MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ
Chí Minh). Người sử dụng ngôn ngữ vì thế phải biết giữ gìn và quý trọng thứ tiếng nói
ấy. Nói cụ thể hơn là chúng ta cần chọn lọc, tập hợp, đúc kết, hệ thống hóa những gì
thực sự có giá trị và luôn luôn rèn luyện thứ ngôn ngữ của chính chúng ta. Có lẽ vì
vậy, công việc rèn luyện ngôn ngữ là một hoạt động hữu ích nhằm hình thành và phát
triển ngôn ngữ văn hóa cho từng thành viên của xã hội.
Hiện nay, việc nói và viết có sự nhầm lẫn âm đầu L/N là một hiện tượng tương
đối phổ biến ở một số thổ ngữ đồng bằng trung du thuộc phương ngữ Bắc bộ. Hiện
tượng này từ lâu đã được coi là một hiện tượng lệch chuẩn trong việc sử dụng ngôn
ngữ của cộng đồng. Nó có ảnh hưởng ít nhiều đến độ rõ ràng của lời nói khi phát ngôn
cũng như trong việc học tiếng nước ngoài, từ đó cũng có những ảnh hưởng nhất định
về phương diện xã hội trong đời sống của con người như cơ hội việc làm hay cơ hội
thăng tiến.
Trong trường ĐHSP Hà Nội 2 nói chung cũng như khoa Ngữ văn nói riêng, một
bộ phận không nhỏ các em sinh viên có sự nhầm lẫn L/N trong việc nói và viết. Điều
này đã có sự ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu đào tạo của nhà trường là đào tạo
nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng những yêu cầu đặt ra của xã hội và hơn hết là đào
tạo con người đúng với tinh thần là “chiêc máy cái” của ngành giáo dục. Với sinh viên
ngành Ngữ văn, một ngành học đòi hỏi người học có những hiểu biết nhất định về hệ
thống tri thức ngôn ngữ và tiếng Việt để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, có
ý thức thì sự nhầm lẫn này càng gây ra những ảnh hưởng nhất định.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
Các giải pháp khắc phục hiện tượng nói và viết ngọng l -n cho sinh viên khoa Ngữ
Văn, trường ĐHSP Hà Nội 2. Qua khảo sát thực trạng phát âm L/N của sinh viên
khoa Ngữ văn, trường ĐHP Hà Nội 2, đề tài đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm
giúp người sử dụng ngôn ngữ hiểu được một cách rõ ràng bản chất của sự nhầm lẫn
này, từ đó hướng tới vấn đề chuẩn chính âm và chính tả trong tiếng Việt, đặc biệt là
chuẩn hóa về chính âm, chính tả cho các thầy giáo, cô giáo Ngữ văn tương lai.
việc chuẩn hóa về chính âm, chính tả cho sinh viên trước khi ra trường.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích của đề tài
Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng hiện tượng nhầm lẫn L/N trên đối tượng
sinh viên khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2, đề tài đề xuất những giải pháp cụ thể
2
để giúp SVKNVĐHSPHN2 nói riêng cũng như người sử dụng ngôn ngữ nói chung
hiểu được bản chất của sự nhầm lẫn này, từ đó hướng tới vấn đề chuẩn chính âm và
chính tả trong tiếng Việt
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Tổng hợp những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như vấn đề chuẩn chính
âm, chính tả trong tiếng Việt …
- Đánh giá thực trạng nói ngọng và viết sai L/N ở SVKNVĐSPHN2,
- Đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm khắc phục hai loại lỗi nói trên, đặc biệt là
các biện phát chữa lỗi phát âm, từ đó giúp SV hướng tới chuẩn chính âm và chuẩn
chính tả trong giao tiếp.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp để chữa lỗi nhầm lẫn L/N, một loại lỗi có tính chất phổ
biến ở một số thổ ngữ thuộc đồng bằng Bắc bộ là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để khảo sát thực trạng hiện tượng nhầm lẫn L/N và đề xuất những giải pháp
chữa lỗi này, chúng tôi giới hạn phạm vi tìm hiểu ở đối tượng sinh viên khoa Ngữ văn,
trường ĐHSP Hà Nội 2. Bởi sinh viên ngành Ngữ văn luôn luôn phải có những hiểu
biết nhất định về hệ thống tri thức ngôn ngữ và tiếng Việt để hướng tới việc sử dụng
ngôn ngữ có tính chất “chuẩn hóa”, góp phần giữ gìn và phát triển thứ tiếng nói của
dân tộc.
và đánh giá một cách toàn diện nhằm hướng tới những hướng chữa lỗi tối ưu.
5.5. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này so sánh đối chiếu giữa các loại lỗi nhầm lẫn L/N để từ đó tìm
ra loại đang xuất hiện nhiều ở người sử dụng ngôn ngữ, từ đó hướng tới xác định
nguyên nhân và giải pháp khắc phục
6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
6.1. Về mặt lí luận
Đề tài xác định rõ hiện tượng phát âm lẫn lộn hai phụ âm được xem là nói
ngọng (hay lỗi phát âm) khi hiện tượng này xảy ra trong phạm vị hẹp như trong trường
học, cơ quan, gia đình. Trên cơ sở phân tích lỗi phát âm của SVKNVĐSPHN2, đề tài
cũng đã đề xuất những giải pháp cụ thể ở cả hai phương diện lí thuyết và thực hành để
giúp sinh viên chữa lỗi phát âm và chính tả L/N.
4
6.2. Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu hiện tượng nhầm lẫn L/N theo hướng khảo sát lỗi và chữa lỗi trên
đối tượng sinh viên khoa Ngữ văn, trường ĐHSP Hà Nội 2 là một hướng nghiên cứu
có tính thực tiễn, hướng tới việc chuẩn hóa về chính âm, chính tả cho sinh viên, đặc
biệt là các thầy giáo, cô giáo tương lai. Các giải pháp chữa lỗi phát âm L/N mà đề tài
đề xuất không chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp đối với SVKNV mà còn có thể mở rộng
đối với SV trường ĐHSP Hà Nội 2 nói chung, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường.
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần Phụ
lục, đề tài gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Vấn đề phát âm lẫn lộn và viết sai L/N ở sinh viên khoa Ngữ văn
trường ĐHSP Hà Nội 2
quan hệ với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn mực của tiếng Việt.
1.2 CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC
1.2.1 Chuẩn mực ngôn ngữ
Theo PGS. TS Đinh Trọng Lạc: “ Chuẩn mực ngôn ngữ là toàn bộ các phương tiện
ngôn ngữ được sử dụng đã được mọi người thừa nhận và đã được coi là đúng và mẫu
mực trong xã hội nhất định và trong thời đại nhất địnhcũng như toàn bộ các qui tắc sử
6
dụng của xã hội đối với ngôn ngữ đó.” [3, 10]. Chuẩn mực ngôn ngữ thể hiện ở mọi
cấp độ của ngôn ngữ như: phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu…
1.2.2 Chính âm và hệ thống ngữ âm chuẩn mực
1.2.2.1 Chính âm
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Chính âm là cách phát âm phù
hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ; hệ thống các chuẩn
mực phát âm của ngôn ngữ đó. ” [10, 47]
1.2.2.2 Bản chất của ngữ âm
Bản chất của âm thanh ngôn ngữ bao gồm:
a. Bản chất xã hội: Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống ngữ âm riêng được cộng đồng
người quy ước, thừa nhận và sử dụng. Những quy ước của cộng đồng đối với số lượng
âm vị và cách thức phát âm khiến cho các đơn vị ngữ âm có tính chung, tính dân tộc
và tính chuẩn mực.
b. Bản chất tự nhiên: Bao gồm bản chất sinh học và bản chất âm học.
Bản chất âm học: Các âm được phân biệt với nhau dựa vào các đặc trưng cường
độ, trường độ, cao độ, âm sắc...
Bản chất sinh học: Nghiên cứu bản chất sinh học chính là khảo sát cách tạo ra âm
thanh ngôn ngữ trong bộ máy phát âm của con người. Khi phát âm, một loạt các cơ
quan trong bộ máy phát âm của con người như: khoang miệng, khoang mũi, thanh hầu,
răng, môi, lưỡi, lợi, vòm ngạc… tham gia vào việc tạo âm. Để miêu tả và nhận diện
Nguyên âm đôi /ie/ được ghi bằng các chữ “ia, iê, ya, yê”.
Nguyên âm đôi /uo/ được ghi bằng các chữ “uô, ua”.
Nguyên âm đôi /աɤ/ được ghi bằng các chữ “ưa, ươ”.
+Tiếng Việt có 23 phụ âm đầu được ghi lại bằng các chữ cái sau: m, n, ng, ngh,
nh, b, t, ch, tr, c, k, q, đ, th, ph, v, x, s d, gi, r, kh, g, gh, h, l, p.
Trong quá trình học tiếng Việt, ngoài những lỗi phát âm phụ âm mà sinh viên
thường mắc như lẫn lộn cặp phụ âm: s-x, d-r-gi, ch-tr… thì một số lượng không ít sinh
viên vùng đồng bằng Trung du Bắc bộ thường hay lẫn cặp l/n.
Việc đánh giá kết quả rèn luyện chính âm tiếng Việt cho sinh viên cần phải dựa
vào những chuẩn mực của các âm vị và cách phát âm chuẩn mực các đơn vị đó.
b. Âm tiết (tiếng)
Tiếng Việt là một thứ tiếng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết (tiếng) được
xác định là một loại hình đơn vị cơ bản. Âm tiết tiếng Việt có một số đặc điểm cơ bản
sau:
8
+Tính phân tíết: Âm tiết tiếng Việt có hình thức ngữ âm ổn định và có ranh giới rõ
ràng trong lời nói, giữa các tiếng có khoảng cách đủ để tách biệt chúng. Khi phát âm,
tiếng nọ nối tiếp tiếng kia tuần tự theo hình tuyến, các tiếng không dính vào nhau.
Từ đặc điểm này, người Việt quan niệm phát âm đạt chuẩn mực là phải “tròn vành,
rõ chữ”.
+ Về đặc điểm cấu tạo, âm tiết tiếng Việt có đặc thù riêng.
Ở dạng thức đầy đủ nhất, mỗi tiếng gồm phụ âm đầu và vần. Vần lại gồm âm đệm,
âm chính, âm cuối vần và thanh điệu. Ở dạng rút gọn nhất, mỗi tiếng do một âm chính
và một thanh điệu tạo thành. Như vậy dù được cấu tạo ở dạng nào, trong tiếng bao giờ
cũng có hạt nhân là nguyên âm và thanh điệu. Khả năng kết hợp của các yếu tố cấu tạo
âm tiết cũng tuân theo quy tắc nhất định. Điều này thể hiện ở các quy tắc chính tả.
+ Âm tiết tiếng Việt trùng với một hình vị, trùng với từ đơn, hoặc là một thành tố
yêu cầu có sự phù hợp 1/1 trong mối quan hệ giữa con chữ và âm vị. Điều này có
nghĩa là một con chữ phản ánh một âm vị, ngược lại một âm vị chỉ được phản ánh
bằng một con chữ. Phần lớn các âm vị theo sát nguyên tắc này nhưng có một số trường
hợp không vi phạm nguyên tắc: một âm vị được ghi bằng hai, ba con chữ hoặc một
con chữ dung để ghi nhiều âm vị. Vì vậy ngoài nguyên tắc chính tả ngữ âm học, tiếng
Việt còn bổ sung thêm nguyên tắc hình thái học và nguyên tắc chính tả truyền thống:
- Phân biệt một số hình vị đồng âm khác nghĩa: da thịt/ gia nhập.
- Dựa vào từ nguyên để quy định cách viết: sử dụng/ xử sự, lưỡi liềm/ niềm tin…
- Không thay đổi thói quen viết chữ đã có từ lâu: ghế/ gà, nghỉ/ nga
1.3. CƠ SỞ GIÁO DỤC HỌC
1.3.1. Nguyên tắc giáo dục
1.3.1.1 Nguyên tắc sát với đối tượng
Nội dung và phương pháp rèn luyện chính âm, chính tả phải sát với đối tượng là
sinh viên.
1.3.1.2 Nguyên tắc phát triển
Nguyên tắc này có vai trò chỉ đạo nội dung, phương pháp rèn luyện chính âm,
chính tả. Dựa vào nguyên tắc này, một hệ thống bài tập từ dễ đến khó, bài tập luyện
tập đến bài tập sáng tạo trong hoạt động nói và viết phải được xây dựng hợp lí, khoa
học.
1.3.1.2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp
Để hình thành các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, cần phải đưa sinh viên
tham gia hoạt động nói, viết với hai tư cách là người viết tiếp nhận và người tạo lập ra
ngôn bản. Cách thực hiện tốt nhất là tạo ra những tình huống giao tiếp hoạt động chính
khóa, ngoại khóa để sinh viên có cơ hội được nghe, nói, đọc và viết.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
1.3.2.1 Phương pháp miêu tả trực tiếp
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cách phát âm hoặc nêu các nguyên
tắc chính tả trên cơ sở chuẩn bực chính âm, chính tả tiếng Việt. Miêu tả cách cấu âm
của từng âm để thấy được điểm giống vào khác nhau về cấu âm của hai âm vị này, từ
môn Văn và Tiếng Việt trong nhà trường là giữ gìn sự chuẩn mực và trong sáng của
tiếng Việt .
11
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ PHÁT ÂM LẪN LỘN VÀ VIẾT SAI L/N Ở SINH VIÊN
KHOA NGỮ VĂN, TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
2.1 VẤN ĐỀ PHÁT ÂM LẪN LỘN VÀ VIẾT SAI L/N
2.1.1 Khái niệm ngọng, nói ngọng
Theo Từ điển tiếng Việt [6,681], ngọng có nghĩa “không phát âm đúng một số âm
do có tật hoặc chưa nói sõi. Nói ngọng. Người ngọng”. Từ láy ngọng nghịu mang
nghĩa khái quát. Giọng nói ngọng nghịu của trẻ thơ. Như vậy, theo định nghĩa này,
ngọng được hiểu như một dạng bệnh lí do có tật ở cơ quan phát âm hay hiện tượng nói
chưa sõi ở trẻ em do bộ máy phát âm chưa hoàn thiện.
Trong thực tế giao tiếp, từ ngọng hay nói ngọng còn được dùng để chỉ hiện tượng
phát âm không đúng chuẩn chính âm. Chẳng hạn N phát âm thành L, dấu hỏi phát
âm thành dấu ngã hay thuyền được phát âm thành thuền… đều được gọi là ngọng.
Ngoài ra, người ta còn dùng những tên gọi khác để chỉ hiện tượng phát âm không
chuẩn như phát âm sai, phát âm lỗi hoặc phát âm lệch chuẩn. Dù sử dụng tên gọi nào
thì những cụm từ này đều có nghĩa phát âm không chuẩn theo chính âm một hay nhiều
hơn một thành phần trong âm tiết tiếng Việt và ít nhiều làm ảnh hưởng đến độ rõ ràng
của lời nói khi phát ngôn. [11.4]
Phát âm sai hay phát âm không chuẩn có nhiều biểu hiện. Như chúng ta biết, cấu tạo
đầy đủ của âm tiết tiếng Việt gồm 5 thành phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối
và thanh điệu. Hai thành phần bắt buộc phải có mặt trong âm tiết là âm chính và thanh
điệu; ba thành phần còn lại âm đầu, âm đệm, âm cuối có thể vắng mặt trong âm tiết.
Xét theo thành phần cấu tạo âm tiết, lỗi phát âm có thể xảy ra ở cả năm bộ phận nói
trên. Ở vị trí âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối, các dạng lỗi phát âm có thể xảy ra
ta. Tác giả Vũ Kim Bảng cho rằng, bản chất của vấn đề nói ngọng là hiện tượng có
tính chất phương ngữ. Đó là hiện tượng phát âm không đúng so với chuẩn chính tả.
Tức là, không phân biệt trong cách phát âm các phụ âm đầu như ch - tr, x - s, d - gi - r
của miền Bắc hay sự lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã ở khu vực miền Trung.[11.2]
Đồng tình với quan điểm trên, GS.TS Nguyễn Văn Hiệp cũng cho rằng: “Nói
ngọng N/L thực chất là người ta vu vạ cho một đặc điểm phương ngữ của một số vùng
nào đó mà thôi” [11.2]. Để minh chứng cho ý kiến này, ông đã so sánh hiện tượng phát
âm lẫn lộn N và L ở Hà Nội cũng tương tự như việc phát âm lẫn lộn thanh hỏi và thanh
ngã ở Huế . Việc bắt người Hà Nội phân biệt L/N trong phát âm cũng khó như việc bắt
người Huế phân biệt nghỉ ngơi và nghĩ ngợi. Chính vì quan niệm phát âm lẫn lộn L/N
là đặc điểm phương ngữ của một vùng nên ông cho rằng việc chữa ngọng L/N thực sự
không cần thiết. Chỉ khi nào cá nhân cảm thấy cần thiết phải thay đổi thì họ sẽ tự sửa.
Còn việc chữa ngọng theo phong trào chỉ là việc làm tốn công vô ích mà thôi.
Đồng thuận với quan niệm trên đây, tác giả Hoàng Dũng [11.3] cũng cho rằng, nếu
đã là cách phát âm theo tập quán địa phương thì không thể xóa bỏ cách phát âm đó.
Không thể nhân danh bất cứ cái gì để xóa bỏ cách phát âm địa phương vì đó là một
phần tài sản văn hóa của họ.
13
Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, GS Nguyễn Văn Hiệp cũng nói thêm rằng,
đôi khi việc phát âm lẫn lộn L/N lại được xem như một dấu hiệu hòa đồng nhóm. Một
trong những nguyên tắc để giao tiếp thành công là phải tăng dấu hiệu đồng thuận
nhóm, vì thế, trong giao tiếp người ta cũng có thể phát âm lẫn lộn N/L để đạt được
mục đích giao tiếp. [11.2]
Bàn về hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N, PGS Phạm Văn Hảo lại đưa ra một quan
điểm khá bất ngờ. Ông cho rằng, việc lẫn lộn L/N không phải là tàn dư của các
phương ngữ hay thổ ngữ cổ xưa mà đây là một xu thế đang trong quá trình phát triển
theo hướng mất dần tiêu chí khó, để giản tiện hóa cấu âm. Có nghĩa là âm L khó đọc
vực khác cũng tham gia vào cuộc tranh luận xoay quanh chủ đề phát âm lẫn lộn L/N
(chẳng hạn nhà thơ Thanh Thảo, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn…). Hầu hết
các ý kiến này đều khẳng định việc phát âm lẫn lộn L/N trong giao tiếp thường gây
cảm giác khó chịu và tạo ấn tượng không tốt đối với người nghe. Nhấn mạnh vào hạn
chế của việc phát âm lẫn lộn N và L, nhiều ý kiến còn cho rằng không nên tuyển dụng
người nói ngọng vào cơ quan nhà nước, đặc biệt, đối với những công việc như dạy
học, bác sĩ, hay các doanh nghiệp nước ngoài - những ngành nghề đòi hỏi phải có sự
chuẩn hóa trong việc phát âm.
Trên đây là ý kiến của một số nhà ngôn ngữ học tiêu biểu về hiện tượng phát âm
lệch chuẩn hai phụ âm đầu L/N. Dù quan niệm hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N là đặc
điểm phương ngữ hay là nói ngọng thì rõ ràng có một thực tế không thể phủ nhận là
trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp, việc phát âm lẫn lộn L/N đã gây ra những hậu quả
tiêu cực đối với chính người nói. Việc đánh mất cơ hội việc làm tốt, đặc biệt là cơ hội
làm việc đối với người nước ngoài, không phải là chuyện hiếm gặp đối với những
người phát âm lẫn lộn N và L.
Dựa vào các ý kiến trên, để phục vụ cho mục đích của đề tài, chúng tôi đề xuất
quan niệm về việc phát âm lẫn lộn hai phụ âm đầu N và L như sau:
Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N chỉ được xem là hiện tượng phát âm sai (hay nói
ngọng, lệch chuẩn) khi xét trong một phạm vi hẹp, chẳng hạn trong gia đình, trong
trường học hay cơ quan… Khi đó, việc phát âm lẫn lộn N/L cần có sự điều chỉnh, uốn
nắn để hướng tới chuẩn hóa về mặt phát âm.
Khi hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N phổ biến ở nhiều địa phương, phạm vi rộng
lớn, ví dụ ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội… thì chúng tôi cho rằng đó không phải là nói ngọng mà là
đặc điểm phát âm của địa phương. Với trường hợp này, theo chúng tôi khó có thể điều
chỉnh việc phát âm lẫn lộn L/N theo đúng chuẩn mà chỉ có thể thống nhất về mặt chính
tả mà thôi. Trường hợp này, nếu muốn sửa thì cần phải tiến hành một cách thận trọng,
bài bản, trong thời gian lâu dài và cần có sự vào cuộc của các nhà ngôn ngữ học.
Xét trong phạm vi khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội 2, hiện tượng sinh viên
phát âm lẫn lộn N và L cũng được xem là lỗi phát âm. Vì vậy, theo chúng tôi, việc tiến
điểm:
- Chuẩn ngôn ngữ trước hết là những quy tắc sử dụng ngôn ngữ đã được định
sẵn (bao gồm chuẩn phát âm, chuẩn chữ viết, chuẩn dùng từ, chuẩn đặt câu…) mà mọi
sự sai lệch với chúng đều bị coi là không chuẩn.
- Chuẩn ngôn ngữ mang tính quy ước đối với từng xã hội
- Chuẩn ngôn ngữ mang tính lịch sử. Vì thế, chuẩn ngôn ngữ không phải là bất
biến, mà chỉ là “sự lựa chọn trong những sự lựa chọn trong khi còn có thể có những
lựa chọn khác”. Cách lựa chọn như thế nào được quyết định bởi một xã hội nhất định
trong một giai đoạn nhất định. Claude Hagège, nhà ngôn ngữ học người Pháp đã có
một câu nói rất hay, rằng "lỗi của hôm qua trở thành chuẩn của hôm nay, lỗi hôm nay
sẽ là chuẩn của ngày mai".
16
Như trên đã nói, chuẩn ngôn ngữ bao gồm nhiều phương diện, trong đó có
chuẩn phát âm (chuẩn chính âm). Chính âm là “cách phát âm phù hợp với chuẩn phát
âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ, hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn
ngữ đó” [10,47]. Yêu cầu cơ bản của chuẩn chính âm là xây dựng một cách phát âm
tiêu chuẩn, thống nhất trong phạm vi toàn dân. Tuy nhiên, hiện nay cách phát âm
chuẩn mực trong phạm vi toàn quốc vẫn chưa được quy định. Gần như mặc nhiên,
người ta công nhận hai phương ngữ Bắc và Nam đều là chuẩn (mà tiếng Hà Nội và
tiếng Thành phố Hồ Chí Minh là đại diện). Điều đáng lưu ý là, từ lâu tiếng Việt đã có
hệ thống chuẩn chính tả mà tất cả mọi vùng miền đều tự giác thừa nhận. Khi viết,
người miền Bắc vẫn phân biệt hai âm đầu /ʂ - s/, /ƫ - c/, /n - l/, người miền Nam vẫn
phân biệt /t - k/, /n - ŋ/… Chính vì vậy, theo chúng tôi việc xây dựng chuẩn chính âm
cần dựa trên chuẩn chính tả. Chuẩn chính tả là những quy tắc có tính chất pháp lí, bắt
buộc mọi người phải tuân theo (xem mục 1.2.3). Điều này không có nghĩa là phủ nhận
đặc điểm phát âm của từng phương ngữ. Những cách phát âm phương ngữ đều đúng
nhưng đúng với từng địa phương, đúng theo ước định của cộng đồng ngôn ngữ ấy. Vì
Tình trạng
ngọng
Nguyên nhân ngọng
Mức độ ngọng
Không
nắm
được
cấu âm
Gia
đình
Địa
phương
Nguyên
nhân
khác
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Cả
hai
65,96
34,04
37,56 35,03 27,41
9,37
3,55
83,17
3,91
36,36
63,64
Nói
Số
trường
hợp
Tỷ lệ
phần
trăm
(%)
Xu hướng ngọng
Viết
những kiến thức này (khi miêu tả các đặc điểm cấu âm - âm học của phụ âm), song
việc luyện phát âm theo đúng đặc điểm cấu âm của hai âm này chưa được sinh viên
quan tâm đúng mức. Chính điều này đã khiến các em lẫn lộn trong việc phát âm hai
phụ âm N và L. Một nguyên nhân quan trọng khác nữa là do môi trường sống. Cụ thể,
dựa vào bảng khảo sát, chúng tôi nhận thấy số sinh viên nói ngọng N và L tập trung
chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà
Tây (cũ), Đông Anh (Hà Nội), Bắc Giang, Bắc Ninh…- nơi mà người dân thường phát
âm lẫn lộn hai phụ âm đầu L và N.
Quê quán
Số lượng phát âm sai
Tỷ lệ
Hà Nội
Vĩnh Phúc
Hưng Yên
Hải Dương
Nam Định
Thái Bình
Bắc Giang
Bắc Ninh
Quảng Ninh
Hà Nam
Phú Thọ
Tuyên Quang
Hải Phòng
Hòa Bình
Yên Bái
Hà Giang
1.32%
1.06%
1.06%
0.79%
19
Quê quán
Số lượng phát âm sai
Tỷ lệ
Lào Cai
Ninh Bình
Thanh Hóa
Lai Châu
Lạng Sơn
Thái Nguyên
Tổng số
3
3
3
1
1
1
379
khiếm khuyết, chẳng hạn, lưỡi ngắn quá hay dài quá đều ảnh hưởng lớn đến việc phát
âm hai phụ âm này. Song, nguyên nhân sâu xa nhất là do kiến thức về tiếng Việt của
20
sinh viên còn yếu. Nhiều sinh viên chưa nắm được đặc điểm cấu tạo âm tiết, các
nguyên tắc chính tả cũng như những đặc điểm của chữ viết tiếng Việt. Theo kết quả
khảo sát, tỉ lệ sinh viên ngọng L/N do không nắm được đặc điểm cấu âm của hai âm
này là 36 em, chiếm 9,38%.
2.2.3 Đánh giá về ý thức chữa ngọng và nhận thức của SV về hiện tượng viết sai
và phát âm lẫn lộn L/N
Kết quả điều tra cho thấy sinh viên nhận thức rõ và đúng về sự cần thiết của
việc chữa ngọng cũng như vai trò của cá nhân trong việc chữa ngọng. 100% sinh viên
cho rằng việc chữa lỗi phát âm L/N là rất cần thiết. Tuy nhiên, số sinh viên có ý thức
chữa ngọng thường xuyên lại chỉ chiếm hơn 50%. Điều này tưởng như mâu thuẫn
song nó phản ánh đúng thực tế của sinh viên: nhận thức được nhưng không hành động.
Thiếu sự quyết tâm và kiên trì nên việc chữa ngọng khó thành công. Vì vậy, giải pháp
đầu tiên chúng tôi nêu ra vẫn là giáo dục ý thức cho sinh viên. Trong quá trình chữa
ngọng, giáo viên giữ vai trò người hướng dẫn, định hướng và giám sát còn sinh viên
cần chủ động, tích cực. Ngoài những giờ chữa trên lớp, có định hướng và giúp đỡ của
giáo viên, sinh viên cần có ý thức luyện tập thường xuyên ở nhà, ở mọi nơi, mọi lúc,
mọi hình thức giao tiếp.
Đối với sinh viên ở các địa phương phát âm sai nhiều, việc chữa ngọng sẽ khó
khăn hơn và hiện tượng tái ngọng rất dễ xảy ra nếu các em không có ý thức rèn luyện
thường xuyên.
Trường hợp
ngọng
Khi
GT
Thường
xuyên
Số
trường
265
10
hợp
Tỷ lệ
phần
trăm
69,82 2,55 27,64
(%)
21
Sự cần thiết
Yếu tố quan trọng
của việc
nhất tác động đến
9
4,49
2,37
Bảng 2.3. Bảng điều tra ý thức chữa ngọng của sinh viên
Tóm lại, trong chương này, chúng tôi quan niệm: Khi hiện tượng phát âm lẫn
lộn L/N diễn ra trong một phạm vi địa lí rộng lớn thì đó là tập quán phát âm của địa
phương, hay phương ngữ. Trường hợp này, theo chúng tôi, không cần thiết phải sửa.
Hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N được xem là lỗi phát âm hay nói ngọng khi hiện tượng
này diễn ra trong một phạm vi hẹp, chẳng hạn trong gia đình, trong nhà trường hay cơ
quan…Khi đó, hiện tượng phát âm lẫn lộn này cần có sự điều chỉnh, uốn nắn, sửa chữa
để hướng tới phát âm chuẩn.
Cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi tiến hành chữa lỗi phát âm L/N cho
SVKNVĐHSPHN2 chính là dựa vào khái niệm chuẩn chính tả. Chuẩn chính tả là
những quy định có tính chất pháp lí, bắt buộc mọi người phải tuân theo. Thực tế, khi
viết, người ta phân biệt rất rõ hai phụ âm đầu L và N. Chính vì vậy, khi phát âm hai
phụ âm này cũng cần phát âm đúng theo chữ viết.
Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát, đề tài cũng nêu lên một số nhận xét, đánh
giá khách quan, trung thực về hiện tượng phát âm lẫn lộn L/N của SVKNVĐHSPHN2.
Các kết quả điều tra, đánh giá cho thấy tình trạng phát âm lẫn lộn L và N là một thực
tế rất phổ biến trong SV khoa Văn. Xét trong phạm vi nhà trường, đây thực sự là lỗi
phát âm nghiêm trọng, gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với chính SV và đối với
chất lượng đào tạo của nhà trường. Vì vậy, việc tiến hành sửa lỗi phát âm L/N trong
phạm vi sinh viên khoa Ngữ văn là rất cần thiết.
22
Việc chữa lỗi cho cả vùng, miền, địa phương là điều khó có thể thực hiện. Nhưng việc
23
tạo ra môi trường giao tiếp chuẩn mực trong nhà trường thì có thể làm được. Muốn
vậy, cần phải:
- Đào tạo giáo viên chuẩn mực. Không để tình trạng giáo viên, đặc biệt là giáo
viên Mầm non và Tiểu học phát âm sai. Việc chữa ngọng phải bắt đầu từ giáo viên. GS
TS Trần Trí Dõi cho rằng: “ Ngôn ngữ là sản phẩm của một cộng đồng. Muốn chữa
nói ngọng l/n thì chỉ chính bản thân cộng đồng phát âm lẫn lộn ở từng địa phương ấy
sửa chữa mới được. Nhưng công đồng cũng chính là những cá nhân được tập hợp lại.
Vậy thì trước hết những cá nhân như giáo viên, học sinh ở bậc Mẫu giáo và Tiểu học
ở địa phương ấy rèn luyện đi. Khi những đối tượng này không lẫn lộn nữa, thế hệ này
tiếp thế hệ khác thì địa phương ấy sẽ hết nói ngọng thôi. Cho nên không thể coi
chuyện này thành công chỉ trong ngày một, ngày hai được đâu.” [11.1]. Nếu không tạo
được môi trường giao tiếp chuẩn mực thì hiện tượng tái ngọng sẽ xảy ra.
- Các trường sư phạm phải triệt để chữa ngọng cho sinh viên. Việc này phải làm
ngay từ năm thứ nhất và phải thường xuyên trong suốt các năm học.
3.2.2. Chú trọng hơn nữa việc dạy chuẩn chính âm và chuẩn chính tả đối với học
sinh phổ thông
Sách giáo khoa phổ thông, đặc biệt là sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phải
cung cấp những kiến thức về chuẩn mực ngôn ngữ, đồng thời dành nhiều thời gian rèn
luyện để hình thành kĩ năng và thói quen nói, viết chuẩn mực cho học sinh.
Việc chữa ngọng phải được thực hiện ở cấp Tiểu học, thậm chí là ở cấp dưới
hơn nữa. Theo tác giả Phạm Văn Tình: “ Sửa ngọng cần phải được thực hiện càng
sớm càng tốt” [11.2]. Thói quen ngôn ngữ được hình thành từ khi trẻ còn rất nhỏ, sau
đó định hình và phát triển dần lên. Thường thì một em bé từ khi bắt đầu học nói cho
đến 5 tuổi đã hình thành được một ngữ năng nhất định về mặt từ ngữ, cách nói năng và
cách phát âm. Nếu không uốn nắn ngay từ đầu thì việc phát âm sai sẽ trở thành một
Kết hợp hài hòa các phương pháp chữa lỗi và các biện pháp chữa lỗi. Vừa cung
cấp các kiến thức lí thuyết về đặc điểm chính âm, chính tả, đặc điểm chữ viết tiếng
việt, các quy tắc chính tả… vừa kết hợp thực hành. Việc này cần triển khai có bài bản
và có cơ sở khoa học. Không nên chỉ chú trọng thực hành mà bỏ qua lí thuyết. Kết hợp
rèn luyện kĩ năng chính âm và chính tả với tất cả các trường hợp ngọng. Bởi hai kĩ
năng này luôn có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Tuy nhiên mức độ vận dụng kĩ năng
có khác nhau ở các xu hướng ngọng.
Như trên đã nói, yếu tố quan trọng trong quá trình chữa lỗi phát âm L/N là ý
thức, tinh thần cầu thị của người nói ngọng. Song bên cạnh đó, không thể bỏ qua vai
trò của giáo viên hướng dẫn. Việc tiến hành chữa ngọng L/N chỉ thực sự có bài bản và
có kết quả khi có sự tham gia của giáo viên hướng dẫn. Vì vậy, trong quá trình chữa
ngọng cần có sự kết hợp hài hòa giữa giáo viên chữa ngọng và sinh viên nói ngọng.
25