Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo HĐTTTP việt nam nga và việt nam ba lan, thừa kế có YTNN theo pháp luật australia - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

MÔN HỌC: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
LỚP: CLC38B
DANH SÁCH NHÓM 4:
HỌ VÀ TÊN
MAI DIỆU PHƯƠNG
HUỲNH THỊ KIM PHƯỢNG
PHAN ANH TÚ
QUÁCH YẾN NHI
NGUYỄN MINH THƯƠNG
PHẠM HẢI YẾN
HỒ NGUYỄN BẢO TRÂN

MÃ SỐ SINH VIÊN
1353401010058
1353801011190
1353801011264
1353801014146
1353801015275
1353801015332
1351101030117


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

MỤC LỤC
....................................................................................................................................................... 2

ngoài trong pháp luật Australia...................................................................................................................
III.6. Di sản..................................................................................................................................................
III.6.1. Di sản thừa kế theo di chúc.........................................................................................................
III.6.2. Giải quyết di sản thừa kế không theo di chúc.............................................................................
III.6.4. Thừa kế bắt buộc.........................................................................................................................

2


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT (XĐPL)
VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC
TẾ
I.1. Khái niệm XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong tư pháp
quốc tế
XĐPL là một hiện tượng phổ biến và đặc thù trong lĩnh vực tư pháp
quốc tế nói chung và trong lĩnh vực thừa kế nói riêng. XĐPL về thừa kế có
yếu tố nước ngoài được hiểu là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống
pháp luật của hai hay nhiều quốc gia cùng có thể được áp dụng để điều
chỉnh một mối quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài mà áp dụng hệ thống
pháp luật của hai hay nhiều quốc gia sẽ cho ra những hệ quả khác nhau.
Nội dung pháp luật về thừa kế trong hệ thống pháp luật dân sự của
các nước thường đề cập đến hai hình thức thừa kế: thừa kế theo luật và
thừa kế theo di chúc. Như vậy, sự khác biệt về nội dung pháp luật thừa kế
giữa các nước, nếu có, sẽ xoay quanh những vấn đề liên quan đến: hàng
thừa kế, nguyên tắc chia di sản, nghĩa vụ của người thừa kế, hình thức
hợp pháp của di chúc, năng lực hành vi lập, sửa đổi, hủy bỏ di chúc…1

tính bản chất vẫn tồn tại và được áp dụng. Trên cơ sở đó, các hiệp định
TTTP giữa Việt Nam với các nước được kí kết dựa trên nguyên tắc bình
đẳng và tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, tăng cường hợp tác trên lĩnh vực tư pháp để có thể giải
quyết tốt các quan hệ có yếu tố nước ngoài khi các quan hệ này xuất hiện.
Nguyên tắc chủ đạo trong vấn đề thừa kế được ghi nhận trong các
hiệp định là nguyên tắc bình đẳng giữa công dân các bên trong quan hệ
thừa kế: công dân nước kí kết này bình đẳng với công dân nước kí kết kia
trong việc lập, hủy bỏ di chúc đối với tài sản đang có và các quyền cần
thực hiện ở nước kí kết kia cũng như về khả năng được nhận tài sản hoặc
các quyền theo cùng những điều kiện mà nhà nước kí kết kia dành cho
công dân nước mình (Điều 38 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam – Nga; Điều
40 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam – Ba Lan).
Về tính ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế trong việc giải quyết các
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài nói riêng, khoản 2 Điều 759 BLDS 2005 quy định: “Trong
trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy
định của Điều ước quốc tế đó”. Như vậy, tại Việt Nam, giải quyết các quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài liên quan đến pháp luật Việt Nam và Nga
thì sẽ dựa vào các quy định tại Hiệp định TTTP được ký kết giữa Việt Nam
và Nga. Tương tự, áp dụng các quy định tại Hiệp định TTTP giữa Việt
Nam - Ba Lan để giải quyết các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài liên
quan đến pháp luật Việt Nam và Ba Lan.
4


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

pháp luật về thừa kế bất động sản.
5


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

(iii) Xung đột pháp luật về định danh tài sản:
Muốn áp dụng được các quy phạm tại khoản 1 và khoản 2 Điều 39
thì trước tiên là cần phải phân định di sản. Việc xác định di sản là động
sản hay bất động sản là tiền đề để áp dụng các nguyên tắc tương ứng để
giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế.
Do pháp luật Việt Nam và Nga không có nguyên tắc thống nhất để
phân định tài sản là động sản hay bất động sản. Do đó, có thể xảy ra
trường hợp, cùng một tài sản, một bên cho rằng đó là động sản, bên kia
lại cho rằng đó là bất động sản nên dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật
về định danh tài sản. Để giải quyết vấn đề này, Hiệp định TTTP giữa Việt
Nam – Nga đã áp dụng hệ thuộc luật nơi có vật. Cụ thể là theo khoản 3
Điều 39 của Hiệp định này: “Việc phân biệt di sản là động sản hay bất
động sản được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi có di sản đó”.
Như vậy, nếu di sản thừa kế nằm trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật Việt
Nam sẽ được áp dụng để xác định di sản là động sản hay bất động sản.
Ngược lại, nếu di sản thừa kế nằm ở nước Nga thì áp dụng pháp luật của
Nga.

II.1.1.2. Giải quyết XĐPL về thừa kế theo di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của

mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên để di chúc có hiệu lực thì di

Tại các Hiệp định tư pháp mà Việt Nam ký kết đều có quy định cụ
thể về vấn đề hình thức di chúc. Hình thức di chúc phải tuân theo pháp
luật của nước ký kết mà người lập di chúc là công dân vào thời điểm lập
di chúc, tuy nhiên di chúc cũng được coi là hợp pháp nếu tuân theo pháp
luật của nước ký kết nơi lập di chúc.
Ví dụ: Anh A mang quốc tịch Việt Nam trong quá trình công tác ở
Nga do gặp sự cố bất ngờ chết, trước khi chết A có lập di chúc để lại tài
sản cho người thân ở Việt Nam. Trong trường hợp này, do hai nước Việt
Nam và Nga có kí kết với nhau Hiệp định TTTP, do đó, Hiệp định TTTP sẽ
được ưu tiên áp dụng. Cụ thể là khoản 1 Điều 41 của Hiệp định áp dụng hệ
thuộc luật quốc tịch để xác định năng lực lập di chúc. Tại thời điểm lập di
chúc, A là công dân Việt Nam, do đó, việc xác định năng lực lập di chúc của
A được xác định theo pháp luật Việt Nam. Hình thức lập di chúc được xác
định theo pháp luật của Việt Nam hay Nga đều sẽ được thừa nhận là hợp
thức (theo quy định tại khoản 2 Điều 41 của Hiệp định này 2.
(iii) Mở (công bố) di chúc:
Điều 43 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam - Nga quy định việc công bố
di chúc được tiến hành bởi cơ quan của bên kí kết nơi để lại di chúc đó.
2

Trần Kim Ngon (2010), “Thừa kế có yếu tố nước ngoài”, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Cần

Thơ, tr. 24-26.
[https://123tailieu.com/thua-ke-co-yeu-to-nuoc-ngoai.html]

7


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B

đề chọn luật. Cụ thể là 3:
Đối với thừa kế động sản, áp dụng pháp luật của nước kí kết mà
người để lại tài sản là công dân. Và để giải quyết thừa kế động sản, thẩm
3

Nguyễn Hồng Bắc, “Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong một số

Điều ước quốc tế Việt Nam kí kết với nước ngoài”, Tạp chí khoa học pháp lý số 06/1998, tr.53.

8


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

quyền thuộc về cơ quan tư pháp của nước kí kết mà người có tài sản là
công dân khi chết.
Đối với thừa kế bất động sản, áp dụng pháp luật của nước ký kết
nơi có bất động sản, thẩm quyền giải quyết thừa kế bất động sản thuộc cơ
quan tư pháp của nước ký kết nơi có bất động sản.
II.1.3. Vấn đề di sản không người thừa kế trong Hiệp định TTTP giữa Việt
Nam - Nga
Khái niệm về di sản không người thừa kế: Trường hợp công dân
nước này để lại di sản tại nước kia, theo quy định của pháp luật và theo di
chúc không có ai là người thừa kế, trong tư pháp quốc tế gọi là trường
hợp di sản không người thừa kế 4.
Về vấn đề này, theo Điều 40 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam – Nga
thì di sản không người thừa kế thuộc về Nhà nước nào sẽ do tính chất của
loại di sản quyết định. Theo đó, di sản không người thừa kế là động sản sẽ

(i)
Đối với động sản (khoản 1 Điều 41 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam
– Balan): “Về thừa kế động sản, áp dụng pháp luật của nước ký kết mà
người để lại động sản là công dân vào thời điểm chết”.
Ví dụ: A là công dân Ba Lan khi chết có để lại di sản thừa kế là động
sản ở trên lãnh thổ Việt Nam thì luật áp dụng để giải quyết thừa kế động
sản này sẽ là luật của nước Ba Lan.
Như vậy, theo quy định tại điều khoản này, khi giải quyết xung đột
pháp luật về thừa kế động sản thì áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của
người để lại tài sản. Theo nguyên tắc này, người để lại di sản là động sản
nếu là công dân nước nào sẽ áp dụng luật của nước đó để điều chỉnh quan
hệ thừa kế.
(ii)
Đối với bất động sản (khoản 2 Điều 41 Hiệp định TTTP giữa Việt
Nam – Balan): “Về thừa kế bất động sản, áp dụng pháp luật của nước ký
kết nơi có bất động sản”.
Ví dụ: A là công dân Ba Lan khi chết có để lại di sản thừa kế là 1
mảnh đất (bất động sản) ở Việt Nam thì luật áp dụng để giải quyết thừa
kế bất động sản này sẽ là luật của Việt Nam.
Như vậy, Hiệp định đã áp dụng hệ thuộc luật nơi có vật để giải
quyết xung đột pháp luật về thừa kế bất động sản.
II.2.1.2. Thừa kế theo di chúc
(i) Hình thức di chúc:
Theo qui định tại khoản 1 Điều 42 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam
và Ba Lan thì hình thức lập và hủy bỏ di chúc áp dụng hệ thuộc luật quốc
tịch. Tuy nhiên, di chúc vẫn hợp thức nếu tuân theo pháp luật của nước ký
kết nơi lập chúc.
Ví dụ: A là công dân Việt Nam, đi du lịch, qua đời, viết di chúc tại Ba
Lan. Trong trường hợp này, hình thức lập di chúc được xác định theo
pháp luật Việt Nam (cụ thể là Điều 649 BLDS 2005) (áp dụng hệ thuộc

Theo đó vấn đề thẩm quyền giải quyết thuộc về cơ quan tư pháp của nước
ký kết nào sẽ phụ thuộc về loại tài sản. Căn cứ theo Điều 43 Hiệp định
TTTP giữa Việt Nam – Ba Lan, thẩm quyền giải quyết thừa kế được xác
định như sau:
(i) Đối với động sản (khoản 1 Điều 43 Hiệp định TTTP giữa Việt
Nam - Ba Lan:”Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế động sản là

11


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

cơ quan của nước ký kết mà người để lại tài sản là công dân khi chết, trừ
trường hợp nói ở khoản 4 điều này".
Khoản 4 Điều này quy định trong trường hợp công dân nước ký kết
này sau khi chết để lại toàn bộ động sản trên lãnh thổ trước ký kế kia, thì
thể theo yêu cầu của một người thừa kế, theo di chúc hoặc theo pháp luật,
cơ quan của nước ký kết kia sẽ tiến hành thủ tục về thừa kế, nếu được sự
đồng ý của tất cả những người thừa kế theo di chúc mà người ta biết nơi
thường trú hoặc tạm trú của họ.
(ii) Đối với bất động sản (khoản 2 Điều 43 Hiệp định TTTP giữa
Việt Nam – Ba Lan): “Đối với việc thừa kế bất động sản, cơ quan có thẩm
quyền giải quyết là cơ quan của nước ký kết nơi có bất động sản”.
Bên cạnh đó, các quy định nói ở khoản 1 và khoản 2 điều này cũng
được áp dụng tương ứng đối với các tranh chấp về vấn đề thừa kế (khoản
3 Điều 43 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam – Ba Lan).
CHƯƠNG III: THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT
AUSTRALIA

hoặc động sản hữu hình, xác định sự tồn tại của chúng là một vấn đề
không mấy khó khăn. Tuy nhiên, đối với những món nợ hoặc tài sản vô
hình (như các quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền...), việc đầu tiên Tòa án cần
làm là xác định vị trí phát sinh những tài sản đó theo quy định của pháp
luật để đưa ra kết luận rằng Tòa này có thẩm quyền để chỉ định người đại
diện cá nhân của di chúc hay không6.
Tại Queensland và một số vùng lãnh thổ khác, Tòa tối cao có thẩm
quyền giải quyết các vấn đề của thừa kế ngay cả khi tài sản của người quá
cố không tồn tại trong phạm vi lãnh thổ của họ. Pháp luật vùng này không
hạn chế thẩm quyền của Tòa án trong việc chỉ định người đại diện cá
nhân của di chúc. Tuy nhiên, quy định của Alrich v Attorney- General
Ormorod chỉ ra rằng, ở các quốc gia sử dụng pháp luật song song với
pháp luật Anh, việc không tồn tại tài sản trong phạm vi thẩm quyền là trái
với nguyên tắc khẳng định quyền và nghĩa vụ, trừ khi người chết đã cư
trú trong lãnh thổ đó.
Khái niệm “forum non conveniens” (là quyền tùy ý cho phép một
Tòa án từ chối vụ việc thuộc thẩm quyền của họ khi một Tòa khác có thẩm
quyền phù hợp hơn trong việc giải quyết vụ việc trên) không có vai trò
5

Mortensen, Richard Garnett and Mary Keyes (2011), “International Private Law”, Pub. LexisNexis

Butterworths, p. 517.
6

Tlđd 05, tr. 518.

13



tại Australia. Theo đó, nguyên tắc cơ bản là di chúc được công nhận và
cho thi hành tại nước ngoài hoặc một quốc gia thuộc Thịnh Vượng Chung,
7
8

Tlđd 05, tr. 519.
Tlđd 05, tr. 521-523.

14


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

cũng có giá trị pháp lý tương tự tại Australia. Điều này sẽ cho phép người
thừa kế hoặc người đại diện của họ được quyền quản lý các tài sản đăng
ký tại nước Australia9.
Ví dụ: Nếu một cá nhân cư trú tại Anh, qua đời, để lại một tài khoản
ngân hàng và một căn nhà tại Australia. Các yêu cầu của người thừa kế
nước Anh có thể không được công nhận bởi các tổ chức tài chính của
Australia. Resealing là một cách hiệu quả cho phép người thừa kế quản lý
tài khoản ngân hàng và căn nhà tại Australia.
Trong tất cả các tiểu bang và vùng lãnh thổ của Australia, pháp
luật cho phép công nhận và cho thi hành di chúc của các quốc gia thuộc
Thịnh Vượng Chung tại Australia. Và theo đó, việc quản lý và phân chia tài
sản trong các tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ trở nên hiệu quả hơn. Để có
quyền quản lý tài sản nằm trên lãnh thổ Australia phải được sự cho phép
của Tòa án Australia thông qua việc Tòa án Australia công nhận và cho
thi hành di chúc của tòa án thuộc các quốc gia Thịnh Vượng Chung. Điều

không thuộc khối Thịnh Vượng Chung).
Tại bang Victoria, vào những năm 80-88, Administration and
Probate Act (1958) quy định rằng: “khi có yêu cầu của người thừa kế hoặc
người quản lý gốc, hoặc người được người thừa kế và người quản lý ủy
quyền, di chúc của tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi
hành tại Australia của bởi tóa án tối cao của Victoria”.
Ở Nam Australia, Điều 17 Administration and Probate Act (1919)
(SA) quy định rằng: “Di chúc và Administrator được lập tại các bang khác
hoặc tại Anh hoặc tại toà án nước ngoài bất kì thì sẽ được công nhận và
cho thi hành ở Nam Australia theo chế định re-sealing”. Điều 50 của Luật
di chúc năm 2005 đưa ra quy định về trình tự thủ tục.
Tại Tasmania, vào năm 48, Administration and Probate Act quy
định rằng: “Khi có yêu cầu của người thừa kế hoặc người quản lý gốc,
hoặc người được ủy quyền bởi người thừa kế, người quản lý gốc; di chúc
của tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành bởi Tòa án
Tối cao của Tasmania, theo đó di chúc được công nhận tại Tasmania có
giá trị pháp lý tương tự như di chúc gốc”.
Quy định này thông thường chỉ áp dụng cho di chúc được lập tại
nước sở tại có quan hệ qua lại trong việc công nhận và cho thi hành di
chúc. Quan hệ qua lại dường như được xác lập trong gần như tất cả các
quốc gia thuộc khối Thịnh Vượng Chung. Tuy nhiên, không có quyền công
nhận và cho thi hành di chúc của một trong các quốc gia thuộc Thịnh
Vượng Chung dựa trên quan hệ qua lại mà phụ thuộc hoàn toàn vào quyết
định của tòa án.

16


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B

Ngoại lệ đầu tiên có nghĩa là luật của tòa án tiếp tục tuyên bố
những phẩm chất cần có của một người đại diện. Vì vậy theo những gì
được cho phép của luật nơi cư trú thì tòa án Australia sẽ ko chấp nhận
việc bổ nhiệm người chưa thành niên như là một người đại diện.
Ngoại lệ thứ hai có thể được được hiểu đơn giản qua ví dụ sau: Ông
A là công dân Australia, khi qua đời để lại di chúc chỉ định ông B đang cư
10

Tlđd 05, tr. 518.

17


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

trú tại Singapore để làm người đại diện. Ông B sử dụng quyền đại diện
của mình để xử lý số tài sản của ông A theo pháp luật củaSingapore,
nhưng điều đó lại trái với quy định của pháp luật chung của Australia. Khi
đó tòa án có thẩm quyền của Australia sẽ từ chối phê chuẩn tư cách đại
diện của ông B.
Ngoài hai trường hợp ngoại lệ trên, tòa án Australia vẫn có thể từ
chối phê chuẩn việc chỉ định khi tuân theo luật nơi cư trú hoặc luật nơi có
tài sản...mặc dù điều này không thường xuyên xảy ra. Trong trường hợp
luật nước ngoài không xác định người đại diện để quản lý di sản, tòa án
có thể đưa ra một quyết định độc lập chỉ định người đại diện thích hợp.
Thông thường, quyết định tuân theo hệ thuộc luật tòa án.
III.4.2. Trách nhiệm quản lý di sản11
Sau khi Tòa án có thẩm quyền nhận vụ việc thừa kế di sản, họ sẽ có

thanh toán hết những khoản nợ thuộc về người để lại di chúc.
Thứ hai, thanh toán các khoản nợ. Luật tòa án sẽ quyết định khoản
nợ có được thanh toán hay không, và thứ tự trả các khoản nợ. Ví dụ như
các khoản nợ đầu tư nước ngoài thì thường không bị bắt buộc trả tại
Australia, nhưng những khoản nợ đầu tư liên bang thì có. Người đại diện
không nên trả bất kỳ khoản nợ nào dưới sự giới hạn do Luật tòa án đưa
ra.
Thứ ba, người quản lý có quyền hoãn phân chia tài sản cho những
người thụ hưởng sau khi tài sản đã được xác định chắc chắn.
III.4.2.2. Nghĩa vụ quản lý phụ (Ancially administration 13):
Di sản được quyền chia cho người thụ hưởng sau khi nó được xác
định bằng cách thu hồi tất cả của cải và trả hết những khoản nợ. Thông
thường, sự phân chia này sẽ được thực hiện bởi người đại diện do tòa chỉ
định tại nơi mà người để lại di sản cư trú. Khi phát sinh phần dư ra của di
sản, thì người đại diện sẽ quyết định xử lý phần dư này. Trong phần lớn
các trường hợp thì phần dư sẽ được chuyển lại cho người đại diện để họ
tiếp tục quá trình quản lý và phân chia lại
III.5. Thực hiện quyền chỉ định-một quyền đặc biệt của thừa kế có
yếu tố nước ngoài trong pháp luật Australia
III.5.1. Quyền chỉ định là một quyền khái quát và đặc biệt 14
Quyền chỉ định là quyền cho phép người B định đoạt tài sản của A
mà trước đó A đã chỉ ra trong trường hợp nào B được thực hiện quyền
định đoạt đó. Lấy ví dụ liên quan đến vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài
12

Tlđd 05, tr. 523-524.

13

Tlđd 05, tr. 524-525.


chỉnh di chúc của A.
Cần phải nhấn mạnh là sự áp đặt hình thức di chúc trong việc thực
hiện quyền chỉ định là đẩy đủ, nhưng không cần thiết. Trong thực tế vẫn
có trường hợp thực hiện quyền chỉ định không thỏa mãn những điều kiện
về hình thức được quy định trong luật điều chỉnh di chúc của B.
III.5.3. Năng lực pháp luật16
Có 2 cách để xác định năng lực pháp luật của B:
Theo pháp luật Úc, B có năng lực pháp luật để thực hiện quyền đối

-

với bất động sản khi B đáp ứng đủ điều kiện quy định về năng lực pháp
luật tại nơi có tài sản đó. Còn đối với động sản, áp dụng luật tại nơi B cư
trú.
-

Xác định năng lực cho B theo pháp luật tại nơi điều chỉnh di chúc

của A. Nếu theo cách này thì không có quy phạm pháp luật cụ thể điều

15

Tlđd 05, tr. 536-537.

16

Tlđd 05, tr. 537-538.

20

tạo lập hoặc tại thời điểm người để lại di chúc chết.
_ Nơi mà người để lại di chúc sinh sống thường xuyên tại thời điểm
di chúc tạo được lập hoặc tại thời điểm người để lại di chúc chết.

17

Tlđd 05, tr. 539

18

Tlđd 05, tr. 525-527, 531-532.

21


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

_ Nơi mà người để lại di chúc là công dân tại thời điểm di chúc
được tạo lập hoặc tại thời điểm người để lại di chúc chết.
Đối với động sản, tranh chấp xoay quanh việc xác định hiệu lực của
di chúc xảy ra trên một hay ở lãnh thổ khác của người để lại di sản thừa
kế với điều kiện nào thì có hiệu lực pháp luật. Vấn đề này được xác định
theo pháp luật nơi mà người để lại di chúc cư trú tại thời điểm họ chết.
Bàn thêm về vấn đề liên quan đến nơi tạo lập di chúc, có một số
trường hợp đặc biệt là di chúc được tạo lập trên tàu biển, tàu bay thì việc
xác định nơi tạo lập di chúc sẽ được giải quyết như thế nào. Việc xác định
nơi tạo lập di chúc trong những trường hợp này sẽ xác định là nơi tàu bay
đang đáp hoặc vùng nước mà tàu biển đang đi qua hoặc nơi mà co mối

áp dụng rộng rãi hơn trong trường hợp di chúc có quy định về di sản là
động sản. Tuy nhiên, cũng có nhựng nhà phê bình có ý kiến rằng nên xác
định nơi người để lại di chúc cư trú tại thời điểm người này lập di chúc vì
nó có mối quan hệ trực tiếp đến những vấn đề liên quan đến tuổi và năng
lực hành vi dân sự của người lập di chúc. Đối với người thụ hưởng di sản
mang tính chất gia truyền, quyết định của thẩm phán Romily MR trong vụ
Re Hellmann’s Will là đồng ý cho người thừa tự sẽ được nhận di sản
mang tính chất gia truyền theo pháp luật nơi mà người thừa tự được
công nhận có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc theo pháp luật nơi mà
người thừa tự cư trú hoặc theo pháp luật nơi mà người để lại di chúc cư
trú tại thời điểm người này chết. Trường hợp này chỉ áp dụng đối với
động sản có tính chất gia truyển nên không áp dụng đối với các loại động
sản khác.
III.6.1.3. Những nội dung cần quy định trong di chúc liên quan đến
di sản20
Đối với bất động sản, năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc
còn được thể hiện qua những nội dung quy định về việc phân chia di sản
là bất động sản như phân chia hoa lợi, lợi tức phát sinh từ bất động sản,
bất động sản được chia theo tỉ lệ phần trăm cho vợ/chồng, con cái của
người chết,.. Pháp luật áp dụng trong trường hợp này là pháp luật nơi có
bất động sản được quy định trong di chúc.
Đối với động sản. việc phân chia loại tài sản này được áp dụng theo
pháp luật nơi mà người để lại di chúc cư trú tại thời điểm chết.
III.6.1.4. Vấn đề giải thích di chúc liên quan đến di sản 21
Việc giải thích di chúc liên quan đến di sản là bất động sản thường
dựa vào pháp luật nơi bất động sản đó tồn tại. Có nhiều lý do để lý giải
cho vấn đề này. Sỡ dĩ, mục đích cơ bản của pháp luật thừa kế là có thể
hiện thực hóa ý nguyện của người để lại di chúc cho nên việc xác định
đúng luật áp dụng đồng nghĩa với việc chọn đúng Tòa án có thẩm quyền
20

chứng minh rằng người để lại di chúc thể hiện ý chí lựa chọn pháp luật
của một quốc gia khác để áp dụng, Tòa án sẽ áp dụng pháp luật nơi mà
người để lại di chúc cư trú khi người này chết. Tuy nhiên, xu hướng áp
dụng pháp luật được thể hiện qua việc giải quyết các vụ việc gần đây cho
thấy rằng Tòa án còn áp dụng pháp luật nơi mà di chúc được tạo ra.
III.6.1.5. Về việc lựa chọn di sản thừa kế22
Học thuyết lựa chọn di sản thừa kế phát sinh đối với bất động sản
và động sản trong trường hợp sau:
_Đối với bất động sản
A là người để lại di sản thừa kế theo di chúc cho B và C. A để lại một
mạnh đất cho B và một khoản tiền 100.000 đô la cho C theo di chúc. Tuy
nhiên, lúc A còn sống, C đã mua hoặc được thừa kế từ người khác mảnh
đất mà A theo di chúc để lại cho B. Trong trường hợp này, học thuyết bề
lựa chọn di sản được áp dụng cho C. Có hai trường hợp xảy ra: hoặc C sẽ
22

Tlđd 05, tr. 528-529, 534.

24


Bài tập môn Tư pháp Quốc tế
Nhóm 4 - Lớp CLC38B
Vấn đề nghiên cứu: Giải quyết XĐPL về thừa kế có YTNN qua HĐTTTP và pháp luật Australia

chọn khoản tiền 100.000 đô la và chuyển quyền sử dụng mảnh đất cho B
hoặc C sẽ vẫn giữ lại quyền sử dụng mảnh đất mà A để thừa kế lại cho B
và khoản tiền 100.000 đô la nhưng có bối thường cho B giá trị của mảnh
đất. Đây là một nguyên tắc về tài sàn, dựa trên sự đạo đức, A để lại di sản
thừa kế với mong muốn B cũng được thừa kế di sản theo di nguyện của A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status