TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHỈ SỐ TÀI CHÍNH P/E, PEG, PERG
VÀ CƠ SỞ ĐẦU TƯ GIÁ TRỊ Ở SÀN
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH GIAI ĐOẠN 2007-2014
Giảng viên hướng dẫn: TH.S NGUYỄN DUY SỮU
Nhóm sinh viên thực hiện:
PHẠM THỊ HỒNG NHI
PHẠM THỊ THANH NHI
LỚP: 110B0102
KHÓA: 15ĐH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm được đào tạo chuyên ngành Tài chính- Ngân hàng tại trường Đại
học Tôn Đức Thắng, chúng em đã tiếp thu được nhiều kiến thức về chuyên ngành,
đó chính là những bước đệm, nền tảng kiến thức để chúng em thực hiện bài khóa
luận này.
Chúng em xin bày tỏ tình cảm của mình và gửi lời cảm ơn đến các giảng
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
iv
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
và rủi ro thông qua độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư, và sau đó so sánh với chỉ số
VN-index dựa trên giả thuyết thử nghiệm sau đây:
H0: μp ≤ μm
H1 : μ p > μ m
Trong đó :
μp = tỷ lệ trung bình hàng năm của lợi nhuận từ danh mục đầu tư gồm những
chứng khoán được chọn thông qua việc sử dụng các tỷ số đầu tư
μm = tỷ lệ trung bình hàng năm của lợi nhuận từ tất cả các chỉ số lợi nhuận
của thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Thông qua kiểm định T-Test, ta sẽ tính giá trị thống kê t sau đó so sánh với t
tra bảng phân phối chuẩn ( giả sử với mức ý nghĩa 5%).
-
Nếu giá trị thống kê t < t (n, 0.05), thì chấp nhận H0, hay bác bỏ H1 tức là tỷ
suất sinh lời của danh mục nhỏ hơn tỷ suất sinh lời của thị trường.
vi
-
Nếu giá trị thống kê t > t (n, 0.05), thì bác bỏ H0, hay chấp nhận H1 tức là tỷ
suất sinh lời của danh mục lớn hơn tỷ suất sinh lời của thị trường.
Sau khi phân tích kết quả nghiên cứu 14 danh mục đầu tư trên sàn HOSE,
chúng em nhận thấy tuy việc lựa chọn danh mục theo các chỉ số P/E, PEG, PERG
chưa thực sự hiệu quả và có ý nghĩa thống kê thấp nhưng tùy theo mục đích của nhà
đầu tư (đầu tư lướt song hay đầu tư giá trị lâu dài…) và tùy theo “sức khỏe” của
nền kinh tế mà các nhà đầu tư có thể sử dụng ba chỉ số trên trong các khoảng mốc
để tham khảo cho quyết định đầu tư của mình.
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. .............................. 3
1.5
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ................................................. 3
1.6
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI. ........................................................... 4
1.7
KẾT CẤU ĐỀ TÀI. ........................................................................ 4
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN .......................................................................... 5
2.1
CHỨNG KHOÁN. ......................................................................... 5
2.1.1
Chứng khoán và công ty cổ phần. ..................................................5
2.1.2
Thị trường chứng khoán. ................................................................5
viii
3.1
PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHỈ SỐ P/E, PEG VÀ PERG. .. 14
3.2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ............................................... 16
3.3
DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU. ........................................................... 18
CHƯƠNG 4
4.1
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 19
LỰA CHỌN, TÍNH TOÁN DANH MỤC CHỨNG KHOÁN VÀ
DANH MỤC THỊ TRƯỜNG. ............................................................................... 19
4.2
PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÁC DANH MỤC ĐẦU TƯ THÔNG
QUA CÁC CHỈ SỐ TÀI. ....................................................................................... 19
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 61
DM
Danh mục
EPS
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
g
Tốc độ tăng trưởng của cổ phiếu
HOSE
Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
P/B
Hệ số giá trên giá trị sổ sách
P/E
Giá thị trường của cổ phiếu chia thu nhập trên mỗi cổ phiếu.
PEG
Tỷ lệ P/E trên tốc độ tăng trưởng của cổ phiếu
PERG-Beta
Bảng 4.2: TSSL trung bình của DM A so với TSSL trung bình của thị trường. .......... 20
Bảng 4.3: TSSL trung bình của DM B so với TSSL trung bình thị trường .................. 23
Bảng 4.4: TSSL trung bình của DM C so với TSSL trung bình thị trường. ................. 26
Bảng 4.5: TSSL trung bình của DM D so với TSSL trung bình của thị trường. .......... 29
Bảng 4.6: TSSL trung bình của DM E so với TSSL trung bình thị trường. ................. 32
Bảng 4.7: TSSL trung bình của DM F so với TSSL trung bình của thị trường. ........... 35
Bảng 4.8: TSSL trung bình của DM G so với TSSL trung bình của thị trường. .......... 38
Bảng 4.9: TSSL trung bình của DM H so với TSSL trung bình của thị trường. .......... 41
Bảng 4.10: TSSL trung bình của DM I so với TSSL trung bình của thị trường........... 44
Bảng 4.11: TSSL trung bình của DM K so với TSSL trung bình của thị trường. ........ 47
Bảng 4.12: TSSL trung bình của DM L so với TSSL trung bình của thị trường. ........ 50
Bảng 4.13: TSSL trung bình của DM M với TSSL trung bình của thị trường. ........... 53
Bảng 4.14: TSSL trung bình của DM N so với TSSL trung bình của thị trường. ........ 56
Bảng 4.15: TSSL trung bình của DM O so với TSSL trung bình của thị trường. ........ 59
HÌNH
Hình 4.1: So sánh giá trị DM đầu tư A và giá trị của thị trường. ................................. 21
Hình 4.2: So sánh giá trị DM đầu tư B và giá trị của thị trường................................... 24
Hình 4.3: So sánh giá trị DM đầu tư C và giá trị của thị trường................................... 27
Hình 4.4: So sánh giá trị DM đầu tư D và giá trị của thị trường. ................................. 30
Hình 4.5: So sánh giá trị DM đầu tư E và giá trị của thị trường. .................................. 33
Hình 4.6: So sánh giá trị DM đầu tư F và giá trị của thị trường. .................................. 36
Hình 4.7: So sánh giá trị DM đầu tư G với giá trị thị trường. ...................................... 39
Hình 4.8: So sánh giá trị DM đầu tư H với giá trị thị trường. ...................................... 42
Hình 4.9: So sánh giá trị DM đầu tư I với giá trị thị trường. ........................................ 45
Hình 4.10: So sánh giá trị DM đầu tư K với giá trị thị trường. .................................... 48
xii
thanh lý. Nhưng đối với cổ phiếu thì phương pháp định giá so sánh bằng các chỉ số
P/E, PEG và PERG luôn được sử dụng rộng rãi để tính toán giá trị tiềm năng của
một cổ phiếu.
Từ những câu chuyện thành công trên thị trường chúng khoán, đầu tư giá trị
đã được chấp nhận rộng rãi và luôn được cho là cách đầu tư tạo ra giá trị cao hơn
trung bình thị trường. Đây là một quan điểm được phát triển từ nguyên lý đầu tư của
Benjamin Graham, cha đẻ của những phân tích cơ bản và được mô tả chi tiết trong
cuốn Graham’s The Intelligent Investor được xuất bản vào năm 1949. Đầu tư giá trị
chính bản thân nó đã là những nguyên tắc hợp lý và dễ hiểu.
2
Tuy rằng đầu tư giá trị rất phổ biến nhưng ở Việt Nam, việc đánh giá cổ
phiếu với những chỉ số tài chính vẫn còn hạn chế với nhà đầu tư. Vì thế đề tài được
xây dựng nhằm xem xét các chỉ số tài chính có thật sự mang lại hiệu quả ở thị
trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 – 2014 hay
không, với mục đích xem xét giả thuyết là đầu tư giá trị theo các chỉ số tài chính
này có sinh ra lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình trên thị trường không.
1.2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu thực nghiệm nhằm đánh giá giả thuyết đầu tư giá trị theo các tỷ
số P/E, PEG và PERG ở Việt Nam có sinh ra lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung
bình trên thị trường hay không.
Xác định các điều kiện áp dụng cũng như các giới hạn khi sử dụng phương
pháp này.
1.3
với đề tài “Value Investing in Thailand: Evidence from the Use of PEG”, và đề tài
“PE Growth and Risk: Evidences from Value investing in Thailand”.
Nghiên cứu này sử dụng tỷ số P/E, PEG và PERG để lựa chọn cổ phiếu
nhằm xây dựng danh mục đầu tư theo tiêu chí cụ thể. Các tỷ số sẽ được phân theo
các mốc là nhỏ hơn 0, lớn hơn 0 và nhỏ hơn 0.5, lớn hơn 0.5 và nhỏ hơn 1, lớn hơn
1. Tương ứng với những tỷ số sẽ cho ta các danh mục khác nhau.
Hiệu quả của danh mục đầu tư được đánh giá bằng cách đo tỷ suất lợi nhuận
và rủi ro thông qua độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư, và sau đó so sánh với chỉ số
VN-index dựa trên giả thuyết thử nghiệm sau đây:
H0: μp ≤ μm
H1 : μ p > μ m
4
Trong đó :
μp = tỷ lệ trung bình hàng năm của lợi nhuận từ danh mục đầu tư.
μm = tỷ lệ trung bình hàng năm của lợi nhuận từ tất cả các chỉ số lợi nhuận
của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kết quả của kiểm định này sẽ cho biết liệu tỷ suất lợi nhuận của danh mục
đầu tư được lựa chọn dựa vào các chỉ số tài chính có cao hơn tỷ suất sinh lời của
danh mục đầu tư thị trường hay không.
1.6
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.
Đề tài cho ta có cái nhìn thực tế về các chỉ số tài chính khi áp dụng vào thị
trường chứng khoán Việt Nam, mở ra một hướng mới cho các nhà đầu tư giá trị khi
nghiên cứu thực nghiệm tỷ số PERG trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.7
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Người nắm giữ cổ
phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành.
2.1.2 Thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành và trao đổi,
giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị
trường sơ cấp và thứ cấp:
-
Thị trường sơ cấp: Người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những
người phát hành.
-
Thị trường thứ cấp: Nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được
phát hành ở Thị trường sơ cấp.
6
Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: Các cổ phiếu, trái
phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm.
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) được thành lập
tháng 7 năm 2000, là một đơn vị trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và quản
lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của Việt Nam. Chỉ số giá cổ
phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch, ngày giao dịch) của các công
ty niêm yết tại trung tâm này được gọi là VN-Index. Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động như một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Nhà nước với số vốn điều lệ là một nghìn tỷ đồng. Tên tiếng Anh của sở giao
dịch này là Ho Chi Minh Stock Exchange với tên viết tắt là HOSE.
2.2
-
Luôn luôn đứng trên quan điểm mình là người chủ doanh nghiệp khi phân
tích về doanh nghiệp đó.
-
Luôn luôn tính toán sự bất hợp lý của giá cả thị trường trong ngắn hạn để tìm
ra thời điểm đầu tư hợp lý nhất.
Hai nguyên tắc trên chính là cách mà nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro cho mình.
Đầu tư giá trị luôn được thực hiện trong dài hạn và sự đầu tư thường được tập trung
vào rất ít cổ phiếu, vì thế rủi ro luôn rất cao nếu phân tích, lựa chọn không chính
xác cổ phiếu nhưng ngược lại, rủi ro có thể được giảm thiểu thấp nhất, lợi nhuận đạt
mức tối ưu. Trong đầu tư giá trị, phân tích cơ bản luôn được đặt lên hàng đầu, các
chỉ số để đánh giá tài sản, đánh giá công ty, đánh giá cổ phiếu như ROA (tỷ số đánh
giá lợi nhuận ròng trên tổng tài sản), ROE (tỷ số đánh giá lợi nhuận ròng trên vốn
chủ sở hữu), P/B (giá thị trường của cổ phần chia cho giá trị sổ sách trên một cổ
phần), EPS (lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu), P/E (Hệ số giá trên thu nhập của cổ
phiếu), PEG (tỷ số tính đến tốc độ tăng trưởng công ty), PERG (tỷ số tính đến rủi
ro) thường được vận dụng một cách rất linh hoạt và chuyên nghiêp, cùng với đó,
những yếu tố định tính đánh giá công ty như ban lãnh đạo, nguồn nhân lực, tính
cạnh tranh...cũng luôn được xem trọng.
8
2.3
CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH.
dựa vào để trả lời câu hỏi là liệu thị trường có đánh giá cổ phiếu này quá cao hay
quá thấp không? P/E cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu đồng cho một cổ
9
phiếu trên thị trường. Và thường thì P/E luôn thay đổi bất thường qua các năm nên
khi sử dụng P/E để đánh giá cổ phiếu, nhà đầu tư thường xem xét P/E trong nhiều
năm.
P/E=
𝐺𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢
𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑡𝑟ê𝑛 𝑚ộ𝑡 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢
(2.2)
Khi đánh giá cổ phiếu qua tỷ số P/E, thị trường đã có hai trường phái với hai
quan niệm rất rõ ràng. Nếu những nhà đầu tư lướt sóng cho rằng P/E cao là tốt vì
lúc này thị trường đang rất quan tâm đến cổ phiếu và vì thế giá sẽ tăng, thì với
những nhà đầu tư giá trị P/E thấp sẽ tốt vì P/E thấp chứng tỏ rằng giá thị trường
thấp hơn giá trị thực của cổ phiếu, trong dài hạn, giá trị thị trường sẽ tiến gần đến
giá thị thực nên thời điểm này được đánh giá là thích hợp để mua vào vì sẽ sinh lợi
nhuận cao trong tương lai.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã từng có thời gian rất ồn ào về chỉ số
P/E qua các báo cáo của các tổ chức nước ngoài với sự cảnh báo P/E của thị trường
đang quá cao. Tuy nhiên nếu nhìn lại vào tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp
thì chưa chắc gì các con số về P/E đã gây ồn ào đến vậy. Một công ty có thể có chỉ
số P/E cao, nhưng cho tới khi nhà đầu tư biết được mức tăng trưởng thu nhập thì
nhà đầu tư mới khẳng định được cổ phiếu đó có hấp dẫn hay không. Các phương
pháp kế toán khác nhau hoặc thay đổi phương pháp kế toán đều ảnh hưởng đến con
của loại cổ phiếu này cao hơn mức công bố. Ngược lại nếu tỉ lệ PEG nhỏ hơn 1, thì
hoặc cổ phiếu đó đang bị định giá thấp hoặc kì vọng của thị trường không tốt. PEG
là chỉ số được sử dụng rộng rãi để tính toán giá trị tiềm năng của một cố phiếu.
2.3.3 Rủi ro và tỷ số PERG.
Rủi ro là sự sai lệch giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Rủi ro trong chứng
khoán thể hiện sự sai lệch giữa lợi nhuận thực tế so với tính toán ban đầu của nhà
đầu tư. Trong đầu tư chứng khoán, không một phương pháp đầu tư nào được đánh
giá là không có rủi ro, hầu hết các bài ngiên cứu đều đưa đến nhận định rằng lợi
nhuận càng cao sẽ đi đôi với rủi ro càng lớn. Đối với đầu tư giá trị, rủi ro sẽ đi kèm
với việc thiếu hiểu biết về giá trị công ty. Điều này có nghĩa rằng nhà đầu tư càng
hiểu về công ty, hiểu về cổ phiếu thì rủi ro sẽ càng thấp và khả năng tối ưu hóa lợi
nhuận càng cao.
Trong kinh tế học, rủi ro được phân thành 2 loại là rủi ro hệ thống và rủi ro
phi hệ thống. Rủi ro hệ thống sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế như rủi ro lạm
phát, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá…Rủi ro phi hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một
tài sản, một cá thể trong thị trường. Trong đầu tư giá trị, rủi ro phi hệ thống được
11
giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa đầu tư và nhà đầu tư luôn luôn phải hiểu rõ cổ
phiếu nắm giữ. Tuy nhiên nhà đầu tư chỉ có thể giảm rủi ro hệ thống bằng cách lựa
chọn cổ phiếu có thể biến động với biên độ thấp nhất với toàn biến động thị trường.
Rủi ro luôn là một yếu tố rất quan trọng trong quyết định đầu tư cũng như ảnh
hưởng rất lớn đến lợi nhuận của danh mục. Tuy nhiên, yếu tố này đã bị bỏ qua trong
hai tỷ số P/E và PEG.
Phát triển từ tỷ số PEG, tỷ số PERG được cho là hoàn hảo hơn hẳn khi vừa
tính đến tốc độ tăng trưởng, vừa tính đến mức độ rủi ro của cổ phiếu. Hiện nay, hệ
số Beta và độ lệch chuẩn của danh mục được sử dụng rộng rãi để xác định rủi ro của
một tài sản. Beta là hệ số đo lường mức độ rủi ro hệ thống, nó thể hiện mối quan hệ
nhuận trung bình trên thị trường không.
Trong bài nghiên cứu của Hwang và Rubesam (2011) đã khẳng định rằng có
rất ít và hầu như là không có bằng chứng cho thấy cổ phiếu giá trị rủi ro hơn cổ
phiếu tăng trưởng và lợi nhuận từ những cổ phiếu giá trị tăng mạnh hơn những cổ
phiếu tăng trưởng khi thị trường phát triển mạnh nhưng khi thị trường đi xuống thì
cổ phiếu tăng trưởng đối mặt với nhiều khó khăn và rủi ro hơn cổ phiếu giá trị.
Trong khi đó, mô hình 3 nhân tố của Fama và French (1996) lại đưa ra một cách
nhìn khác: Trong dài hạn, cổ phiếu giá trị tạo ra lợi nhuận cao hơn cổ phiếu tăng
trưởng bởi vì cổ phiếu giá trị có rủi ro cao hơn. Đồng quan điểm với Fama và
French (1996), Petkova và Zhang (2003) cũng có nhận định tương tự: Cổ phiếu giá
trị rủi ro hơn cổ phiếu tăng trưởng trong thời kỳ suy thoái thị trường được dự kiến là
có rủi ro rất cao.
Các kết quả trên cho thấy rằng tồn tại mâu thuẫn giữa kết quả thực nghiệm
của các nhà phân tích về rủi ro và lợi nhuận của cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng
trưởng. Và vì thế mà tỷ số P/E, PEG đã trở thành những vấn đề được tranh luận một
cách rất sôi nổi.
Ba nhà phân tích kinh tế Alroaial et al (2012) đã nghiên cứu tỷ số P/E. Họ
nhận định rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa lợi nhuận của cổ phiếu và tỷ số
P/E, và tỷ số PEG là một biến số rất có ý nghĩa đối với lợi nhuận đầu tư. Sezgin
(2010) cũng có một những nhận định tương tự, ông nói rằng tỷ số PEG là một yếu
tố có sức ảnh hưởng đến quá trình đầu tư. Tuy nhiên ông cũng đưa ra một nhận định
mới đó là: PEG tăng khi nhà đầu tư sẵn sàng trả nhiều hơn cho một đồng lợi nhuận
của cổ phiếu trong khi lợi nhuận này lại không đổi. Khi PEG giảm, giá cổ phiếu vẫn