Phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5, 6 tuổi tại trường mầm non hùng vương, thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 34

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 
Thế kỷ XXI, loài người sẽ sống trong nền văn minh công nghệ hiện đại, 
sự hùng mạnh của xã nước là do tiềm năng trí tuệ quyết định trước tiên. Giáo 
dục năng lực trí tuệ đang là một trong những xu hướng xây dựng chiến lược 
giáo dục của nhiều nước trên thế giới. Giáo dục mầm non đặt nền móng ban 
đầu  cho  cả  quá  trình  phát  triển  sau  này  của  con  người  trong  đó  có  sự  phát 
triển trí tuệ nhằm chuẩn bị cho trẻ vào học ở trường phổ thông và trở thành 
những  chủ  nhân  tương  lai  của  đất  nước.  Sự  phát  triển  tư  duy  là  một  trong 
những  vấn  đề  chủ  yếu  của  giáo  dục  trí  tuệ.  Do  đó,  việc  hình  thành  và  phát 
triển năng lực tư duy mà cốt lõi của nó hình thành và phát triển năng lực khái  
quát hóa cho trẻ ­ Năng lực đặc thù của tư duy con người là một trong những 
nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non nói riêng và giáo dục nhà trường 
nói chung. 
Khái  quát  hóa  được  hình  thành  và  phát  triển  trong  suốt  tuổi  mẫu  giáo 
thông qua hoạt động của bản thân đứa trẻ trong đó vui chơi là hoạt động chủ 
đạo và đóng vai trò quan trọng. Kết quả của việc lĩnh hội tri thức dưới dạng 
biểu tượng chung, ký hiệu, ngôn ngữ, khái niệm phụ thuộc rất nhiều vào khả 
năng khái quát hóa của cá nhân trẻ.
Trò chơi học tập tạo khả năng thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua hình thức 
và sự hấp dẫn đối với trẻ. Nó là một phương tiện có hiệu quả để hình thành và 
phát  triển  các  năng  lực  trí  tuệ.  Việc  sử  dụng  các  đồ  chơi,  trò  chơi  học  tập 
nhằm trau dồi các thao tác tư duy, đặc biệt là khái quát hóa và ngôn ngữ cho 
trẻ là hết sức cần thiết.
Trên thực tế, trò chơi học tập được sử dụng chủ yếu nhằm củng cố kiến 
thức mà chưa thực sự được quan tâm về khía cạnh phát triển tư duy. Ở nhiều 


2
trường mầm non việc tổ chức trò chơi học tập còn nghèo nàn. Cô giáo chưa 

nhau trong hoạt động trí tuệ.
Nhà tâm lí học L.X Vugotxki, A.N. Leonchev và P.Ia: Thuyết hình thành 
các thao tác trí tuệ: Quá trình chuyển từ bên ngoài vào bên trong của các thao 
tác tư duy.
2.2. Ở Việt Nam
Đồ chơi và trò chơi học tập rất phong phú và đa dạng. Ta có thể bắt gặp 
rất nhiều đồ chơi và trò chơi học tập ở tất cả các trường mầm non. Nhận thấy 
được tầm quan trọng của đồ chơi, trò chơi học tập đối với trẻ, bộ môn đồ chơi 
trẻ  em  đã  được  đưa  vào  hệ  sư  phạm  giáo  dục  mầm  non  từ  bậc  Trung  cấp  ­ 
Cao đẳng ­ Đại học. Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về sự phát 
triển khả năng tư duy cho trẻ thông qua đồ chơi, trò chơi như: Nguyễn Ánh 
Tuyết –“ Trò chơi phát triển tư duy cho trẻ từ 3­6 tuổi”, Nguyễn Ánh Tuyết – 
“Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông”, Đỗ Thị Minh Liên – “Phát 
triển khả năng tư duy cho trẻ mẫu giáo”. Đây là những đề tài khoa học có tính 
phổ quát phạm vi nghiên cứu nói cung về giáo dục mầm non. Tuy nhiên chưa 
có công trình nào nghiên cứu về thực trạng sử dụng trò chơi, đồ chơi, cũng 
như vận dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 
5, 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Vì  vậy,  chúng  tôi  mạnh  dạn  đề  tài:  "Phát  triển  khả  năng  khái  quát  hóa 
cho trẻ 5 ­ 6 trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc 
qua  trò chơi, đồ chơi học tập" với hi vọng góp một phần nhỏ trong việc tìm ra 
biện pháp phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớn (5 ­ 6 tuổi ) 
một cách có hiệu quả nhất.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài "Phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5 ­ 6 trường 
mầm  non  Hùng  Vương,  thị  xã  Phúc  Yên,  tỉnh  Vĩnh  phúc  qua    trò  chơi,  đồ 


4
chơi học tập" nhằm tìm ra các phương pháp phát triển khả năng khái quát hóa 

Các biện pháp phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớp 5, 
6  tuổi  A2  trường  mầm  non  Hùng  Vương,  thị  xã  Phúc  yên,  tỉnh  Vĩnh  Phúc 
thông qua đồ chơi, trò chơi học tập.
7.  Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về cơ sở 
phương pháp luận, những tài liệu giáo trình tâm lí học, giáo dục học, các công 
trình nghiên cứu thực tiễn đã công bố....nhằm làm rõ cơ sở lí luận liên quan 
đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các đồ chơi, trò chơi giúp trẻ phát triển tư duy nói chung và khả 
năng khái quát hóa nói riêng.
Quan sát các tiết học thể hiện khả năng khái quát hóa của trẻ 5,6 tuổi qua 
trò chơi học tập và quan sát việc tổ chức của giáo viên trong tổ chức các trò 
chơi  học  tập  cho  trẻ  theo  các  tiêu  chí  đã  đưa  ra.  Đồng  thời  thu  thập  một  số 
thông tin liên quan đến việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. những thông tin 
thu được sẽ bổ sung cho các phương pháp khác giúp làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
7.2.2 Phương pháp điều tra trực tiếp
Dùng  phiếu  câu  hỏi  đối  với  45  giáo  viên  đứng  lớp  trường  mầm  non 
Hùng Vương để tìm hiểu thêm thông tin về nhận thức và việc tổ chức, hướng 
dẫn, đánh giá trẻ qua khả năng khái quát hóa thông qua đồ chơi, trò chơi học 
tập theo định hướng của giáo viên.
7.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm 
Thông qua việc thu nhận và tìm hiểu về khả năng khái quát hóa của trẻ 5, 
6 tuổi qua trò chơi học tập của trẻ  có thể đánh giá được nội dung ý tưởng vốn 
hiểu biết và kinh nghiệm, khả năng tưởng tượng, tư duy lôgic của trẻ.
Tuy nhiên, mỗi trẻ lại có ý muốn và khả năng thể hiện khác nhau qua sản 
phẩm nên cần kết hợp đánh giá sản phẩm với đánh giá qua ý tưởng tiến trình 


Phụ lục 1
Phụ lục 2


7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ VÀ KHẢ NĂNG KHÁI QUÁT HÓA CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI

1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý
1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý
Nhà tâm lý học V.X. Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lý học trẻ 
em và đã đưa ra kết luận: Độ tuổi mẫu giáo lớn 5 ­ 6 tuổi là giai đoạn cuối 
cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non”. Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc 
trưng của con người đã được hình thành.
Các nhà sinh lý và giải phẫu  học đã chứng minh cơ sở vật chất của đời 
sống trẻ phụ thuộc vào bộ não và hoạt động thần kinh cao cấp: 
 Não Sự hoạt động của điện não ở trẻ 5­6 tuổi là thời kỳ phát triển nhanh rõ 
nhất trong cả đời người. Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành.
Song  trẻ  ở  lứa  tuổi  này  do  khả  năng  hưng  phấn  và  ức  chế  của  hệ  thần 
kinh chưa ổn định, nên nếu trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài sẽ dễ bị mệt 
mỏi. Tròn 6 tuổi, não của trẻ đạt khoảng 1,3g gần như người lớn, sự biệt hóa 
và tăng trưởng não bộ đả hoàn thành.
Thần kinh: Đây là thời kỳ não phát triển nhanh và rõ nhất trong đời người. 
Song trẻ ở lứa tuổi này, công năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa 
cân bằng, nên nếu để bé làm việc gì đơn thuần kéo dài dễ gây mệt mỏi.
Khả năng tự kiềm chế, điều tiết còn kém, khi trẻ hưng phấn làm một việc 
gì đó thì rất tập trung, quên ăn quên ngủ. Cho nên không được để trẻ kéo dài 
thời gian hưng phấn, nhằm tránh gây mệt mỏi cho trẻ.

hỏi, thích tự làm việc, ham chơi hơn ăn.


9
Đây  là  thời  kỳ  bộc  lộ  tính  nhậy  cảm  cao  nhất  đối  với  các  hiện  tượng 
ngôn  ngữ.  Sự  phát  triển  ngôn  ngữ  của  trẻ  đạt  tốc  độ  khá  nhanh.  Trẻ  đã  sử 
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong ngôn ngữ hàng ngày. 
Trẻ đã có sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động 
tâm  lí.  Trẻ  biết  đánh  giá  bản  thân  mình  và  đánh  giá  người  khác.  Tuy  nhiên 
đánh giá còn mang tính chủ quan có sự chi phối nhiều của tình cảm. Trẻ nắm 
được kỹ năng so sánh mình với người khác điều này là cơ sở để trẻ đánh giá 
một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương người tốt, việc tốt. 
Sự chú ý, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn càng có tính chủ định nhiều hơn, việc 
đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường 
được thể hiện rõ nét.
Đến 5 ­ 6 tuổi các hình thức tư duy đã được hình thành, lúc này tư duy 
trực quan hình tượng là loại tư duy cơ bản của trẻ. Đó là loại tư duy mà việc 
giải  quyết  nhiệm  vụ  được  thực  hiện  dựa  vào  các  hình  ảnh  có  trong  kinh 
nghiệm. Trong quá trình phát triển trí tuệ của trẻ có sự tác động lẫn nhau một 
cách chặt chẽ của ba hình thức tư duy cơ bản: Tư duy trực quan ­ hành động, 
tư duy trực quan ­ hình tượng và tư duy logic. Khi trẻ tham gia vào các trò 
chơi và hành động với đồ vật, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có 
chủ  định  tập  trung  hơn  và  ghi  nhớ  được  nhiều  hơn,  trẻ  học  suy  nghĩ  về  đối 
tượng thật. Dần dần những hành động chơi của trẻ với đồ vật được rút ngắn 
và mang tính khái quát. Các tình huống xảy ra trong khi chơi được giải quyết 
bằng các biểu tượng đã được ghi nhớ trong đầu. Hoạt động chơi của trẻ là một 
hoạt động không mang tính chất bắt buộc như hoạt động học tập, trẻ tham gia 
chơi không vì một lợi ích thiết thực nào, trẻ chơi để thỏa mãn sự tò mò, để 
cho vui.
Tóm lại, tâm lý của trẻ lứa tuổi mầm non chịu ảnh hưởng sâu sắc và tác 

Ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với con người. Chức năng khái quát hóa 
của ngôn ngữ biểu hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ngôn 


11
ngữ là hình thức tồn tại của tư tưởng, ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng 
không đồng nhất với nhau cũng không tách rời nhau. Nhờ đó "Tư duy trở thành 
tư duy ngôn ngữ, còn ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ trí tuệ" theo C.Mac. Cái 
chung được khái quát hóa phản ánh thường được ký hiệu bằng từ ngữ và gắn 
bó với các sự vật, hiện tượng có cái chung đó. Do đó không có ngôn ngữ thì 
không thể có tư duy khái quát, khái quát hóa là sản phẩm của tư duy ngôn ngữ. 
V.X.Mukhina  xác  định:  “  Cơ  sở  của  các  khái  quát  hóa  là  sự  lĩnh  hội 
ngôn ngữ vì nghĩa của các từ mà người lớn dạy trẻ hiểu và  sử dụng luôn luôn 
chứa đựng sự khái quát”. 
Tóm  lại,  khái  quát  hóa  là  hình  thức  phản  ánh  những  dấu  hiệu  chung, 
những mối liên hệ chung của các sự vật hiện tượng. Nó có thể được xem như 
là thao tác cơ bản của tư duy đồng thời được xem như là sản phẩm của tư duy 
ngôn ngữ. 
1.1.2.2. Nhận thức và khả năng khái quát hóa của trẻ em 5 ­ 6 tuổi
Các công trình tâm lý học nghiên cứu về tư duy cho thấy: Khái quát hóa 
của trẻ được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển các 
hình  thức  tư  duy  khác  nhau,  đặc  biệt  liên  quan  trực  tiếp  và  chặt  chẽ  với  sự 
phát triển ngôn ngữ.
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ đã có khả năng khái quát hóa sơ đẳng các sự vật 
hiện tượng dựa trên kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của trẻ và được củng cố 
bằng từ ngữ. Tuy nhiên, sự khái quát đó còn có tính phiếm hóa nhanh. Tư duy 
của trẻ còn mang nặng màu sắc, trực quan, cảm tính nên những dấu hiệu làm 
cơ sở để trẻ hợp nhất các đối tượng khác nhau thường là những dấu hiệu gây 
ấn tượng mạnh mẽ đập ngay vào mắt ­ khái quát của trẻ chủ yếu dựa vào sự 
giống nhau bên ngoài giữa các sự vật và hiện tượng.Ở tuổi mẫu giáo phương 

học tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức 


13
tổ  chức  và  luyện  tập  cho  trẻ,  không  tính  đến  nội  dung  và  tính  chất  của  trò 
chơi, đều gọi là trò chơi học tập hay còn gọi là trò chơi dạy học.
Trò chơi học tập còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối 
với sự phát triển của trẻ, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó 
vào mục đích giáo dục và dạy học. Quan niệm này được thừa nhận trong tổ 
chức hoạt động chơi cho trẻ trong giáo dục học Xô Viết trước đây và trong 
trường mầm non hiện nay. 
Trò chơi học tập có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những 
trò chơi của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho 
đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức 
đó để dạy con. Những trò chơi đó có chứa đựng những yếu tố dạy học.
Trò chơi học tập là những trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát 
triển của trẻ, giúp các nhà giáo dục sử dụng được lợi thế của trò chơi có luật 
vào mục đích giáo dục trí tuệ cho trẻ. 
Trò chơi học tập ở mấu giáo vô cùng phong phú và đa dạng nên có thể 
phân loại theo nhiều cách khác nhau:
­ Dựa vào đặc điểm của các vật liệu chơi, đồ chơi được sử dụng trong 
trò chơi:
+  Trò  chơi  học  tập  với  các  đồ  vật  (đồ  chơi,  đồ  dùng,  nguyên  vật  liệu 
thiên nhiên, phế liệu…..).
 + Trò chơi học tập với các tranh in ấn: Trò chơi lô tô; trò chơi đôminô, 
trò chơi chắp ghép tranh…..
 + Trò chơi học tập bằng lời.
­ Dựa trên phương diện phát triển các chức năng tâm lí cho trẻ:
+ Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan. 
+ Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy.



15
­  Tên  gọi  của  mỗi  trò  chơi  học  tập  thường  phản  ánh  nội  dung  chơi  và 
khêu gợi hứng thú của trẻ đến với trò chơi. 
­ Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả nhất định ở phần kết thúc trò 
chơi.  Kết  quả  của  trò  chơi  học  tập  là  thể  hiện  sự  cố  gắng  của  trẻ  trong  suy 
nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, trong việc nắm kiến thức và trong tính cộng đồng của 
nhóm trẻ.
­ Trong trò chơi học tập vị thế của mọi trẻ tham gia trò chơi đều ngang 
nhau (trong trò chơi đóng vai theo chủ đề vị trí của trẻ khác nhau do vai chơi 
quy định, những trẻ tích cực thường đóng vai chính). 
­ Trong trò chơi học tập các hành động và các mối quan hệ của các người 
chơi được chỉ đạo bởi các luật lệ trò chơi. Trong trò chơi học tập được kiểm tra 
lẫn nhau rõ ràng và có hiệu quả thông qua luật chơi được quy định rõ ràng.
­ Trò chơi học tập đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc làm việc thực sự trong 
khi  giải  quyết  nhiệm  vụ  nhận  thức,  thực  hiện  luật  chơi  thông  qua  hình  thức 
chơi vui vẻ, hấp dẫn thừa sức. Chính điều đó làm cho trò chơi học tập có ý 
nghĩa to lớn đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ.
­  Trò  chơi  học  tập  là  một  phương  tiện  giáo  dục  ­  dạy  học  liên  hệ  mật 
thiết  với  các  phương  tiện  giáo  dục  khác  và  được  áp  dụng  trong  toàn  bộ  hệ 
thống tác động đến trẻ. Trò chơi học tập có tác dụng đẩy mạnh việc dạy học 
nhưng nó không thực hiện được việc dạy học có hệ thống.
Trò  chơi  học  tập  có  chứa  đựng  các  yếu  tố  dạy  học,  đẩy  mạnh  sự  phát 
triển  năng  lực  trí  tuệ,  tạo  cơ  hội  cho  trẻ  sử  dụng  những  kiến  thức  của  mình 
trong điều kiện mới hoặc đặt ra cho trẻ những tình huống đòi hỏi trẻ phải thể 
hiện  những  hình  thức  hoạt  động  trí  tuệ  muôn  màu  muôn  vẻ,  nhờ  đó  những 
hình thức hoạt động ấy được phát triển.
1.2.5. Mối liên hệ giữa đồ chơi học tập và trò chơi học tập




17
1.3. ĐỒ CHƠI, TRÒ CHƠI HỌC TẬP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG KHÁI 
QUÁT HÓA CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

1.3.1. Trò chơi và đồ chơi học tập trong giáo dục mầm non
Trò chơi và đồ chơi học tập đóng một vị trí hết sức quan trọng trong việc 
phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. Trong giáo dục mầm non, trò chơi và 
đồ chơi học tập được coi là tiền đề quan trọng để hình thành những dạng hoạt 
động khác.
Trò chơi học tập như là một dạng hoạt động mang tính thực hành, trong 
đó  trẻ  vận  dụng  vốn  hiểu  biết  và  khả  năng  tư  duy  của  mình  đề  giải  quyết 
nhiệm vụ nhận thức. Trò chơi học tập tạo nên những hoàn cảnh sinh động đòi 
hỏi trẻ vận dụng tri thức một cách đa dạng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ. 
Trò chơi học tập là trò chơi đòi hỏi sự tư duy và khả năng khái quát hóa 
của trẻ. Các trò chơi học tập không chỉ giúp trẻ học được cách sử dụng các 
giác quan mà còn giúp trẻ trau dồi các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so 
sánh ... và đặc biệt là khái quát hóa. 
Để  thực  hiện  các  hành  động  chơi  giải  quyết  nhiệm  vụ  chơi  trẻ  phải  sử 
dụng các giác quan, ngôn ngữ, phải phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và 
khái quát hóa, làm cho các giác quan của trẻ trở lên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ 
mạch lạc hơn, từ duy trực quan ­ hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí 
tuệ không ngừng được phát triển và tình cảm trí tuệ được hình thành. Đồng 
thời quan trò chơi học tập, trẻ tiếp thu, lĩnh hội và khắ sâu được nhiều tri thức, 
khái niệm đơn giản, biểu tượng về thế giới xung quanh có hệ thống và khái 
quát hơn. Trên cơ sở đó, những phẩm chất cần thiết cho trẻ được hình thành 
như: nhanh trí, linh hoạt, sáng tạo ... 
Trò chơi học tập còn ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi có chủ định 
vì kết quả của trò chơi phụ thuộc vào tính chính xác của việc chấp hành luật lệ 

số phẩm chất đạo đức cho trẻ như tính thật thà, tổ chức, tính tự lực...


19
1.3.2. Khả năng khái quát hóa của trẻ 5, 6 tuổi qua trò chơi học tập
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học, trẻ từ 1,5 ­ 2 tuổi đã có 
khả năng khái quát hóa vì lúc này tư duy đã bắt đầu phát triển. 
Đối với trẻ 2 ­ 3 tuổi sự khái quát ban đầu của trẻ mang nét độc đáo riêng 
biệt. Đó là trẻ khái quát những điểm giống nhau bên ngoài dễ đập vào mắt của 
đối tượng và khái quát bằng hành động. Lúc này trẻ chưa có khả năng khái 
quát những dấu hiệu bên trong và bản chất.
Đến 4 ­ 5 tuổi trẻ bắt đầu quan tâm đến những thuộc tính bên trong bản 
chất của sự vật hiện tượng cùng với sự phát triển tư duy trực quan, hình ảnh, 
trẻ có thể khái quát dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau về công dụng, 
chức  năng  bên  trong  của  đối  tượng  thông  qua  các  hình  ảnh  mà  trẻ  tri  giác 
được. Ở giai đoạn này khả năng khái quát hóa của trẻ nhanh và mạnh, có thể 
khái quát sự vật hiện tượng dựa vào những dấu hiệu bên trong và khái quát 
một cách sáng tạo theo nhiều cách khác nhau của cùng một đối tượng. 
Giai đoạn 5 ­ 6 tuổi trẻ đã có thể khái quát sự vật, hiện tượng dựa vào 
những dấu hiệu bản chất bên trong và khái quát một cách sáng tạo. Trong thời 
kỳ này ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, trẻ cũng bắt đầu khái quát hóa bằng lời, 
trẻ giải thích được sự sắp xếp và biết dùng từ để đặt tên cho nhóm. Ở đây, trẻ 
đã đạt được mức độ khái quát hóa cao hơn, sự phân tích ­ tổng hợp, so sánh 
những sự vật trẻ quan sát được, trẻ rút ra những dấu hiệu bản chất bên trong, 
từ đó khái quát theo kinh nghiệm sống của mình.
Sự  hình  thành  khái  quát  hóa  có  liên  quan  trực  tiếp  đến  ngôn  ngữ  ­  hệ 
thống tín hiệu thứ hai. Một khi trẻ sử dụng lời nói và cách diễn đạt mà người 
lớn nói về các đồ vật và hành động thì lúc đó ở trẻ hình thành khả năng khái 
quát hóa bằng lời. Khi trẻ khái quát hóa bằng lời, các thuộc tính chung của sự 
vật,  hiện  tượng  biến  thành  nghĩa  của  từ.  Trẻ  lĩnh  hội  khái  niệm  khi  lĩnh  ý 

trực tiếpgiới thiệu và hướng dẫn cách làm đồ chơi cho trẻ.


21
Trẻ mạnh dạn, tự tin, thông minh và thích tham gia vào các trò chơi đặc 
biệt  là  trò  chơi  học  tập,  thích  tự  tìm  tòi,  khám  phá  loại  đồ  chơi  học  tập  mà 
mình yêu thích.
* Những khó khăn trong quá trình thực hiện ở trường mầm non:
Cách  tổ  chức  cho  trẻ  chơi  trò  chơi  học  tập  còn  chưa  linh  hoạt,  sáng 
tạo, lúng túng khi làm người chỉ đạo một số trò chơi giáo viên không biết 
cách chơi. 
Mức  đồ  chơi  của  trò  chơi  học  tập  là  không  giống  nhau,  có  trò  chơi  rất 
đơn giản, nhưng lại có trò chơi rất phức tạp đối với người chơi phải có tư duy 
cao. 
Các trò chơi, đồ chơi được sử dụng chủ yếu là lồng ghép các hoạt động 
với nhau. 
Gia đình của trẻ do quá bận rộn với công việc nên không có thời gian để 
có thể hướng dẫn cho trẻ chơi trò chơi học tập.
Không  gian  để  trẻ  chơi  còn  quá  bó  hẹp  nên  trẻ  không  có  điều  kiện  để 
chơi trò chơi và tiếp xúc với đồ chơi học tập.
2.1.2. Thực trạng vận dụng trò chơi và đồ chơi học tập cho trẻ lớp 5 ­ 
6 tuổi trường mầm non Hùng Vương
* Nghiên cứu thực trạng phương pháp hướng dẫn của giáo viên:
Mức  độ  sử  dụng  các  phương  pháp,  biện  pháp  của  giáo  viên  trong  quá 
trình tổ chức chơi trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho 
trẻ, trên 45 giáo viên trường mầm non Hùng Vương (phiếu thăm dò ở phần 
phụ lục 1):
­ Phương pháp quan sát: 
+ Cho trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng tự nhiên:
 Thường xuyên sử dụng: 27 chiếm 60%

 Không sử dụng: 37 chiếm 82%

­ Phương pháp dùng lời:
+ Dùng hệ thống câu hỏi:
 Thường xuyên sử dụng: 12 chiếm 27%
 Ít sử dụng: 32 chiếm 71%
 Không sử dụng: 1 chiếm 2%


23
+ Chỉ dẫn trực quan
 Thường xuyên sử dụng: 16 chiếm 36%
 Ít sử dụng: 27 chiếm 60%
 Không sử dụng: 2 chiếm 4%

Quan  kết  quả  trên  cho  thấy  giáo  viên  sử  dụng  khá  phong  phú  các  biện 
pháp dạy trẻ chơi trò chơi học tập. Tuy nhiên phương pháp sử dụng trò chơi 
kích thích khả năng tư duy khái quát hóa cho trẻ còn hạn chế do giáo viên còn 
gặp khó khăn khi thiết kế trò chơi. Do đó, việc nâng cao tính tích cực, sáng 
tạo, khái quát hóa cho trẻ cũng gặp khó khăn.
* Kết quả điều tra trên giáo viên mầm non:
Mức độ nội dung giáo viên thường trú trọng trong quá trình tổ chức trò 
chơi học tập cho trẻ.
Mức  độ  làm  đồ  chơi  của  45  giáo  viên  trường  màm  non  Hùng  Vương 
được thể hiện qua bảng sau:
Mức độ làm đồ 

Theo năm

Theo tháng

Biểu đồ thể hiện mức độ làm đồ chơi của giáo viên trường mầm non 
Hùng Vương (theo tỉ lệ %)

Hàng tháng
Hàng năm
Hàng tuần
Theo chủ đề

­ Gây hứng thú, thu hút trẻ vào hoạt động chơi. 
 Rất chú trọng: 8 chiếm 18%
 Chú trọng: 21 chiếm 47%
 Ít chú trọng: 11 chiếm 24%
 Không chú trọng: 5 chiếm 11%

­ Hình thành và phát triển kỹ năng chơi cho trẻ:
 Rất chú trọng: 6 chiếm 13%
 Chú trọng: 16 chiếm 36%
 Ít chú trọng: 20 chiếm 44%
 Không chú trọng: 3 chiếm 7%

­ Nâng cao tính tích cực và khả năng khái quát hóa cho trẻ:
 Rất chú trọng: 4 chiếm 9%
 Chú trọng: 17 chiếm 38%
 Ít chú trọng: 20 chiếm 44%


25
 Không chú trọng: 4 chiếm 9%

­ Quan tâm giúp trẻ đạt kết quả sau mỗi hoạt động chơi:




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status