1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, loài người sẽ sống trong nền văn minh công nghệ hiện đại,
sự hùng mạnh của xã nước là do tiềm năng trí tuệ quyết định trước tiên. Giáo
dục năng lực trí tuệ đang là một trong những xu hướng xây dựng chiến lược
giáo dục của nhiều nước trên thế giới. Giáo dục mầm non đặt nền móng ban
đầu cho cả quá trình phát triển sau này của con người trong đó có sự phát
triển trí tuệ nhằm chuẩn bị cho trẻ vào học ở trường phổ thông và trở thành
những chủ nhân tương lai của đất nước. Sự phát triển tư duy là một trong
những vấn đề chủ yếu của giáo dục trí tuệ. Do đó, việc hình thành và phát
triển năng lực tư duy mà cốt lõi của nó hình thành và phát triển năng lực khái
quát hóa cho trẻ Năng lực đặc thù của tư duy con người là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non nói riêng và giáo dục nhà trường
nói chung.
Khái quát hóa được hình thành và phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo
thông qua hoạt động của bản thân đứa trẻ trong đó vui chơi là hoạt động chủ
đạo và đóng vai trò quan trọng. Kết quả của việc lĩnh hội tri thức dưới dạng
biểu tượng chung, ký hiệu, ngôn ngữ, khái niệm phụ thuộc rất nhiều vào khả
năng khái quát hóa của cá nhân trẻ.
Trò chơi học tập tạo khả năng thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua hình thức
và sự hấp dẫn đối với trẻ. Nó là một phương tiện có hiệu quả để hình thành và
phát triển các năng lực trí tuệ. Việc sử dụng các đồ chơi, trò chơi học tập
nhằm trau dồi các thao tác tư duy, đặc biệt là khái quát hóa và ngôn ngữ cho
trẻ là hết sức cần thiết.
Trên thực tế, trò chơi học tập được sử dụng chủ yếu nhằm củng cố kiến
thức mà chưa thực sự được quan tâm về khía cạnh phát triển tư duy. Ở nhiều
2
trường mầm non việc tổ chức trò chơi học tập còn nghèo nàn. Cô giáo chưa
nhau trong hoạt động trí tuệ.
Nhà tâm lí học L.X Vugotxki, A.N. Leonchev và P.Ia: Thuyết hình thành
các thao tác trí tuệ: Quá trình chuyển từ bên ngoài vào bên trong của các thao
tác tư duy.
2.2. Ở Việt Nam
Đồ chơi và trò chơi học tập rất phong phú và đa dạng. Ta có thể bắt gặp
rất nhiều đồ chơi và trò chơi học tập ở tất cả các trường mầm non. Nhận thấy
được tầm quan trọng của đồ chơi, trò chơi học tập đối với trẻ, bộ môn đồ chơi
trẻ em đã được đưa vào hệ sư phạm giáo dục mầm non từ bậc Trung cấp
Cao đẳng Đại học. Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về sự phát
triển khả năng tư duy cho trẻ thông qua đồ chơi, trò chơi như: Nguyễn Ánh
Tuyết –“ Trò chơi phát triển tư duy cho trẻ từ 36 tuổi”, Nguyễn Ánh Tuyết –
“Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông”, Đỗ Thị Minh Liên – “Phát
triển khả năng tư duy cho trẻ mẫu giáo”. Đây là những đề tài khoa học có tính
phổ quát phạm vi nghiên cứu nói cung về giáo dục mầm non. Tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu về thực trạng sử dụng trò chơi, đồ chơi, cũng
như vận dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ
5, 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đề tài: "Phát triển khả năng khái quát hóa
cho trẻ 5 6 trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc
qua trò chơi, đồ chơi học tập" với hi vọng góp một phần nhỏ trong việc tìm ra
biện pháp phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi )
một cách có hiệu quả nhất.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài "Phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5 6 trường
mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc qua trò chơi, đồ
4
chơi học tập" nhằm tìm ra các phương pháp phát triển khả năng khái quát hóa
Các biện pháp phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớp 5,
6 tuổi A2 trường mầm non Hùng Vương, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc
thông qua đồ chơi, trò chơi học tập.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về cơ sở
phương pháp luận, những tài liệu giáo trình tâm lí học, giáo dục học, các công
trình nghiên cứu thực tiễn đã công bố....nhằm làm rõ cơ sở lí luận liên quan
đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các đồ chơi, trò chơi giúp trẻ phát triển tư duy nói chung và khả
năng khái quát hóa nói riêng.
Quan sát các tiết học thể hiện khả năng khái quát hóa của trẻ 5,6 tuổi qua
trò chơi học tập và quan sát việc tổ chức của giáo viên trong tổ chức các trò
chơi học tập cho trẻ theo các tiêu chí đã đưa ra. Đồng thời thu thập một số
thông tin liên quan đến việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. những thông tin
thu được sẽ bổ sung cho các phương pháp khác giúp làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
7.2.2 Phương pháp điều tra trực tiếp
Dùng phiếu câu hỏi đối với 45 giáo viên đứng lớp trường mầm non
Hùng Vương để tìm hiểu thêm thông tin về nhận thức và việc tổ chức, hướng
dẫn, đánh giá trẻ qua khả năng khái quát hóa thông qua đồ chơi, trò chơi học
tập theo định hướng của giáo viên.
7.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm
Thông qua việc thu nhận và tìm hiểu về khả năng khái quát hóa của trẻ 5,
6 tuổi qua trò chơi học tập của trẻ có thể đánh giá được nội dung ý tưởng vốn
hiểu biết và kinh nghiệm, khả năng tưởng tượng, tư duy lôgic của trẻ.
Tuy nhiên, mỗi trẻ lại có ý muốn và khả năng thể hiện khác nhau qua sản
phẩm nên cần kết hợp đánh giá sản phẩm với đánh giá qua ý tưởng tiến trình
Phụ lục 1
Phụ lục 2
7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ VÀ KHẢ NĂNG KHÁI QUÁT HÓA CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý
1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý
Nhà tâm lý học V.X. Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lý học trẻ
em và đã đưa ra kết luận: Độ tuổi mẫu giáo lớn 5 6 tuổi là giai đoạn cuối
cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non”. Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc
trưng của con người đã được hình thành.
Các nhà sinh lý và giải phẫu học đã chứng minh cơ sở vật chất của đời
sống trẻ phụ thuộc vào bộ não và hoạt động thần kinh cao cấp:
Não Sự hoạt động của điện não ở trẻ 56 tuổi là thời kỳ phát triển nhanh rõ
nhất trong cả đời người. Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành.
Song trẻ ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần
kinh chưa ổn định, nên nếu trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài sẽ dễ bị mệt
mỏi. Tròn 6 tuổi, não của trẻ đạt khoảng 1,3g gần như người lớn, sự biệt hóa
và tăng trưởng não bộ đả hoàn thành.
Thần kinh: Đây là thời kỳ não phát triển nhanh và rõ nhất trong đời người.
Song trẻ ở lứa tuổi này, công năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa
cân bằng, nên nếu để bé làm việc gì đơn thuần kéo dài dễ gây mệt mỏi.
Khả năng tự kiềm chế, điều tiết còn kém, khi trẻ hưng phấn làm một việc
gì đó thì rất tập trung, quên ăn quên ngủ. Cho nên không được để trẻ kéo dài
thời gian hưng phấn, nhằm tránh gây mệt mỏi cho trẻ.
hỏi, thích tự làm việc, ham chơi hơn ăn.
9
Đây là thời kỳ bộc lộ tính nhậy cảm cao nhất đối với các hiện tượng
ngôn ngữ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh. Trẻ đã sử
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong ngôn ngữ hàng ngày.
Trẻ đã có sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động
tâm lí. Trẻ biết đánh giá bản thân mình và đánh giá người khác. Tuy nhiên
đánh giá còn mang tính chủ quan có sự chi phối nhiều của tình cảm. Trẻ nắm
được kỹ năng so sánh mình với người khác điều này là cơ sở để trẻ đánh giá
một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương người tốt, việc tốt.
Sự chú ý, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn càng có tính chủ định nhiều hơn, việc
đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường
được thể hiện rõ nét.
Đến 5 6 tuổi các hình thức tư duy đã được hình thành, lúc này tư duy
trực quan hình tượng là loại tư duy cơ bản của trẻ. Đó là loại tư duy mà việc
giải quyết nhiệm vụ được thực hiện dựa vào các hình ảnh có trong kinh
nghiệm. Trong quá trình phát triển trí tuệ của trẻ có sự tác động lẫn nhau một
cách chặt chẽ của ba hình thức tư duy cơ bản: Tư duy trực quan hành động,
tư duy trực quan hình tượng và tư duy logic. Khi trẻ tham gia vào các trò
chơi và hành động với đồ vật, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có
chủ định tập trung hơn và ghi nhớ được nhiều hơn, trẻ học suy nghĩ về đối
tượng thật. Dần dần những hành động chơi của trẻ với đồ vật được rút ngắn
và mang tính khái quát. Các tình huống xảy ra trong khi chơi được giải quyết
bằng các biểu tượng đã được ghi nhớ trong đầu. Hoạt động chơi của trẻ là một
hoạt động không mang tính chất bắt buộc như hoạt động học tập, trẻ tham gia
chơi không vì một lợi ích thiết thực nào, trẻ chơi để thỏa mãn sự tò mò, để
cho vui.
Tóm lại, tâm lý của trẻ lứa tuổi mầm non chịu ảnh hưởng sâu sắc và tác
Ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với con người. Chức năng khái quát hóa
của ngôn ngữ biểu hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ngôn
11
ngữ là hình thức tồn tại của tư tưởng, ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng
không đồng nhất với nhau cũng không tách rời nhau. Nhờ đó "Tư duy trở thành
tư duy ngôn ngữ, còn ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ trí tuệ" theo C.Mac. Cái
chung được khái quát hóa phản ánh thường được ký hiệu bằng từ ngữ và gắn
bó với các sự vật, hiện tượng có cái chung đó. Do đó không có ngôn ngữ thì
không thể có tư duy khái quát, khái quát hóa là sản phẩm của tư duy ngôn ngữ.
V.X.Mukhina xác định: “ Cơ sở của các khái quát hóa là sự lĩnh hội
ngôn ngữ vì nghĩa của các từ mà người lớn dạy trẻ hiểu và sử dụng luôn luôn
chứa đựng sự khái quát”.
Tóm lại, khái quát hóa là hình thức phản ánh những dấu hiệu chung,
những mối liên hệ chung của các sự vật hiện tượng. Nó có thể được xem như
là thao tác cơ bản của tư duy đồng thời được xem như là sản phẩm của tư duy
ngôn ngữ.
1.1.2.2. Nhận thức và khả năng khái quát hóa của trẻ em 5 6 tuổi
Các công trình tâm lý học nghiên cứu về tư duy cho thấy: Khái quát hóa
của trẻ được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển các
hình thức tư duy khác nhau, đặc biệt liên quan trực tiếp và chặt chẽ với sự
phát triển ngôn ngữ.
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ đã có khả năng khái quát hóa sơ đẳng các sự vật
hiện tượng dựa trên kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của trẻ và được củng cố
bằng từ ngữ. Tuy nhiên, sự khái quát đó còn có tính phiếm hóa nhanh. Tư duy
của trẻ còn mang nặng màu sắc, trực quan, cảm tính nên những dấu hiệu làm
cơ sở để trẻ hợp nhất các đối tượng khác nhau thường là những dấu hiệu gây
ấn tượng mạnh mẽ đập ngay vào mắt khái quát của trẻ chủ yếu dựa vào sự
giống nhau bên ngoài giữa các sự vật và hiện tượng.Ở tuổi mẫu giáo phương
học tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức
13
tổ chức và luyện tập cho trẻ, không tính đến nội dung và tính chất của trò
chơi, đều gọi là trò chơi học tập hay còn gọi là trò chơi dạy học.
Trò chơi học tập còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối
với sự phát triển của trẻ, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó
vào mục đích giáo dục và dạy học. Quan niệm này được thừa nhận trong tổ
chức hoạt động chơi cho trẻ trong giáo dục học Xô Viết trước đây và trong
trường mầm non hiện nay.
Trò chơi học tập có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những
trò chơi của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho
đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức
đó để dạy con. Những trò chơi đó có chứa đựng những yếu tố dạy học.
Trò chơi học tập là những trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát
triển của trẻ, giúp các nhà giáo dục sử dụng được lợi thế của trò chơi có luật
vào mục đích giáo dục trí tuệ cho trẻ.
Trò chơi học tập ở mấu giáo vô cùng phong phú và đa dạng nên có thể
phân loại theo nhiều cách khác nhau:
Dựa vào đặc điểm của các vật liệu chơi, đồ chơi được sử dụng trong
trò chơi:
+ Trò chơi học tập với các đồ vật (đồ chơi, đồ dùng, nguyên vật liệu
thiên nhiên, phế liệu…..).
+ Trò chơi học tập với các tranh in ấn: Trò chơi lô tô; trò chơi đôminô,
trò chơi chắp ghép tranh…..
+ Trò chơi học tập bằng lời.
Dựa trên phương diện phát triển các chức năng tâm lí cho trẻ:
+ Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan.
+ Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy.
15
Tên gọi của mỗi trò chơi học tập thường phản ánh nội dung chơi và
khêu gợi hứng thú của trẻ đến với trò chơi.
Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả nhất định ở phần kết thúc trò
chơi. Kết quả của trò chơi học tập là thể hiện sự cố gắng của trẻ trong suy
nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, trong việc nắm kiến thức và trong tính cộng đồng của
nhóm trẻ.
Trong trò chơi học tập vị thế của mọi trẻ tham gia trò chơi đều ngang
nhau (trong trò chơi đóng vai theo chủ đề vị trí của trẻ khác nhau do vai chơi
quy định, những trẻ tích cực thường đóng vai chính).
Trong trò chơi học tập các hành động và các mối quan hệ của các người
chơi được chỉ đạo bởi các luật lệ trò chơi. Trong trò chơi học tập được kiểm tra
lẫn nhau rõ ràng và có hiệu quả thông qua luật chơi được quy định rõ ràng.
Trò chơi học tập đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc làm việc thực sự trong
khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức, thực hiện luật chơi thông qua hình thức
chơi vui vẻ, hấp dẫn thừa sức. Chính điều đó làm cho trò chơi học tập có ý
nghĩa to lớn đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Trò chơi học tập là một phương tiện giáo dục dạy học liên hệ mật
thiết với các phương tiện giáo dục khác và được áp dụng trong toàn bộ hệ
thống tác động đến trẻ. Trò chơi học tập có tác dụng đẩy mạnh việc dạy học
nhưng nó không thực hiện được việc dạy học có hệ thống.
Trò chơi học tập có chứa đựng các yếu tố dạy học, đẩy mạnh sự phát
triển năng lực trí tuệ, tạo cơ hội cho trẻ sử dụng những kiến thức của mình
trong điều kiện mới hoặc đặt ra cho trẻ những tình huống đòi hỏi trẻ phải thể
hiện những hình thức hoạt động trí tuệ muôn màu muôn vẻ, nhờ đó những
hình thức hoạt động ấy được phát triển.
1.2.5. Mối liên hệ giữa đồ chơi học tập và trò chơi học tập
17
1.3. ĐỒ CHƠI, TRÒ CHƠI HỌC TẬP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG KHÁI
QUÁT HÓA CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.3.1. Trò chơi và đồ chơi học tập trong giáo dục mầm non
Trò chơi và đồ chơi học tập đóng một vị trí hết sức quan trọng trong việc
phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. Trong giáo dục mầm non, trò chơi và
đồ chơi học tập được coi là tiền đề quan trọng để hình thành những dạng hoạt
động khác.
Trò chơi học tập như là một dạng hoạt động mang tính thực hành, trong
đó trẻ vận dụng vốn hiểu biết và khả năng tư duy của mình đề giải quyết
nhiệm vụ nhận thức. Trò chơi học tập tạo nên những hoàn cảnh sinh động đòi
hỏi trẻ vận dụng tri thức một cách đa dạng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ.
Trò chơi học tập là trò chơi đòi hỏi sự tư duy và khả năng khái quát hóa
của trẻ. Các trò chơi học tập không chỉ giúp trẻ học được cách sử dụng các
giác quan mà còn giúp trẻ trau dồi các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so
sánh ... và đặc biệt là khái quát hóa.
Để thực hiện các hành động chơi giải quyết nhiệm vụ chơi trẻ phải sử
dụng các giác quan, ngôn ngữ, phải phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và
khái quát hóa, làm cho các giác quan của trẻ trở lên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ
mạch lạc hơn, từ duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí
tuệ không ngừng được phát triển và tình cảm trí tuệ được hình thành. Đồng
thời quan trò chơi học tập, trẻ tiếp thu, lĩnh hội và khắ sâu được nhiều tri thức,
khái niệm đơn giản, biểu tượng về thế giới xung quanh có hệ thống và khái
quát hơn. Trên cơ sở đó, những phẩm chất cần thiết cho trẻ được hình thành
như: nhanh trí, linh hoạt, sáng tạo ...
Trò chơi học tập còn ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi có chủ định
vì kết quả của trò chơi phụ thuộc vào tính chính xác của việc chấp hành luật lệ
số phẩm chất đạo đức cho trẻ như tính thật thà, tổ chức, tính tự lực...
19
1.3.2. Khả năng khái quát hóa của trẻ 5, 6 tuổi qua trò chơi học tập
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học, trẻ từ 1,5 2 tuổi đã có
khả năng khái quát hóa vì lúc này tư duy đã bắt đầu phát triển.
Đối với trẻ 2 3 tuổi sự khái quát ban đầu của trẻ mang nét độc đáo riêng
biệt. Đó là trẻ khái quát những điểm giống nhau bên ngoài dễ đập vào mắt của
đối tượng và khái quát bằng hành động. Lúc này trẻ chưa có khả năng khái
quát những dấu hiệu bên trong và bản chất.
Đến 4 5 tuổi trẻ bắt đầu quan tâm đến những thuộc tính bên trong bản
chất của sự vật hiện tượng cùng với sự phát triển tư duy trực quan, hình ảnh,
trẻ có thể khái quát dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau về công dụng,
chức năng bên trong của đối tượng thông qua các hình ảnh mà trẻ tri giác
được. Ở giai đoạn này khả năng khái quát hóa của trẻ nhanh và mạnh, có thể
khái quát sự vật hiện tượng dựa vào những dấu hiệu bên trong và khái quát
một cách sáng tạo theo nhiều cách khác nhau của cùng một đối tượng.
Giai đoạn 5 6 tuổi trẻ đã có thể khái quát sự vật, hiện tượng dựa vào
những dấu hiệu bản chất bên trong và khái quát một cách sáng tạo. Trong thời
kỳ này ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, trẻ cũng bắt đầu khái quát hóa bằng lời,
trẻ giải thích được sự sắp xếp và biết dùng từ để đặt tên cho nhóm. Ở đây, trẻ
đã đạt được mức độ khái quát hóa cao hơn, sự phân tích tổng hợp, so sánh
những sự vật trẻ quan sát được, trẻ rút ra những dấu hiệu bản chất bên trong,
từ đó khái quát theo kinh nghiệm sống của mình.
Sự hình thành khái quát hóa có liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ hệ
thống tín hiệu thứ hai. Một khi trẻ sử dụng lời nói và cách diễn đạt mà người
lớn nói về các đồ vật và hành động thì lúc đó ở trẻ hình thành khả năng khái
quát hóa bằng lời. Khi trẻ khái quát hóa bằng lời, các thuộc tính chung của sự
vật, hiện tượng biến thành nghĩa của từ. Trẻ lĩnh hội khái niệm khi lĩnh ý
trực tiếpgiới thiệu và hướng dẫn cách làm đồ chơi cho trẻ.
21
Trẻ mạnh dạn, tự tin, thông minh và thích tham gia vào các trò chơi đặc
biệt là trò chơi học tập, thích tự tìm tòi, khám phá loại đồ chơi học tập mà
mình yêu thích.
* Những khó khăn trong quá trình thực hiện ở trường mầm non:
Cách tổ chức cho trẻ chơi trò chơi học tập còn chưa linh hoạt, sáng
tạo, lúng túng khi làm người chỉ đạo một số trò chơi giáo viên không biết
cách chơi.
Mức đồ chơi của trò chơi học tập là không giống nhau, có trò chơi rất
đơn giản, nhưng lại có trò chơi rất phức tạp đối với người chơi phải có tư duy
cao.
Các trò chơi, đồ chơi được sử dụng chủ yếu là lồng ghép các hoạt động
với nhau.
Gia đình của trẻ do quá bận rộn với công việc nên không có thời gian để
có thể hướng dẫn cho trẻ chơi trò chơi học tập.
Không gian để trẻ chơi còn quá bó hẹp nên trẻ không có điều kiện để
chơi trò chơi và tiếp xúc với đồ chơi học tập.
2.1.2. Thực trạng vận dụng trò chơi và đồ chơi học tập cho trẻ lớp 5
6 tuổi trường mầm non Hùng Vương
* Nghiên cứu thực trạng phương pháp hướng dẫn của giáo viên:
Mức độ sử dụng các phương pháp, biện pháp của giáo viên trong quá
trình tổ chức chơi trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho
trẻ, trên 45 giáo viên trường mầm non Hùng Vương (phiếu thăm dò ở phần
phụ lục 1):
Phương pháp quan sát:
+ Cho trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng tự nhiên:
Thường xuyên sử dụng: 27 chiếm 60%
Không sử dụng: 37 chiếm 82%
Phương pháp dùng lời:
+ Dùng hệ thống câu hỏi:
Thường xuyên sử dụng: 12 chiếm 27%
Ít sử dụng: 32 chiếm 71%
Không sử dụng: 1 chiếm 2%
23
+ Chỉ dẫn trực quan
Thường xuyên sử dụng: 16 chiếm 36%
Ít sử dụng: 27 chiếm 60%
Không sử dụng: 2 chiếm 4%
Quan kết quả trên cho thấy giáo viên sử dụng khá phong phú các biện
pháp dạy trẻ chơi trò chơi học tập. Tuy nhiên phương pháp sử dụng trò chơi
kích thích khả năng tư duy khái quát hóa cho trẻ còn hạn chế do giáo viên còn
gặp khó khăn khi thiết kế trò chơi. Do đó, việc nâng cao tính tích cực, sáng
tạo, khái quát hóa cho trẻ cũng gặp khó khăn.
* Kết quả điều tra trên giáo viên mầm non:
Mức độ nội dung giáo viên thường trú trọng trong quá trình tổ chức trò
chơi học tập cho trẻ.
Mức độ làm đồ chơi của 45 giáo viên trường màm non Hùng Vương
được thể hiện qua bảng sau:
Mức độ làm đồ
Theo năm
Theo tháng
Biểu đồ thể hiện mức độ làm đồ chơi của giáo viên trường mầm non
Hùng Vương (theo tỉ lệ %)
Hàng tháng
Hàng năm
Hàng tuần
Theo chủ đề
Gây hứng thú, thu hút trẻ vào hoạt động chơi.
Rất chú trọng: 8 chiếm 18%
Chú trọng: 21 chiếm 47%
Ít chú trọng: 11 chiếm 24%
Không chú trọng: 5 chiếm 11%
Hình thành và phát triển kỹ năng chơi cho trẻ:
Rất chú trọng: 6 chiếm 13%
Chú trọng: 16 chiếm 36%
Ít chú trọng: 20 chiếm 44%
Không chú trọng: 3 chiếm 7%
Nâng cao tính tích cực và khả năng khái quát hóa cho trẻ:
Rất chú trọng: 4 chiếm 9%
Chú trọng: 17 chiếm 38%
Ít chú trọng: 20 chiếm 44%
25
Không chú trọng: 4 chiếm 9%
Quan tâm giúp trẻ đạt kết quả sau mỗi hoạt động chơi: