Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non phúc thắng phúc yên vĩnh phúc - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐINH THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU
GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON PHÚC
THẮNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐINH THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU
GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON PHÚC
THẮNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học

Th.S NGUYỄN THỊ HÀ


Trang
27

Kết quả phỏng vấn GV về việc lựa chọn một số TCVĐ
Bảng 3.1

nhằm phát triển thể lực cho trẻ

41

Bảng phỏng vấn test lựa chọn các TCVĐ trong môn học
Bảng 3.2

GDTC của trường mầm non Phúc Thắng

44

Bảng tiến trình giảng dạy TCVĐ trong trường mầm non
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Biểu đồ 1

Phúc Thắng
Kết quả kiểm tra của 2 nhóm trước thực nghiệm (nA = nB = 20)
Kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm (nA = nB = 20)

46
47



GDTC

: Giáo dục thể chất

GV

: Giáo viên

GVMN

: Giáo viên mầm non

TCVĐ

: Trò chơi vận động

NĐC

: Nhóm đối chứng

NTN

: Nhóm thực nghiệm


6

ĐẶT VẤN ĐỀ
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì

nữa, GDTC cho trẻ mầm non càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi cơ thể trẻ
đang phát triển khỏe mạnh, hệ thần kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy
hô hấp đang hoàn thiện. Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất
cân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể gây nên
những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được.
Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã
đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên
trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, tình hình sức khoẻ còn
nhiều vấn đề đáng lo ngại. Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng,
các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường ruột, các điều kiện đảm bảo và chăm
sóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn. Cơ sở vật chất ở các trường và các
gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt,
học tập. Vì vậy, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một cách
mạnh mẽ toàn diện, cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều
kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất.
Vì thế, chúng tôi rất quan tâm tới vấn đề GDTC cho trẻ nên chúng tôi
chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức
giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Phúc Thắng - Phúc
Yên - Vĩnh Phúc.
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng tổ chức GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức GDTC trong nhà
trường mầm non.
* Giả thiết khoa học
Các giải pháp đã được lựa chọn, áp dụng trong việc tổ chức hoạt động
GDTC cho trẻ mầm non sẽ có giá trị lớn trong nhiệm vụ phát triển thể chất cho trẻ
em, góp phần bổ sung lượng kiến thưc không ngừng phát triển GDMN.


8


10

chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” - bắt chước của
loài vật như đi, chạy, nhảy... Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai
trò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người
khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm
thoả mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan đến
yêu cầu xã hội. Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và
giáo dục và cả nội dung của giáo dục.
Các nhà lý luận duy vật cho rằng, GDTC là một hiện tượng xã hội, là
phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nâng cao thể chất, đồng thời tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng định rằng, chỉ
khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm phát triển cơ
thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định, thì lúc đó mới
có GDTC thực sự.
Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người cho rằng, con
người phải được phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đã xuất hiện trong
kho tàng văn hoá chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.
Từ nhà triết học cổ đại Hi Lạp Aristôt (384 - 322 tr.CN), những người
theo chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như: Moongtenghơ (1533 - 1592),
những người theo chủ nghĩa không tưởng như: Saint - Simon (1760 - 1825),
Robert Owen (1771 - 1858), đến những nhà bác học và giáo dục nổi tiến của
Nga như: M.V.Lômônxốp (1771 - 1765), V.G.Belinxki (1811 - 1848),
K.Đ.Usinxki (1824 - 1870), N.G.Strecnưsépxki (1828 - 1889), P.Ph.Lexgáp
(1837 - 1909) và nhiều người khác nữa, đã phát triển bảo vệ tư tưởng của học
thuyết về sự phát triển hài hoà giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người.
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử của chế độ ấy,
thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp nhưng
không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực.

em, nhưng quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm


12

sóc và giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ,
trong đó GDTC là một bộ phận của giáo dục phát triển toàn diện.
1.1.2.2. Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tự nhiên của lý luận GDTC là toàn bộ các môn khoa
học mà nhiệm vụ của chúng là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học
của con người. Những kiến thức về đặc điểm giải phẫu sinh lý, vệ sinh trẻ em
giúp cho việc bảo vệ sức khỏe của trẻ, việc tổ chức sinh hoạt hợp lý và hoạt
động vận động của các em. Những kiến thức khoa học này được xây dựng
trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênốp (1829 1905), I.P.Paplốp (1849 - 1936) và những người kế tục.
Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết về sự thống nhất giữa cơ thể và
môi trường, học thuyết về mối quan hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện
và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hệ thần kinh cao cấp.
1.2. Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí
quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người, nhà giáo
dục học người Nga, Makarenko đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc giáo
dục trẻ đã được hình thành trước tuổi lên năm. Những điều dạy trẻ trong thời
kì đó, chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ về sau, việc giáo dục đào tạo con
người vẫn tiếp tục, nhưng lúc đó bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa đã được
vun trồng trong những năm đầu tiên.”[8]. Điều đó cho thấy rằng: Việc nuôi
dạy “con người” bắt đầu từ những năm đầu của cuộc sống là một việc làm hết
sức quan trọng và có ý nghĩa lớn lao về nhân văn, xã hội và kinh tế, nhưng lại
vô cùng vất vả và khó khăn.[2].
1.2.1. Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí

chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi
một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại.
Theo tác giả E.A.Klimov thì “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức
lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết
cho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo cho con người khả năng
lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và
phát triển” [5].
Theo từ điển Tiếng việt, khái niệm nghề nghiệp là: “Công việc chuyên
làm theo sự phân công của xã hội” [9].


16

Từ một khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp là: “Công việc chuyên
làm theo sự phân công lao động của xã hội” [9].
Từ một số khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao
động vừa mang tính xã hội (Sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân
(nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi
hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân. Và bất cứ
nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong đó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề,
kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Những giá trị này
có thể hình thành theo con đường tự phát (tức là do tích luỹ kinh nghiệm
trong quá trình sống với cộng đồng mà có), hoặc theo con đường tự giác (do
được đào tạo trong các cơ sở trường, lớp dài hạn hay ngắn hạn).
Như vậy: Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một
quá trình đào tạo chuyên biệt, có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất
định. Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm
thoả mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội.
1.3.2. Khái quát về nghề sư phạm
Ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người, khi con người chỉ săn bắt

đáo của lao động sư phạm mà không thể nào có được.
Như vậy bất kỳ loại lao động nào, lao động sư phạm là một hoạt động
có mục đích. Lao động sư phạm nhằm giáo dục thế hệ trẻ, hình thành ở họ
những phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu. Lao động sư phạm là quá
trình tác động qua lại giữa người dạy và người học, là quá trình truyền thụ
kinh nghiệm và tri thức của thế hệ trước cho thế hệ sau.
1.4. Đặc điểm hoạt động của nghề giáo viên mầm non
1.4.1. Đội ngũ GVMN
GVMN là những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em trong trường, gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên nhóm, lớp.
Nhiệm vụ của GVMN:
GV trong nhóm, lớp có những nhiệm vụ sau đây:


18

- Thực hiện theo chương trình và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em theo lứa tuổi, thực hiện theo quy chế chuyên môn và chấp hành nội
quy của nhà trường: Các phòng cho lứa tuổi nhà trẻ; các phòng cho lứa tuổi
mẫu giáo; phòng hoạt động âm nhạc; phòng rèn luyện thể chất; hội trường;
văn phòng trường; khối phòng tổ chức ăn; sân vườn; hệ thống cấp thoát nước,
vệ sinh; yêu cầu về thiết kế và xây dựng; trường được xây dựng theo mẫu
thiết kế do Bộ GD & ĐT quy định; nhà phải được xây dựng kiên cố; nhà phải
đảm bảo ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè; có đủ ánh sáng tự nhiên và
thoáng; nền nhà phải lát gạch men.
- Thiết bị đồ dùng, đồ chơi: Trường phải có đủ thiết bị đồ chơi, đồ dung
cá nhân theo quy định của GD & ĐT, đảm bảo yêu cầu của việc nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ. Trường phải có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế,
bổ sung nâng cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi.
1.4.2. Vị trí của người GV trong xã hội hiện đại

1.4.3. Đặc thù lao động của GVMN
Đối tượng lao động trực tiếp của người GVMN là trẻ em từ 0 - 6 tuổi.
Các em có quy luật tâm sinh lí riêng, là lứa tuổi tiềm ẩn những khả năng phát
triển rất lớn. Do đó, thầy giáo phải có tình thương yêu, lòng tin và sự tôn
trọng đối với trẻ em, đối xử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách cư xử,
mềm dẻo nhưng kiên quyết.
Công cụ lao động của người thầy giáo là trí tuệ và phẩm chất của chính
mình. Người thầy giáo dùng trí tuệ của mình để tác động vào đối tượng, dùng
nhân cách đã ổn định của mình tác động lên nhân cách còn đang non trẻ, đang cần
rèn luyện. Công cụ này sẽ tác động có hiệu quả khi thầy có uy tín cao, tức là phẩm
chất và năng lực, đức và tài của thầy cao thì sức thuyết phục học sinh càng lớn.
Lao động của GVMN tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là trang bị cho trẻ
em kĩ năng sống, kĩ năng vận động, khả năng tư duy và nhân cách trước tuổi
ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.


20

Trong bài thơ “Nửa đêm”, Bác Hồ có viết: “Hiền dữ phải đâu là tính
sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Makarenko đã đúc kết: “Không sợ học sinh hỏng mà sợ giáo dục
hỏng”. Suy nghĩ cho thấy con người chỉ sinh ra con người, còn giáo dục mới
sản sinh ra nhân cách. Nói cách khác, lao động của nhà giáo là lao động sản
xuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trị nhân loại. Sản phẩm lao động của nhà
giáo gắn liền với tương lai dân tộc, loài người. Lao động của nhà giáo là tạo
ra sức lao động mới trong từng con người. Nghề dạy học là nghề tái sản xuất,
mở rộng sức lao động.
Khác với GV các bậc học khác, GVMN được đào tạo để giảng dạy toàn
diện các môn học thuộc cấp học, nên họ có tác động cực kì to lớn đến tâm
hồn, nhân cách và trí tuệ của trẻ. Họ vừa là người dạy chữ, dạy kiến thức, dạy

cách của người GV, con người thường xuyên tiếp xúc với trẻ. Ảnh hưởng
nhân cách của GV lên tâm hồn trẻ tạo nên một sức mạnh giáo dục to lớn mà
sách giáo khoa, các lời thuyết giáo đạo đức, khen thưởng và trách phạt không
thể thay thế được” (K.D.Usinxki). Do đó, người GVMN cần có yêu cầu chuẩn
về nghề nghiệp như sau [I.2].
1.5. Nội dung và phương pháp Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo
1.5.1. Nội dung GDMN
Nội dung giáo dục mầm non phải đạt các yêu cầu:
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát
triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ,
mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa các nội dung giáo dục với cuộc
hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng
bước hòa nhập vào cuộc sống.
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe
mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em
biết kính trọng, yêu mến, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.


22

1.5.2. Phương pháp GDMN
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động
chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên,
khích lệ.
- Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếp
thường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó người lớn với trẻ; chú ý
đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho trẻ có
cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được
tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích

về hình thái (chiều ao, cân nặng, vòng đầu...) và chức năng sinh học (nhịp
tim, nhịp hô hấp, huyết áp...) của cơ thể.
Sự phát triển thể chất của trẻ em khác nhau theo từng lứa tuổi và diễn
ra theo quy luật nhất định trong cùng một độ tuổi. Sự phát triển thể chất có
liên quan chặt chẽ tới yếu tố di truyền và môi trường sống của trẻ em. Nó có
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các lĩnh vực phát triển vận động và tinh
thần của trẻ.
- Tuổi nhà trẻ: Trẻ từ 0 - 3 tuổi: Một trong những chỉ số quan trọng của
sự phát triển thể chất là sự tăng cân bình thường. Ngoài ra cần chú ý đến chỉ
số chiều cao, kích thước vòng đầu, mọc răng...Tình trạng các hệ cơ, hệ xương,
hệ thần kinh, các cơ quan nội tạng cũng như sự phát triển tâm lí có ý nghĩa to
lớn đối với sự phát triển cân đối của trẻ.
- Tuổi mẫu giáo: Trẻ từ 3 - 6 tuổi: Đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ tiếp thu
và củng cố các kỹ năng cần thiết. Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như
gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ. Đặc trưng của trẻ em
lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn địnhvà khả năng vận động còn hạn chế.
* Đặc điểm phát triển vận động ở trẻ em
Phát triển vận động của trẻ trong năm đầu
- Giai đoạn từ 1,5 - 3 tháng: Giai đoạn này trẻ đã có thời gian thức sau
khi ăn nên ta có thể áp dụng một số bài tập vận động cho trẻ. Điều kiện cơ


24

bản để phát triển đầy đủ thể lực và thần kinh ở giai đoạn này là tạo cho trẻ có
trạng thái cảm súc tốt. Có thể áp dụng các bài tâp xoa vuốt nhẹ các ngón tay
và chân để giảm trương lực cơ gấp, tăng khả năng duỗi của cơ. Đến cuối
tháng thứ hai sang tháng thứ ba tập cho trẻ biết nâng và giữ đầu cao, có ý
nghĩa lớn cho sự phát triển của não. Sự vân động của đầu làm cho tuần hoàn
tốt hơn, mở rộng sự hiểu biết của trẻ, não nhận thức được nhiều kích thích từ

ý của trẻ đến việc thực hiện bài tập.
Phát triển vận động của trẻ hai tuổi: Sự phát triển vận động diễn ra trên
cơ sở của những vận động tự đi bộ, cảm giác thăng bằng, vận động bò, vận
động lăn và ném. Như vậy, khi trẻ lên hai, đa số các vận động cơ bản đã được
vận động cơ bản đã được hình thành, trừ vận động chạy và nhảy. Khi quan sát
trẻ chơi cho thấy, trẻ có khả năng bắt chước cao và dần dần tự thực hiện động
tác. Khả năng phối hợp vận động của trẻ hai tuổi cũng trở nên rõ rệt hơn.
Phát triển vận động của trẻ ba tuổi: Vai trò điều chỉnh của trẻ ở lứa tuổi
này tốt hơn, các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng, các quá
trình kìm hãm được phát triển. Trẻ có cảm giác thường xuyên đòi hỏi thay đổi
vận động, trẻ không giữ được mình trong tư thế yên tĩnh, cần phải luân phiên
giữa vận động và nghỉ ngơi. Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở
những vận động đi, chạy có cảm giác thăng bằng, vận động nhảy, vận động bò
và ném. Như vậy, để phát triển những vận độngkhác nhau ở trẻ, phải sử dụng
nhiều loại dụng cụ khác nhau ở trẻ, phải sử dụng nhiều loại dụng cụ khác
nhau nhằm gây hứng thú và lòng ham muốn vận động của trẻ.
Phát triển vận động của trẻ bốn tuổi: Tốc độ phát triển thể lực ở lứa
tuổi này chậm hơn so với lứa tuổi trước, nhưng quá trình cốt hoá ở xương
diễn ra nhanh. Khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu, nên nếu vận động
nhiều, nặng thì trẻ nhanh mệt mỏi. Các phản xạ có điều kiện được hình thành
nhanh, song củng cố còn chậm. Vì vậy những thói quen vận động mới được
hình thành không bền vững, dễ sai lệch. Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra
trên cơ sở những vận động đi, chạy và cảm giác thăng bằng, vân động nhảy,
vận động ném, chuyền, bắt, vận động bò, trườn, trèo.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status