nghiên cứu thực nghiệm về chiến lược đầu tư giá trị trên sàn chứng khoán thành phố hồ chí minh - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: TÀI CHÍNH

TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
VỀ CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ GIÁ TRỊ TRÊN SÀN
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sinh viên: TRẦN NGUYỄN TUẤN ANH
MSSV: 1254030017
Ngành: Tài Chính
GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA
Khóa học: 2012 - 2016

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

LỜI CẢM ƠN
Với khoảng thời gian học tập 4 năm tại trường đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh dưới sự
chỉ dẫn và quan tâm của Ban Giám Hiệu nhà trường nói chung cũng như các giảng viên
khoa Đào Tạo Đặc Biệt nói riêng đã cho em nền tảng bước đầu làm hành trang trên con
đường sự nghiệp.
Cùng với đó là khoảng thời gian thực tập tiếp xúc thực tế hoạt động kinh doanh tại công ty
cổ phần chứng khoán ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Sài Gòn để làm đề tài
luận văn tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên ThS. Dương Tấn Khoa và

Giới hạn phạm vi của bài nghiên cứu: ................................................................ 6

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................................................... 7
2.1

Lược khảo: ............................................................................................................. 7

2.2

Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................... 7

2.3

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: .................................................................. 8

2.3.1

Giới thiệu về Harry Markowitz: ................................................................... 8

2.3.2

Khái quát về lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại của Markowitz: .......... 8

2.4

Rủi ro HIỆU CHỈNH: .......................................................................................... 9

2.5

Tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu: ........................................................................... 9

2.15.1 Phân phối chuẩn:.......................................................................................... 15
2.15.2 Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập t – test: ........................................ 15
Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 3


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

2.15.3 Kiểm định Mann – Whitney U:................................................................... 16
2.16 Phương pháp kiểm định: .................................................................................... 16
Chương 3: Phân tích dữ liệu và kết quả thực nghiệm ................................................ 17
3.1

Phân tích thống kê mô tả .................................................................................... 17

3.2

Kiểm định phân phối chuẩn ............................................................................... 18

3.3

Tỷ suất lợi nhuận của danh mục và thị trường ................................................ 19

3.4

Tỷ số Sharpe ........................................................................................................ 20



Danh mục giá trị qua các năm trong giai đoạn 2007 – 2014 .......................... 31

B.

Danh mục tăng trưởng qua các năm trong giai đoạn 2007 – 2014 ................ 32

Bảng thống kê hệ số P/E theo từng năm của các cổ phiếu trên sàn chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh .................................................................................. 33
C.

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................... 39

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 4


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG
Bảng 2.1: Lãi suất tín phiếu kho bạc nhà nước ............................................................. 14
Bảng 3.1: Tỷ số P/E trung bình của hai danh mục đầu tư ........................................... 17
Bảng 3.2: Kết quả kiểm định Shapiro – Wilk phân phối chuẩn của dữ liệu .............. 19
Bảng 3.3: Tỷ suất lợi nhuận của hai danh mục đầu tư và chỉ số VNIndex, giai đoạn
2007 – 2014 ........................................................................................................................ 19
Bảng 3.4: Tỷ số Sharpe của hai danh mục đầu tư: 2007 – 2014 .................................. 21
Bảng 3.5, Bảng 3.6, và Bảng 3.7: Kết quả kiểm định tỷ suất lợi nhuận của năm 2007,


Hiện nay, trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, các nhà
đầu tư luôn tìm kiếm những cổ phiếu đang bị định giá thấp so với giá trị thực và có tiềm
năng tạo ra giá trị trong tương lai. Một trong những phương pháp để nhận diện những cổ
phiếu loại này là phân tích những tỷ số tài chính của doanh nghiệp. Trong quá khứ, nhiều
nhà nghiên cứu tài chính đã nhận ra các đặc điểm rằng chiến lược đầu tư vào những “cổ
phiếu giá trị” thường đem lại giá trị và lợi nhuận cao hơn khi đầu tư vào những “cổ phiếu
tăng trưởng”. Mục đích của bài nghiên cứu này là để kiểm định xem chiến lược đầu tư giá
trị có phù hợp với một thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn phát triển và có nhiều
biến động như ở Việt Nam hay không?

1.2

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

Với Việt Nam, một thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển và
ngày càng có nhiều biến động do chịu sự ảnh hưởng của những sự kiện kinh tế cũng như
tâm lý của các nhà đầu tư chưa vững vàng và tin tưởng, đồng thời chúng ta cũng thiếu
những bài nghiên cứu kiểm định rằng chiến lược đầu tư giá trị có phù hợp ở Việt Nam hay
không thì bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào trả lời câu hỏi:
“Liệu rằng một danh mục đầu tư gồm những cổ phiếu giá trị có tạo ra tỷ suất lợi nhuận
cao hơn một danh mục đầu tư gồm những cổ phiếu tăng trưởng?”

1.3

GIỚI HẠN PHẠM VI CỦA BÀI NGHIÊN CỨU:

Bài nghiên cứu này sẽ giới hạn lựa chọn những công ty đã được niêm yết trên sàn chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh (tên tiếng anh: Ho Chi Minh Stock Exchange, viết tắt:
HOSE) và những số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu sẽ được thu thập trong giai

của cổ phiếu. Bài nghiên cứu này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1963 đến
năm 1990 và kết quả cho thấy rằng các cổ phiếu có hệ số P/E thấp “thể hiện” tốt hơn những
cổ phiếu có hệ số P/E cao.
Những bài nghiên cứu trước đây đa phần chỉ tập trung xoay quanh kiểm định các cổ phiếu
từ các sàn chứng khoán lớn ở các nước mà ngành công nghiệp tài chính đã rất phát triển,
Hoa Kỳ là một điển hình. Vì thế, bài nghiên cứu này mục đích còn muốn kiểm định xem
liệu rằng chiến lược đầu tư giá trị sẽ có thể áp dụng được tại các thị trường nhỏ, các nước
mà ngành tài chính vẫn đang trong giai đoạn phát triển, cụ thể trong bài này sẽ tiến hành
thực nghiệm trên các cổ phiếu được lấy từ sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, Việt
Nam.

2.2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu liệu rằng một danh mục đầu tư gồm những cổ phiếu
giá trị có tạo ra lợi nhuận và giá trị cao hơn một danh mục đầu tư gồm những cổ phiếu tăng
trưởng hay không bằng việc thiết lập các giả định và kiểm định chúng thông qua những
công cụ thống kê. Vì thế phân tích định lượng là phương pháp sẽ được sử dụng chủ yếu
trong bài nghiên cứu này.

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 7


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

2.3


𝜎𝑃 = (𝑊𝐴2 𝑅𝐴2 + 𝑊𝐵2 𝑅𝐵2 + 2𝑊𝐴 𝑊𝐵 𝜎𝐴 𝜎𝐵 𝜌𝐴𝐵 )1/2

(2)

Theo công thức (2), mức độ rủi ro hay còn gọi là độ lệch chuẩn (𝜎) của danh mục đầu tư
phụ thuộc vào tỷ trọng, phương sai của từng tài sản và hệ số tương quan giữa các tài sản
đó. Ý tưởng cho công thức trên là nếu công ty A đang có dấu hiệu suy thoái hay chịu những
tin tức xấu thì giá cổ phiếu của công ty A sẽ đi xuống. Và nếu trong danh mục này, cổ phiếu
của công ty B có tương quan thuận với cổ phiếu của công ty A thì giá cổ phiếu của công ty
B cũng sẽ giảm dựa trên mức độ tương quan với cổ phiếu của công ty A.

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 8


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

2.4

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

RỦI RO HIỆU CHỈNH:

Trong mỗi thương vụ đầu tư, các nhà đầu tư, doanh nhân hay các giám đốc những tập đoàn
lớn đều phải đương đầu với những rủi ro nhất định. Riêng đối với cổ phiếu, rủi ro bao gồm
hai loại đó là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến
toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản đang được giao dịch trên thị trường, vì thế người ta còn gọi
đó là rủi ro thị trường. Các yếu tố tạo nên rủi ro hệ thống là do sự bấp bênh của các nền
kinh tế nói chung như GDP sụt giảm, lãi suất tiền vay tăng cao hay tốc độ lạm phát tăng…


𝑃𝑡
−1
𝑃𝑡−1

(4)

Trong đó, giá cổ phiếu được lấy sẽ là giá đóng cửa vì đó là giá đã điều chỉnh sau một ngày
giao dịch. Điều này có nghĩa là tác động của cổ tức đã được điều chỉnh vào giá đóng cửa
của cổ phiếu.
Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 9


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

2.6

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO:

Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng khoán
đó, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao có lợi nhuận cao và ngược lại. Hay
nói khác đi, nhà đầu tư giữ chứng khoán có rủi ro cao chỉ khi nào lợi nhuận kỳ vọng đủ lớn
để bù đắp rủi ro.
Đầu tư ít rủi ro nhất là tín phiếu Kho bạc nhà nước. Bởi vì tỷ suất lợi nhuận từ tín phiếu
Kho bạc là cố định và nó không bị ảnh hưởng bởi những gì xảy ra đối với thị trường. Những
nhà đầu tư không chấp nhận tỷ suất lợi nhuận đến từ danh mục đầu tư của họ thấp hơn tỷ

Dodd (1934) cho rằng một cổ phiếu trở nên “giá trị” là do công ty có hoạt động kinh doanh
không tốt trong quá khứ dẫn đến việc kỳ vọng của các nhà đầu tư về sự yếu kém này sẽ tiếp
tục tiếp diễn trong tương lai. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh yếu kém trong quá khứ
không thể hiện việc công ty sẽ đi đến phá sản mà nó có thể là một tín hiệu cho rằng công
Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 10


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

ty đã đạt đến độ “trưởng thành” khi mà tốc độ tăng trưởng của công ty trở nên ổn định và
nó không cho thấy những dấu hiệu về tốc độ tăng trưởng như nhà đầu tư kỳ vọng. Fama &
French (1998) thì cho rằng các công ty có cổ phiếu giá trị là những công ty đang trong giai
đoạn khó khăn, khủng hoảng và do đó cổ phiếu của các công ty ấy bị định giá cũng như
giao dịch ở mức thấp hơn so với giá trị nội tại.

2.9

CÁC MÔ HÌNH VỀ CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ GIÁ TRỊ
ĐƯỢC ÁP DỤNG THÀNH CÔNG TRÊN THẾ GIỚI:

2.9.1

Ben Graham – Giá trị nội tại: Mô hình “giá hời”:

Trên thực tế, mô hình của Benjamin Graham được coi là mô hình lâu đời và thành công
nhất cho đến nay. Bằng chứng là học trò “ruột” của ông, tỷ phú Warren Buffett, đã rất nổi

TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

2.9.3
Mô hình cổ phiếu nhỏ - lợi nhuận lớn: Cơ hội đầu tư vào
những công ty có vốn hóa thị trường nhỏ:
Những người tham gia thị trường chứng khoán thường bỏ qua hoặc không mấy hứng thú
với các công ty có vốn hóa nhỏ bởi vì họ cho rằng những công ty này không có tiềm năng
hoặc không đủ năng lực tài chính để trụ vững trên thị trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt
như hiện nay. Thế nhưng, số liệu quá khứ cho thấy trong những giai đoạn nền kinh tế ổn
định hoặc tăng trưởng thì các công ty vốn hóa nhỏ hoạt động rất hiệu quả và đôi khi vượt
trội cả những công ty có giá trị vốn hóa lớn.
Tuy nhiên, việc tìm kiếm các cổ phiếu của những công ty loại này thường đòi hỏi việc phân
tích phải có chiều sâu và cẩn thận bởi vì chúng mang nhiều rủi ro. Những nhà đầu tư áp
dụng mô hình này thường có khuynh hướng sử dụng các điều kiện và giả định mang tính
định lượng để loại bỏ các cổ phiếu của những công ty yếu kém, và sau đó lọc ra một danh
mục gồm những công ty đáp ứng đủ các điều kiện và giả định đó. Trong các mô hình của
chiến lược đầu tư giá trị, các nhà đầu tư luôn luôn xem xét đến giá trị tài sản của các công
ty, và điều này càng đúng trong trường hợp này vì các công ty vốn hóa nhỏ nếu có giá trị
tài sản ròng cao thường hoạt động tốt và có tiềm năng phát triển rất lớn.

2.10 CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ:
Khái niệm cổ phiếu giá trị được biết đến vào năm 1934 khi các nhà đầu tư tài ba thời bấy
giờ luôn tìm kiếm để đầu tư vào các loại cổ phiếu này, điển hình là Benjamin Graham. Để
đánh giá một cổ phiếu có phải là cổ phiếu giá trị hay không thì chúng ta cần phải tính toán
nhiều tỷ số khác nhau. Tuy nhiên, theo hai nhà kinh tế học Fama và French, nếu một công
ty có hệ số giá cả trên thu nhập (P/E) hoặc hệ số giá cả trên giá trị sổ sách (P/B) thấp thì cổ
phiếu của công ty đó được cho là cổ phiếu giá trị. Dựa trên lý luận của Fama và French,
trong bài nghiên cứu này sẽ lựa chọn cổ phiếu giá trị dựa trên tiêu chí có tỷ số P/E thấp.

là tỷ số tài chính so sánh giá cổ phiếu của một công ty với thu nhập trên một cổ phần
(Earnings per share – EPS) của công ty đó. Công ty có chỉ số P/E thấp (cao) thường đem
đến kỳ vọng cho nhà đầu tư rằng lợi nhuận (thu nhập) trong tương lai của công ty đó cũng
sẽ thấp (cao) (Bodie et al, 2009). Ngoài ra, tỷ số P/E còn được coi là số nhân (multiple) của
một cổ phiếu khi nó cho chúng ta biết các nhà đầu tư sẽ sẵn lòng chi trả bao nhiêu cho mỗi
đô – la tiền lãi. Nói cách khác, một cổ phiếu có tỷ số P/E là 15 có nghĩa là những nhà đầu
tư sẵn lòng chi trả $15 cho mỗi đô – la lợi nhuận mà công ty đó tạo ra.
Tỷ số P/E được tính theo công thức sau:
𝑇ỷ 𝑠ố 𝑃/𝐸 =

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ

(5)

2.13 LỰA CHỌN DỮ LIỆU MẪU VÀ TẠO LẬP DANH MỤC ĐẦU
TƯ:
Trong bài nghiên cứu này, tất cả các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh sẽ được coi là tổng thể, hiện nay có khoảng 300 công ty được niêm yết trên
sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu sẽ được kiểm định trong 7 năm từ năm
2007 đến 2014, vì thế, tôi sẽ tạo lập hai danh mục, bao gồm danh mục giá trị và danh mục
tăng trưởng, trong mỗi năm. Mỗi danh mục sẽ bao gồm 25 cổ phiếu được lựa chọn theo
từng tiêu chí đối với cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng trưởng, khái niệm được đề cập ở phần
2.7.1 và 2.7.2. Các cổ phiếu trong mỗi danh mục sẽ thay đổi qua mỗi năm vì sau giai đoạn
một năm có thể có những cổ phiếu không đáp ứng được điều kiện đối với khái niệm cổ
phiếu giá trị hoặc cổ phiếu tăng trưởng. Tuy nhiên, sau khi thống kê số liệu thì có một số
công ty với số liệu P/E “bất thường”, ví dụ, với những cổ phiếu được cho là thuộc cổ phiếu
giá trị thì chỉ số P/E lại có giá trị âm, và với những cổ phiếu được cho là thuộc cổ phiếu
tăng trưởng thì lại có chỉ số P/E quá cao – ví dụ cổ phiếu mã TYA có chỉ số P/E lên tới
100.6 vào năm 2007 – dẫn đến những rủi ro lớn về khả năng thanh khoản của các cổ phiếu

4,15

2008

12,13

2009

8,04

2010

11,15

2011

12,35

2012

8,82

2013

6,64

2014

5,04
Nguồn: www.data.imf.org

kiểm định được tính toán theo công thức sau:
𝑡𝑃𝑜𝑟𝑡𝑓𝑜𝑙𝑖𝑜 𝑅𝑒𝑡𝑢𝑟𝑛 =

(𝑅̅𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒 − 𝑅̅𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ ) − Δ0


2
𝜎2
𝜎𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒
+ 𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ
𝑁𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒 𝑁𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ

(6)

Trong đó, 𝑅̅𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒 − 𝑅̅𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ là chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận trung bình năm của
danh mục giá trị và danh mục tăng tưởng, Δ0 là chênh lệch giả định giữa hai danh mục
2
𝜎𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒

đó, và √

𝑁𝑉𝑎𝑙𝑢𝑒

+

2
𝜎𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ

𝑁𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ



2.16 PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH:
Sau khi tiến hành kiểm định dữ liệu mẫu dựa trên phương pháp Shapiro – Wilk thì chúng
ta sẽ biết được dữ liệu về chỉ số P/E thu thập được có dạng phân phối chuẩn hay không.
Như vậy, trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ sử dụng một trong hai phương pháp để
kiểm định giả thuyết được đặt ra đó là:
Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập t – test , nếu mẫu của chúng ta có phân phối
chuẩn.
Kiểm định Mann – Whitney U, nếu mẫu của chúng ta không có dạng phân phối
chuẩn.
Các kiểm định thống kê trong bài nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên phần mềm IBM
SPSS.

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 16


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
THỰC NGHIỆM
Chương này sẽ tiến hanh phân tích dữ liệu dựa vào sự hỗ trợ của hai phần mềm chủ yếu
đó là IBM SPSS và Microsoft Excel. Cuối cùng, dựa vào các kết quả phân tích sẽ đưa ra
được câu trả lời cho câu hỏi đề cập ở chương 1.

3.1


6.53

Danh mục tăng
trưởng
31.85
20.29
26.19
26.33
29.22
34.64
37.28
35.25

Trang | 17


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

Biểu đồ 3.1: Tỷ số P/E trung bình của hai danh mục.

Tỷ số P/E trung bình giữa hai danh mục
34.64
31.85

37.28

35.25



2012

2013

2014

Danh mục tăng trưởng

Dựa vào bảng 3.1 và biểu đồ 3.1, ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng danh mục giá trị là tập
hợp của những cổ phiếu có tỷ số P/E thấp, và ngược lại, danh mục tăng trưởng là tập hợp
của các cổ phiếu có tỷ số P/E cao. Nhìn vào biểu đồ 3.1, tỷ số P/E trung bình của cả hai
danh mục đều có điểm chung là giảm mạnh vào năm 2008 khi mà khủng hoảng tài chính
diễn ra ở Mỹ và tác động của nó lan rộng ra toàn cầu. Sau cuộc khủng hoảng, tỷ số P/E
trung bình của danh mục giá trị thể hiện xu hướng ổn định nhiều hơn so với số liệu của
danh mục tăng trưởng, tỷ số P/E trung bình của danh mục này thể hiện xu hướng tăng đều
từ năm 2009 và chỉ giảm nhẹ ở năm 2014.

3.2

KIỂM ĐỊNH PHÂN PHỐI CHUẨN

Biểu đồ 3.2: Kiểm định phân phối chuẩn

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Để kiểm định xem dữ liệu P/E được thu thập
trong bài nghiên cứu này có phân phối chuẩn
hay không thì chúng ta sẽ tiến hành kiểm định
Shapiro – Wilk trên SPSS. Biểu đồ 3.2 thể


Statistic
.001

.704

df

Sig.
25

.000

a. Lilliefors Significance Correction

Như chúng ta thấy, giá trị Sig. (p – value) có mức ý nghĩa là 0.00, điều đó có cho chúng ta
biết dữ liệu thu thập của chúng ta không có dạng phân phối chuẩn và do đó trong bài nghiên
cứu này sẽ sử dụng kiểm định Mann – Whitney U để kiểm định giả thuyết thống kê được
đặt ra ở phần sau.

3.3

TỶ SUẤT LỢI NHUẬN CỦA DANH MỤC VÀ THỊ TRƯỜNG

Dưới đây là bảng tỷ suất lợi nhuận từng năm của cả hai danh mục trong giai đoạn 2007 –
2014:
Bảng 3.3: Tỷ suất lợi nhuận của hai danh mục đầu tư và chỉ số VNIndex, giai đoạn
2007 – 2014
Năm
2007

55.92%
-4.12%
-30.85%
19.85%
20.19%
9.52%

Qua bảng trên ta thấy, tỷ suất lợi nhuận thay đổi qua từng năm và ở mức khá thấp. Riêng
đối với năm 2008, tỷ suất lợi nhuận của cả hai danh mục và thị trường đều âm, điều này
phản ánh đúng thực trạng khủng hoảng tài chính xảy ra vào năm đó. Vào năm 2009, các
doanh nghiệp đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại với sự phục hồi khá tốt của thị trường, tỷ suất

Tỷ suất lợi nhuận trên tính theo năm và được tính bằng cách lấy trung bình tỷ suất lợi nhuận theo ngày nhân với số
ngày giao dịch thực tế là 250 ngày.
1

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 19


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

lợi nhuận của danh mục giá trị, danh mục tăng trưởng và chỉ số VNIndex lần lượt là 54%,
38%, và 56%. Tuy nhiên, hai năm tiếp theo, 2010 và 2011, các doanh nghiệp Việt Nam
dường như bị “đuối sức” khi phải gồng mình chống chọi lại tác động to lớn của cuộc khủng
hoảng năm 2008 và một phần có thể do tâm lý thị trường dao động mạnh sợ rằng sẽ lại tiếp
tục có thêm một cuộc khủng hoảng trong tương lai gần nên khiến cho thị trường chứng


Biểu đồ trên còn cho thấy, trong giai đoạn 7 năm từ 2007 đến 2014, tỷ suất lợi nhuận của
cả hai danh mục giá trị và danh mục đầu tư và chỉ số VNIndex đều giảm sút mạnh vào năm
2008 khi khủng hoảng tài chính xảy ra. Những năm sau đó ghi nhận việc hồi phục khá khả
quan của các công ty ở Việt Nam dẫn đến việc tỷ suất lợi nhuận của cả hai danh mục đạt
đỉnh vào năm 2009 trước khi suy giảm ở 2 năm tiếp theo 2010, 2011 do nền kinh tế thế giới
có nhiều biến động. Ngoài ra, dễ dàng thấy được rằng tỷ suất lợi nhuận của danh mục giá
trị cao hơn tỷ suất lợi nhuận của danh mục tăng trưởng ở hầu hết các năm và thậm chí là
cao hơn cả tỷ suất lợi nhuận của toàn thị trường.

3.4

TỶ SỐ SHARPE

Tỷ số Sharpe sẽ cho ta biết danh mục đầu tư có hoạt động hiệu quả hay không bằng cách
so sánh tỷ suất lợi nhuận của danh mục với tỷ suất phi rủi ro, trong bài nghiên cứu này thì
tín phiếu kho bạc nhà nước sẽ được dùng như là lãi suất phi rủi ro, trên một đơn vị rủi ro,
rủi ro của danh mục được đo bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận của danh mục đó.
Hay nói cách khác, với một đơn vị rủi ro thì danh mục đầu tư sẽ tạo ra được bao nhiêu lợi
nhuận. Bảng sau đây sẽ so sánh tỷ số Sharpe giữa danh mục giá trị và danh mục đầu tư:

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 20


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA



Danh mục tăng trưởng
21.31%
-43.23%
35.73%
-60.63%
-105.97%
3.93%
38.53%
87.16%

Theo bảng số liệu thì nó cũng phản ánh được tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu lên nền kinh tế của Việt Nam khi cả hai danh mục đều cho ra tỷ số Sharpe
âm vào năm 2008, điều này phản ánh tỷ suất lợi nhuận danh mục đầu tư đem lại không đủ
bù đắp được lãi suất phi rủi ro, trong đó danh mục giá trị đem lại một con số âm khá lớn ( 301.27%), đây là bằng chứng cho thấy “sức khỏe” của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Việt Nam vẫn rất “bấp bênh” trước những cơn “bạo bệnh” của nền tài chính thế giới nói
chung và của Việt Nam nói riêng. Hơn nữa, thông qua đây nó còn thể hiện được rằng tâm
lý của các nhà đầu tư trong nước không hề vững vàng mỗi khi thị trường có biến cố xảy ra.
Trong giai đoạn 2010 – 2011, số liệu cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam một lần nữa phải
trải qua những cơn sụt giá khá lớn do “sức khỏe” của nền kinh tế vẫn chưa đủ mạnh để hồi
phục cũng như các nhà đầu tư tiếp tục lo sợ về một cơn khủng hoảng khác xảy ra sau khi
các tín hiệu tăng giá lên khá cao trong năm 2009. Đỉnh điểm của giai đoạn này là năm 2011
khi mà của hai danh mục đều cho ra những kết quả âm khá cao, danh mục giá trị là 126.93%, danh mục tăng trưởng là -105.97%. Thế nhưng, trong 2 năm tiếp theo, 2013 và
2014, các dấu hiệu về sự phục hồi của nền kinh tế đã được thể hiện rõ rệt qua những con
số.

Trần Nguyễn Tuấn Anh

Trang | 21



Bảng 3.5, Bảng 3.6, và Bảng 3.7: Kết quả kiểm định tỷ suất lợi nhuận của năm 2007,
2008, và 2009.
Test Statisticsa

Test Statisticsa

P2008

P2007
Mann-Whitney U
Wilcoxon W

Test Statisticsa

292.000

Mann-Whitney U

151.000

617.000

Wilcoxon W

304.000

Z

-.398

Point Probability

.003

a. Grouping Variable: Order2

a. Grouping Variable: Order1

P2009
Mann-Whitney U

215.000

Wilcoxon W

540.000

Z

-1.892

Asymp. Sig. (2-tailed)

.059

Exact Sig. (2-tailed)

.059

Exact Sig. (1-tailed)


Wilcoxon W

552.000

Z

-.853

Z

-1.659

Asymp. Sig. (2-tailed)

.394

Asymp. Sig. (2-tailed)

.097

Exact Sig. (2-tailed)

.403

Exact Sig. (2-tailed)

.099

Exact Sig. (1-tailed)

Z

-2.008

Asymp. Sig. (2-tailed)

.045

Exact Sig. (2-tailed)

.044

Exact Sig. (1-tailed)

.022

Point Probability

.001

a. Grouping Variable: Order6

Trang | 23


TRƯỜNG ĐH MỞ TP.HCM

GVHD: ThS. DƯƠNG TẤN KHOA

Bảng 3.11, và Bảng 3.12: Kết quả kiểm định tỷ suất lợi nhuận của năm 2013, và


-.456

Asymp. Sig. (2-tailed)

.061

Asymp. Sig. (2-tailed)

.648

Exact Sig. (2-tailed)

.062

Exact Sig. (2-tailed)

.658

Exact Sig. (1-tailed)

.031

Exact Sig. (1-tailed)

.329

Point Probability

.001

Trong chương này, chúng ta sẽ đi qua những năm mà nền kinh tế thế giới nói chung và
nền kinh tế Việt Nam nói riêng rơi vào tình trạng suy thoái, tăng trưởng lao dốc, và các
cuộc khủng hoảng nợ công có những tác động mạnh mẽ qua lại giữa các nền kinh tế trên
thế giới.

4.1

NĂM 2008 – KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HOA KỲ

4.1.1

Nguyên nhân

Năm 2008 được coi là một năm bi tráng của nền kinh tế thế giới khi cuộc khủng hoàng tài
chính bùng phát tại Hoa Kỳ và lan rộng ra toàn cầu, hậu quả khiến cho nhiều định chế tài
chính khổng lồ sụp đổ cùng với sự khuynh đảo của thị trường chứng khoán.
Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng là do sự nổi lên của bong bóng thị trường bất động
sản. Từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng ở Hoa Kỳ giảm
từ 6,5% xuống còn 1,75%, kéo theo đó lãi suất tín dụng thứ cấp cũng giảm theo. Đây được
coi là nhân tố kích thích cho sự phát triển trong lĩnh vực bất động sản và xây dựng. Và trong
môi trường tín dụng có thể dễ dàng được tiếp cận, những tổ chức và các định chế tài chính
bắt đầu có xu hướng thực hiện các gói vay mạo hiểm dành cho những người có thu nhập và
mức độ xếp hạng tín dụng thấp, bao gồm cả những người nhập cư bất hợp pháp. Hệ quả là
đến thời điểm năm 2005, số nhà được mua nhằm mục đích đầu cơ lên tới 28% và 12% số
nhà được mua nhưng không sử dụng. Đến quý I năm 2006, tổng giá trị lũy kế các khoản tín
dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ đô – la.
Tháng 8 năm 2008, nền kinh tế Hoa Kỳ chứng kiến sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman
Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Hoa Kỳ, và cuộc khủng
hoảng đã lan rộng ra toàn cầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status