Phát triển kinh tế biển ở tỉnh thái bình đến năm 2020 - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và triển khai đề tài “Phát triển kinh tế
biển ở tỉnh Thái Bình đến năm 2020 “ thì em đã hoàn thành đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình.
Đê hoàn thành khóa luận tốt nghiêp này thì đầu tiên em xin được gửi
lời cảm ơn chân thành nhất đến ban lãnh đạo nhà trường Kinh Tế Quốc Dân,
các thầy cô giáo khoa Kế hoạch - Phát triển đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ
em nghiên cứu hoàn thành đề tài này. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới
các thầy cô giáo trong trường Đại học Kinh tế quốc dân những người đã trực
tiếp truyền đạt bồi dưỡng kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập. Vốn
kiến thức được tiếp thu đó không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề
tài mà là còn hành trang vững chắc để em bước vào đời một cách vững chắc
và tự tin.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo, T.S.Đặng
Thị Lệ Xuân đã hướng dẫn em hoàn thành đề tài này với tất cả tinh thần, trách
nhiệm và sự tận tâm nhiệt tình chỉ bảo.
Em cũng xin chân thành cảm ơn phòng Tổng hợp – Quy hoạch – Sở Kế
hoạch Đầu tư tỉnh Thái Bình và đông đảo bà con ngư dân trong huyện, khách
du lịch tại địa bàn vùng biển tỉnh Thái Bình đã nhiệt tình, tạo điều kiện thuận
lợi nhất giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã
quan tâm, động viên và ủng hộ, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
Tuy nhiên do những hạn chế về mặt thời gian, kiến thức và kinh
nghiệm nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự cảm thông cũng như góp ý, bổ sung từ quý thầy cô để đề tài
được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!


2


thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản và vận tải biển.


4

Để khai thác những tiềm năng, thế mạnh về kinh tế biển của tỉnh, Đại
hội Đảng bộ tỉnh các khóa 14, 15 đều nhấn mạnh vai trò, vị trí và tầm quan
trọng của phát triển kinh tế biển, trong đó trọng tâm là kinh tế thủy sản và vận
tải biển. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 đã xác định “
Đẩy mạnh khai thác kinh tế biển, nhanh chóng phát triển thành ngành kinh tế
mũi nhọn. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế biển,
bao gồm cả nuôi trồng, đánh bắt, chế biển, dịch vụ, vận tải và du lịch..”, coi
phát triển kinh tế biển là một trong năm trọng tâm cần tập trung tạo bước đột
phá tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Thực hiện chủ trương trên, những năm qua Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân
tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng các quy
hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách huy động tổng hợp các nguồn lực để đẩy
mạnh phát triển kinh tế biển và đã đạt được những kết quả khá tốt, bước đầu
phát huy được tiềm năng, lợi thế từ biển, góp phần tích cực vào phát triển
kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng, an ninh
trên địa bàn khu vực ven biển của tỉnh. Tuy nhiên kết quả phát triển kinh tế
biển những năm qua còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh
của tỉnh, chưa gắn kết đồng bộ giữa nuôi trồng, đánh bắt với chế biển và tiêu
thụ thủy sản, một số ngành kinh tế biển đang gặp khó khăn, phát triển chậm
lại như: chế biến thủy sản, đóng tàu, vận tải biển,..
Từ thực tế trên, tôi quyết định chọn đề tài “ phát triển kinh tế biển và khu
vực ven biển tỉnh Thái Bình đến năm 2020”
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế biển và ven biển của tỉnh Thái

4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn của phát triển kinh tế biển nói chung và
tỉnh Thái Bình nói riêng.


6

4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Thực trạng, phương hướng phát triển kinh tế biển Thái
Bình trong thời gian tới
Về không gian: Vùng biển và ven biển của tỉnh Thái Bình
Về thời gian: Từ năm 2009 đến nay


7

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN
1.Một số vấn đề về biển và kinh tế biển
1.1 Khái niệm về biển và kinh tế biển
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của
Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển của dân tộc
ta. Lấn biển để dựng nước đồng thời thông qua biển để giữ lấy nước đây là
nét độc đáo trong bản sắc văn hoá Việt Nam cần được giữ gìn và phát huy
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Công ước năm 1982, vùng biển của nước ta được mở rộng lên đến gần
một triệu km2, tiếp giáp với năm vùng biển có chế độ pháp lý khác nhau. Tuy
nhiên, do tính đặc thù của môi trường biển nên mọi hoạt động của kinh tế biển
đều liên quan mật thiết và chịu sự tác động của đất liền, không thể tách rời

gồm cả lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp; công nghiệp và dịch vụ trên phạm vi
địa bàn đó.
Như vậy, kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế được diễn ra trên
biển và ở đất liền nhưng có liên quan trực tiếp cho hoạt động khai thác các
nguồn lợi kinh tế từ biển.
Từ những định nghĩa về kinh tế biển như đã nêu chúng ta thấy đặc trưng của
kinh tế biển khác với các ngành khác, so với một số ngành kinh tế khác. Vì
kinh tế biển luôn mang những tính chất kinh tế đặc thù, mang tính chất đa
ngành, đa lĩnh vực: Bao gồm nhiều ngành, nghề khác nhau, có quan hệ tác
động qua lại lệ thuộc lẫn nhau.
1.2 Vai trò của phát triển kinh tế biển:
Việt Nam một quốc gia có thể nói là giàu về tài nguyên biển với nhiều
những điều kiện thuận lợi phát triển. Khai thác biển cho phát triển kinh tế là
một cách làm đầy hứa hẹn, mang tính chiến lược và được đánh giá là đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta. Cụ thể đó là:
-

Thứ nhất, phát triển kinh tế biển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế của đất nước


9

Kinh tế biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng đóng góp cho tăng trưởng
và phát triển kinh tế của cả nước. Kinh tế biển phát triển sẽ dẫn đến quy mô
kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành nghề thay đổi cùng với
sự xuất hiện của các ngành nghề mới. Năm 2005, GDP của kinh tế biển và
vùng ven biển bằng 48% GDP cả nước trong đó GDP của kinh tế biển chiếm
khoảng gần 22% tổng GDP cả nước. Quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven

đẩy nhanh khai thác và chế biến cho ra đời các sản phẩm. Phục vụ đáp ứng
một phần nhu cầu trong nước làm giảm áp lực nhiên liệu khi dầu khí là một
trong những nguồn nhiên liệu có giá trị hàng đầu trên thị trường thế giới. Dầu
khí là món hàng xuất khẩu mang lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách
nhà nước, góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội, thúc đẩy phát triển
nhanh nền kinh tế quốc dân.
+

Phát triển kinh tế hàng hải: Vai trò của phát triển kinh tế hàng hải thể hiện rõ
nhất là phát triển giao thông vận tải, dầu khí, điện lực và khai thác khoáng
sản. phát triển giao thông nối liền với nhiều quốc gia nhất và có chi phí vận
tải thấp nhất nhưng lại có thể đáp ứng khối lượng vận tải lớn nhất. Vì vậy
chính vận tải biển phát triển đã thúc đẩy thương mại các quốc gia, ngày càng
trở nên có hiệu quả. Phát triển vận tải biển thúc đẩy quá trính xuất nhập khẩu
hàng hóa, là động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp. Là nền tảng cho sự ra
đời của ngành công nghiệp cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu. Sự
phát triển một cách nhanh chóng của công nghệ đóng và sửa chữa tàu biển
thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của cả một nền kinh tế.

+

Phát triển đánh bắt nuôi trồng và chế biến thủy hải sản: Đây là nghề biển
truyền thống có thế mạnh của nước ta, hàng năm có thể khai thác 1,5 - 1,67
triệu tấn đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp
và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá với số lượng tàu thuyền tăng liên tục qua
các năm. Từ việc chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng
thủy sản trong những năm qua góp phần gia tăng sản lượng thủy sản, tăng
kim ngạch xuất khẩu liên tục qua các năm. Nuôi trồng hải sản đã có góp phần
đáng kể vào chuyển đổi mạnh trong cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển. Chế
biến thủy hải sản là biện pháp giải quyết một phần sản lượng thủy hải sản

KCX vùng ven biển có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất
công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của ngành kinh tế
biển qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

-

Thứ ba, phát triển kinh tế biển góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và
đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn; phát triển cơ sở hạ tầng
Kinh tế biển không chỉ tạo ra việc làm tạo thu nhập cho lao động sống ở


12

vùng biển và vùng ven biển mà phát triển kinh tế biển còn tạo ra việc làm và
thu nhập cho lao động từ các vùng miền khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ
của các ngành kinh tế biển phải cần một lực lượng lao động đủ mạnh để đáp
ứng kịp thời những nhu cầu sản xuất. Trong hoàn cảnh như vậy, khả năng tạo
việc làm tại chỗ thông qua các ngành nghề, lĩnh vực của kinh tế biển là một
hướng đi quan trọng có hiệu quả phù hợp với tâm lý và lợi ích người lao
động. Phát triển kinh tế biển làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm, tăng thu
nhập, góp phần ổn định đời sống cho người lao động, góp phần thức tỉnh tiềm
năng nguồn lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay. Bên cạnh đó các ngành
nghề về khai thác chế biến dầu khí, đóng sửa chữa tàu biển, giao thông vận tải
biển, du lịch biển … cần một đội ngũ quản lý tốt có trình độ cao khả năng
nắm bắt thị trường nhanh nhẹn, một lực lượng lao động có tay nghề chuyên
môn nghiệp vụ, có kỹ năng, phẩm chất cao đáp ứng yêu cầu của công việc.
Vô hình sự phát triển của kinh tế biển đã tạo nên một đội ngũ lao động có
công an việc làm ổn định mà còn giúp hình thành đội ngũ lao động công
nhân, trí thức lành nghề cho xã hội, góp phần ổn định tình hình văn hóa - xã

thác dầu khí cùng với vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn, chứa đựng nhiều
nguy cơ tranh chấp quốc tế và âm mưu xâm phạm chủ quyền lãnh thổ và đặc
quyền kinh tế biển Việt Nam. Vì thế việc kết hợp kinh tế với an ninh quốc
phòng trên vùng này trở nên vô cùng thiết yếu, một điểm nóng trong chiến
lược kinh tế biển Việt Nam là tất yếu khách quan để tồn tại và phát triển của
đất nước.
-

Thứ năm, phát triển kinh tế biển là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Phát triển kinh tế biển đồng nghĩa với việc giao thương với nhiều những
mối hàng khắp thế giới, chúng ta sẽ được tiếp xúc với những nền kinh tế trên
thế giới. Được buôn bán, cọ xát và tiếp cận với những nền kinh tế biển khác
nhau. Đó chính là những cơ hội để chúng ta học hỏi được những nét tiên tiến
và rút ra cho mình những kinh nghiệm trong phát triển kinh tế biển của đất
nước. Ngược lại khi quan hệ kinh tế được mở rộng kinh tế biển sẽ phát triển
cao, giải quyết tốt các vấn đề an ninh, tranh chấp quyền lợi trên biển Đông,


14

khai thác và tiêu thụ các nguồn dầu khí và hải sản có hiệu quả, thu hút khách
du lịch quốc tế. Mở rộng quan hệ kinh tế, hình thành quan hệ ngoại giao chính
trị sẽ là con đường thuận lợi thúc đẩy không chỉ cho sự phát triển của kinh tế
biển mà còn cả cho sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân.
Vai trò to lớn của kinh tế biển đang ngày càng được phát huy trong việc
xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong tương lai không xa sự phát triển kinh tế
biển sẽ là động lực là bệ phóng vững chắc đưa nền kinh tế nước ta tiến xa và
mạnh hơn nữa.
1.3 Đặc điểm của phát triển kinh tế biển nước ta hiện nay:
-

quyết định đến hiệu quả sản xuất hoạt động kinh tế biển
Ngoài ra, các ngành nghề trong lĩnh vực kinh tế biển còn chịu ảnh hưởng
lớn của điều kiện thời tiết khí hậu. Điều kiện thời tiết thuận lợi, nắng nhiều,
không xuất hiện hạn hán mưa bão hay lũ quét là những điều kiện được xem là
-

thuận lợi cho các hoạt động kinh tế biển.
Thứ hai, các ngành nghề kinh tế biển phát triển với qui mô ngày càng tăng,
song còn chậm và thấp
Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và
sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy, hải sản, thông tin liên lạc,
v.v... bước đầu phát triển với quy mô tăng lên hàng năm, song quy mô còn
nhỏ chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước. Các ngành
kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí; chế biến
thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các
dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải,
dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa
học - công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v...), chủ yếu mới ở mức đang
bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ. Du lịch biển là một tiềm
năng kinh doanh lớn ở nước ta nhưng ngành du lịch biển vẫn chưa có những
sản phẩm dịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế.
Việt Nam cũng chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt quy mô và trình độ


16

quốc tế.
Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành nghề kinh tế biển, dân cư sống
ở các đảo còn thấp, tỷ lệ lao động có tay nghề chuyên môn nghiệp vụ chưa
cao. Lao động trong lĩnh vực kinh tế biển chủ yếu là lao động nông thôn

17

báo trước một cách kịp thời và chính xác. Ngoài ra, bản thân người lao động
yếu ớt, đơn lẻ khó chóng chọi với thiên nhiên. Mức đầu tư sản xuất cao song
hiệu quả kinh tế mang lại còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan và
khách quan, đây cũng là một lý do khiến các hoạt động sản xuất kinh tế biển
mang tính rũi ro cao.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
Kinh tế biển là một phức hợp các ngành, các lĩnh vực và các bộ phận liên
quan, tương tác lẫn nhau trong quá trình phát triển. Việc phát triển kinh tế
biển có tốt, có mang lại hiệu quả kinh tế cao hay không còn tùy thuộc vào
nhiều yếu tố. Trong đó có thể kể đến một số yếu tố sau:
Thứ nhất là vị trí: Đây là một điều kiện hết sức cần thiết cho mọi quốc
gia, vùng trong phát triển kinh tế biển. Vị trí này được xét ở 2 góc độ: một là
vị trí có biển hay gần biển. Nếu có biển là điều kiện để phát triển trực tiếp
kinh tế biển, còn chỉ gần biển thì sẽ xây dựng định hướng hợp tác với quốc
gia, vùng có chủ quyền biển đó. Hai là vị trí địa lý – kinh tế biển chiến lược,
một quốc gia có vị trí biển chiến lược sẽ là một trong những yếu tố quan trọng
hàng đầu cho phát triển kinh tế biển, ví như Việt Nam có phần biển đặc biệt
nằm trên hai tuyến hải hành và các luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế
giới, nhất là trong thời đại bùng nổ phát triển Châu Á-Thái Bìn Dương
Thứ hai là tiềm năng tự nhiên của vùng biển và ven biển: Đây cũng là
yếu tố “cần” đồng thời nó còn là một phần của yếu tố “đủ” cho mọi quốc gia
trong phát triển kinh tế biển. Trong tiềm năng tự nhiên có thể kể đến quy mô
và chất lượng của tiềm năng. Nếu quốc gia có bờ biển dài, diện tích lãnh hải
thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến đại dương, có các nguồn
tài nguyên thiên nhiên giàu có, nhiều bãi biển đẹp, nhiều vịnh nước sâu… Đó
là điều kiện tốt để phát triển tổng hợp kinh tế biển.
Thứ ba là chính sách phát triển của nhà nước trong công tác nghiên cứu




19

ngoan và một thể chế xã hội vững mạnh sẽ là cơ sở để giải quyết tốt cả hai
vấn đề môi trường và phát triển
Các hệ sinh thái ven biển và ven bờ với tính chất đa dạng sinh học cao,
là nguồn vốn thiên nhiên quý giá cho phát triển kinh tế biển phồng vinh trong
thế kỉ 21 này. Nhưng đó là hệ sinh thái mong manh, dễ bị suy thoái vì vậy
phát triển kinh tế biển phải dựa trên cơ sở kinh tế sinh thái, là hướng để tiến
tới phát triển bền vững.
Đối với kinh tế biển, việc phát triển bền vững đòi hỏi thực hiện đồng bộ
nhiều yếu tố. Trước hết, dựa trên những lợi thế về biển khai thác một cách
tổng hợp kinh tế biển để nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ được
môi trường. Tiếp đến là bảo về môi trường biển vì môi trường này là một thể
thống nhất không chia cắt với vùng bờ và vùng nước xung quanh, nên nếu
một phần biển nào bị ô nhiễm sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng khác. Trong quá
trình khai thác tổng hợp kinh tế biển phải chú ý đến môi trường đảo vì đây là
nơi có diện tích không lớn, lại tách rời đất liền, rất nhạy cảm với những thay
đổi. Cuối cùng là cần có sự phối hợp với các quốc gia láng giềng có vùng biển
chung về phát triển kinh tế biển nhằm bảo về môi trường biển đạt kết quả tốt,
tạo nên sự phát triển bền vững chung.
2.Phát triển kinh tế biển ở Việt Nam
2.1. Khai thác, nuôi trồng thủy hải sản
Đây là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta. Trong số những lợi
ích mà biển đem lại, kinh tế thủy hải sản chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, đan
xen giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài theo một ý nghĩa đầy đủ của nó. Vì
thủy sản là nguồn tài nguyên tái tạo và kinh tế thủy sản phát triển dựa trên nền
tảng của các hệ sinh thái, nên có thể khẳng định “còn biển, còn thủy sản”
Với vùng biển rộng, nguồn sinh vật đa dạng, phong phú, nguồn lợi thủy sản

tới Nam, đã thu hút được nhiều du khách thập phương đến tham quan, nghỉ
dưỡng. Du lịch biển đảo chiếm khoảng 70% trong hoạt động của ngành du lịch


21

Việt Nam và được xem là một trong 5 hướng đột phá về phát triển kinh tế biển.
Dọc bờ biển có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch nghỉ
dưỡng, trong đó có 20 bãi biển đã được đầu tư và khai thác đạt chuẩn quốc tế.
* Các tiêu chí phản ánh phát triển du lịch biển
a) Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển
Số lượng cơ sở lưu trú, số cơ trở lưu trú đạt tiêu chuẩn xếp hạng cao, số nhà
hàng, số nhà hàng đạt tiêu chuẩn phục vụ xếp hạng cao, sô trung tâm mua sắm,
các khu vui chơi giải trí
b) Phát triển sản phẩm du lịch biển
Gia tăng số lượng các dịch vụ du lịch biển
Gia tăng mức độ hài lòng của khách du lịch biển
c) Phát triển nguồn nhân lực du lịch biển
Gia tăng số lượng lao động ngành du lịch biển, trình độ nguồn nhân lực du
lịch biển và chất lượng phục vụ ngày càng nâng cao
d) Gia tăng kết quả và đóng góp của du lịch biển
Gia tăng lượng khách du lịch và số ngày lưu trú
Gia tăng mức chi tiêu, doanh thu của du lịch biển
Gia tăng tỉ lệ đóng góp của du lịch biển vào giá trị sản xuất/GDP của địa
phương
Gia tăng việc làm, thu nhập của địa phương
2.3. Kinh tế hàng hải
Nước ta có trên 3260 km đường bở biển và có nhiều vị trí có thể xây dựng hệ
thống cảng biển, đủ điều kiện cho khối lượng hàng hóa lớn thông quan mỗi năm,
đồng thời đảm bảo cho ngành sửa chữa, đóng mới phương tiện thủy và các ngành

nang xuất khẩu với số lượng lớn muối công nghiệp và muối sạch cho tiêu dùng.
2.5 Khai thác, phát triển lâm nghiệp ( rừng ngập mặn ) ven biển
Lâm nghiệp ven biển từ lâu đời đã cho thấy ý nghĩa to lớn của nó là bảo vệ
môi trường, tạo đa dạng sinh học ven biển và chống bão, gió, cát bay


23

Trong những năm vừa qua do chạy theo đánh bắt thủy sản ven bờ quá mức
mà người dân sinh sống ven biển đã chặt phá, hủy hoại các khu rừng ngập mặn
ven biển. Nhiều cơ quan, chuyên gia môi trường và phát triển bền vững đã lên
tiếng cảnh báo những tác động xấu, tiêu cực do chặt phá rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn ven biển ở Việt Nam là hệ thống sinh thái có giá trị bảo vệ
môi trường cao, ngăn ngừa thiên tai và tạo sự bền vững trong phát triển kinh tế xã
hội. Những khu rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam làm giảm thiểu tác động
của lũ lụt và những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đồng thời làm giảm nhẹ các tác
động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã được các chuyên gia thay đổi khí hậu dự
báo là vô cùng khắc nghiệt ở Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây rừng ngập
mặn ở Việt Nam hiện tại đang bị suy thoái nghiêm trọng do sự phát triển kinh tế
không tôn trọng quy luật tự nhiên.
Do vậy đi đôi với việc phát triển kinh tế biển cần có sự chú trọng trong việc
tái tạo, phát triển các khu rừng ngập mặn để tái tạo môi trường tự nhiên, phát triển
bền vững
2.6 Các lĩnh vực khác
2.6.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa xã hội ven biển
Nước ta là một nước nông nghiệp với đại bộ phận dân số sống ở nông thôn.
Hơn nữa, đại bộ phận nông thôn nước ta còn trong tình trạng kém phát triển về
kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn và lạc hậu, điển hình là giao thông và
thông tin liêc lạc. Đi cùng với sự phát triển kinh tế thì nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ
tầng phải lớn hơn sự phát triển kinh tế, nếu không cơ sở hạ tầng sẽ là lực cản trong

1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội
1.1 Vị trí địa hình
Thái Bình là một trong 28 tỉnh, thành phố trong cả nước giáp biển, có bờ
biển dài 54km với 5 cửa sông lớn, có cảng biển Diêm Điền và 10 bến đậu tàu
thuyền thuận lợi cho phát triển vận tải biển và thủy nội địa, vùng biển rộng trên
3000km2, bãi triều rộng khoảng 25.000 ha với hàng nghìn ha rừng Sú, Vẹt phía
ngoài đê biển và 3 cồn nổi gần bờ (cồn Vành, cồn Thủ, cồn Đen) tạo nên hệ thống
phòng thủ ven biển vững chắc, kết hợp với nuôi trồng thủy hải sản, trồng rừng
ngập mặn, du lịch sinh thái.
1.2 Khí hậu, thời tiết
Thái Bình nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiểu vùng khí hậu
duyên hải. Khí hậu của tỉnh phân biệt làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm mưa nhiều
trong năm kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10, những tháng còn lại là mùa khô hanh, ít
mưa. Trung bình nhiệt độ ở đây là 23 độ C, lượng mưa từ 1500-1900 mm, độ ẩm
không khí từ 70-90%, số giờ nắng giao động từ 1600-1800 giờ mỗi năm.Thái
Bình có 5 cửa sông lớn và đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Vào mùa hè,
các sông này có mức nước dâng nhanh, lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao, vào
mùa đông lưu lượng giảm nhiều, lượng phù sa không đáng kể. Khí hậu và thủy
văn của tỉnh đã đem lại cho nơi đây nhiều ưu đãi về số lượng các loài động vật,
thực vật biển và những yếu tố cơ bản để nuôi trồng thủy hải sản. Bên cạnh những
thuận lợi thì cũng có những khó khăn nhất định như: phải hứng chịu nhiều đợt
thiên tai, bão lũ gây thiệt hại cho nông dân, đặc biệt là đối với bà con nông dân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status