nặng đỏ phù sa, hẹn hò cùng biển cả, sinh nở thêm làng quê, bờ bãi. Văn
hóa Sơn Nam không có bề dày thời gian như Xứ Đoài, Kinh Bắc nhưng thừa kế và
thăng hoa được tất cả tinh hoa, tâm linh hồn Việt. Sơn Nam là đất của hát chèo, hát
xẩm và rối nước. Sơn Nam có những kiến trúc đáng kể như tháp Phổ Minh, chùa
Keo, cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Kim Sơn… Sơn Nam có những làng nghề cổ nổi
danh thế giới như nghề bạc Đồng Xâm, nghề đúc đồng Lý Nhân… Cảnh quan Sơn
Nam không nhiều nhưng lại có những chốn du ngoạn thuộc hàng Nam thiên đệ nhất

17



18


Nam. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng có truyền
thống học hành thi cử. Ông nội Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh,
cha là Nguyễn Tông Khải đỗ liền ba khoa tú tài, nhưng trượt cử nhân. Từ nhỏ
Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng là người chăm chỉ học hành giỏi giang. Năm mười bảy
tuổi ông đi thi Hương với cha nhưng không đậu, sau đó cha mất vì nhà nghèo nên
ông đã phải thôi học để đi dạy thuê kiếm tiền nuôi mẹ. Lúc bấy giờ có ông Nghè là
Vũ Văn Lý, người làng Vĩnh Trụ, huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam thấy ông học giỏi
mà phải bỏ dở giữa chừng nên đã đem về nuôi và cho ăn học tiếp. Năm Giáp Tý
(1864), Nguyễn Khuyến đi thi Hương đậu giải nguyên trường thi Nam Định. Năm
sau Nguyễn Khuyến đi thi Hội không đỗ, ông ở lại Huế học trường Quốc Tử Giám để
chờ kỳ thi khác. Năm Tân Mùi (1871), Nguyễn Khuyến thi hội lần thứ hai, đỗ Hội
Nguyên sau đó vào thi đình, đỗ Đình Nguyên. Như thế là cả ba lần thi Hương, thi Hội,
thi Đình ông đều đỗ đầu nên người ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ.
Nguyễn Khuyến, một nhà Nho, người ẩn dật cuối cùng trong văn học Nho
giáo. Vốn xuất thân từ dòng dõi Nho gia, lại có hơn ba mươi năm dùi mài kinh sử,
từng được bổ nhiệm vị trí tổng đốc Sơn- Hưng- Tuyên, khoảng trên dưới mười năm
làm quan hiển hách, đủ đưa ông đến đỉnh cao danh vọng. Vậy mà, ông Tam Nguyên
hay chữ, một nhà nho hiển đạt lại viết khá nhiều thơ trào phúng, trong khi bậc đại
nho luôn ghét kẻ xảo ngôn, ghét cạnh khóe, châm chọc. Quá trình lội ngược dòng
của cụ Tam Nguyên Yên Đổ được lí giải trong sự vận động nội tại mang tính quy
luật của ý thức hệ tư tưởng, của nguyên tắc phản ánh thực tại và sâu xa hơn là từ sự
vận động của văn học nhà nho đến văn học hiện thực chủ nghĩa.
Bất mãn với chế độ thực dân nửa phong kiến, ông cáo quan về với cảnh
điền viên, cư sĩ, Nguyễn Khuyến không đi theo con đường ẩn dật của nhà nho trước
thế kỉ XVIII mà rẽ sang ngả đường khác. Thời đại của Nguyễn Khuyến khác với
thời đại của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, khiến ông không thể yên tâm làm
một Đào Tiềm. Cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản Pháp phá vỡ sự yên ổn không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status