Mục lục:
I.
Cơ sở lý thuyết.
1. Cổ phiếu là gì ?
-
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. (Điều 85 Luật Doanh
nghiệp năm 2005)
-
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
2. Phát hành cổ phiếu
Để duy trì và mở rộng hoạt động, các chủ doanh nghiệp không thể kinh doanh hoàn toàn
bằng vốn tự có mà đa số phải dựa trên các nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Trong đó
phát hành cổ phiếu và trái phiếu là hình thức huy động vốn có nhiều vấn đề pháp lý cần
lưu ý nhất.
Doanh nghiệp được phát hành chứng khoán dưới hình thức hai hình thức là chào bán
riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng. Trong đó, chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ
chức chào bán chứng khoán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán
chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet và ngoài
ra là chào bán chứng khoán ra công chúng.
1
- Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên thị
trường và do các cổ đông đang nắm giữ. Số cổ phiếu đang lưu hành được xác định
như sau:
Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành – Số cổ phiếu quỹ
Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta
sẽ xác định cụ thể cho từng loại một. Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ
quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty.
2
3. Phát hành cổ phiếu thường
a. Khái niệm:
b.
c.
d.
Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu vĩnh viền trong công ty bởi
không có sự dự liệu trước thời gian đáo hạn của nó và cho phẹp người sở hữu nó
được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần.
Các vấn đề liên quan.
- Người sở hữu cổ phiếu thường là cổ đông thường của công ty cổ phần.
- Số lượng cổ phần tối đa mà công ty được quyền huy động gọi là vốn pháp định.
- Số lượng cổ phiếu tương ứng so với vốn pháp định được ghi trong điều lệ công ty
3
Trong đó:
Pe: thị giá cổ phiếu sau khi hoàn thành việc phát hành cổ phiếu mới
Pu: gía bán ưu đãi 1 cổ phiếu mới
Po: thị giá cổ phiếu trước khi phát hành cổ phiếu mới dành quyền ưu tiên mua cho cổ
đông.
N: số quyền mua hoặc số cổ phiếu cũ cần thiết để mua cổ phiếu mới.
R: giá trị lý thuyết của 1 quyền mua.
e.
Những điểm lợi và bất lợi khi HĐV bằng phát hành CP ra công chúng
Điểm lợi:
Làm tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng tỷ lệ đảm bảo nợ của công ty, tăng
thêm khả năng vay nợ và tăng mức độ tín nhiệm, giảm rủi ro tài chính.
Trong một số trường hợp, chẳng hạn khi công ty làm ăn phát đạt, lợi nhuận
cao, cổ phiếu thường dễ bán hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu.
- Điểm bất lợi:
Chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát Công ty cho các Cổ đông mới.
Chia sẻ quyền phân chia thu nhập cao cho các cổ đông mới, gâybất lợi cho các cổ
đông cũ khi Công ty có triển vọng kinh doanhtốt trong tương lai.
Chi phí phát hành cổ phiếu thường, nhìn chung cao hơn chi phíphát hành của cổ
phiếu ưu đãi và trái phiếu do rủi ro cao hơn.
Lợi tức cổ phần thường không được trừ ra khi xác định thu nhậpchịu thuế.
-
việc tăng vốn đầu tư bằng cách phát hành rộng rãi cổ phiếu thường ra công chúng là 1
vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi công ty phải xem xét cân nhắc thận trọng trên nhiều
khía cạnh.
phiếu và cổ phiếu thường đều là bất lợi với công ty.
II.
Phát hành cổ phiếu để huy động vốn của công ty VINCOM
1. Giới thiệu về VINCOM
Tập đoàn Vingroup - Công ty CP
-
Công ty Cổ phần Vincom tiền thân là Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp Việt
Nam chính thức hoạt động với vốn điều lệ ban đầu là 196 tỷ đồng ngày
03/05/2002, sau đó gần một năm tăng lên 251 tỷ, để đầu tư xây dựng và quản lý
khu TTTM - Dịch vụ - Văn phòng cho thuê tại 191 BàTriệu, Q. Hai Bà Trưng, Hà
Nội (toà nhà Vincom City Towers). Hoạt động chính của Công ty là kinh doanh
bất động sản, cho thuê văn phòng, trung tâm thương mại và cung cấp các sản phẩm
dịch vụ, giải trí.
-
Tháng 7/2001: Thành lập Công ty TNHH Du lịch và Thƣơng mại Hòn Tre tại thành
phố biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
-
Tháng 05/2002: Thành lập Công ty CP Thƣơng mại Tổng hợp Việt Nam với vốn điều
lệ ban đầu là 196 tỷ đồng
-
Tháng 12/2006 Công ty chính thức tăng vốn điều lệ lên mức 313,5 tỷ đồng.
-
công 1.000 tỷ đồng Trái phiếu doanh nghiệp kỳ hạn 5 năm.
-
Từ tháng 6 đến tháng 12/2010, Công ty đã thực hiện tăng vốn điều lệ với tổng giá trị
các đợt tăng là 127.357.010.000 đồng, từ việc phát hành thêm 12.735.701 cổ phần
nhằm mục đích chuyển đổi TPCĐ Quốc tế thành cổ phần.
-
Ngày 30/09/2011, vốn điều lệ của Vincom đạt 3.911,49893 tỷ đồng.
-
Tháng 11/2011: Đại hội cổ đông bất thường thông qua phương án sáp nhập Công ty
CP Vinpearl vào Công ty CP Vincom.
-
Ngày 19/06/2012, Công ty đổi tên thành Tập đoàn Vingroup - Công ty CP với vốn
điều lệ 7.004.620.550.000 đồng.
-
Ngày 20/12/2013: Thay đổi GĐKKD lần thứ 49 về việc sáp nhập Công ty cổ phần đầu
tư thương mại PFV và tăng vốn điều lệ lên 9.296.036.790.000 đồng.
-
Ngày 27/10/2014, VĐL nâng lên 14.545.550.980.000 đồng.
yết và giao dịch cổ phiếu phát hành thêm của Tập đoàn Vingroup tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh.
- Ngày 06/02/2013 Tập đoàn Vingroup – Công ty CP (“Tập đoàn Vingroup”) niêm
yết và giao dịch cổ phiếu phát hành thêm của Tập đoàn Vingroup tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh.
- Ngày 10/11/2014 Tập đoàn Vingroup – Công ty CP (“Tập đoàn Vingroup”) niêm
yết và giao dịch cổ phần phát hành thêm của Tập đoàn Vingroup tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh.
- Ngày 21/8/2015 Tập đoàn Vingroup – Công ty CP (“Tập đoàn Vingroup”) niêm
yết và giao dịch cổ phần phát hành thêm của Tập đoàn Vingroup tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh
2.2 Phân tích việc huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu qua các đợt phát hành.
-
a. Ngày 15/6/2011
• Loại Chứng khoán: Cổ phiếu phổ thông
• Mã chứng khoán: VIC
• Mệnh giá: 10.000 đồng
• Số lượng: 1.564.582 cổ phiếu (Một triệu năm trăm sáu mươi bốn ngàn năm trăm tám
mươi hai cổ phiếu)
• Đây là số cổ phiếu chuyển đổi từ trái phiếu
• Tổng giá trị chứng khoán niêm yết bổ sung (theo mệnh giá):
1..564.582 x 10.000 = 15.645.820.000 đồng (Mười lăm tỷ sáu trăm bốn mươi lăm triệu
tám trăm hai mươi ngàn đồng)
• Ngày niêm yết có hiệu lực:
17/6/2011
• Ngày chính thức giao dịch:
23/6/2011
Số cổ phiếu hiện hành: 391.149.893 cổ phiếu.
• Loại chứng khoán: Cổ phiếu phổ thông
• Mã chứng khoán: VIC
• Mệnh giá: 10.000 đồng/cổ phiếu
• Số lượng chứng khoán niêm yết bổ sung: 151.078.750 cổ phiếu (Một trăm năm mươi
mốt triệu không trăm bảy mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi cổ phiếu)
Đây là số cổ phiếu phát hành thêm để trả cổ tức năm 2011 và Quý I năm 2012 cho cổ
đông hiện hữu theo Thông báo số 539/2012/TB-SGDHCM ngày 25/5/2012
• Tổng giá trị chứng khoán niêm yết bổ sung: 1.510.787.500.000 đồng (Một nghìn năm
trăm mười tỷ bảy trăm tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
• Ngày niêm yết có hiệu lực: 25/6/2012
• Ngày chính thức giao dịch: 28/6/2012
Số cổ phiếu hiện hành: 391.149.893 + 1.564.582= 392.714.475
Như vậy sau khi phát hành thêm cổ phiếu thì tổng giá trị thị trường cổ phiếu của công
ty sẽ là: 53.619.291.640.000 + 1.510.787.500.000 = 55.130.007.140.000 đồng
Số cổ đông hiện hành được quyền ưu tiên mua số cổ phiếu mới phát hành theo tỷ lệ
với số cổ phiếu cần thiết để mua 1 cổ phiếu mới:
Số quyền mua cần thiết để mua 1 cổ phiếu =
2,6 quyền mua hay nói cách khác là 2,6 cổ phiếu cũ thì có quyền mua 1 cổ phiếu mới
với giá 10.000 đồng
8
Giá thị trường của toàn bộ cổ phiếu sau khi công ty phát hành cổ phiếu mới:
= 101.380 đồng.
Như vậy sau khi công ty phát hành cổ phiếu mới muốn đầu tư vào công ty người ta
phải bỏ ra số tiền là101.380 đồng để mua 1 cổ phiếu. Trong khi đó công ty cho phép
cổ đông hiện hành có 2,6 cổ phiếu cũ sẽ được mua 1 cổ phiếu mới với giá ghi bán là
10.000đ/1cp.
10.000đ/1cp.
So với giá thị trường cổ đông được lợi 74.414,6 – 10.000 = 64.414,6đ.
Như vậy giá trị lý thuyết 64.414,6 của 2,4 quyền mua là:
64.414,6:2,4 = 26.839,4
d. Ngày 10/11/2014
9
Loại chứng khoán: Cổ phần phổ thông
- Mã chứng khoán: VIC
- Mệnh giá: 10.000 đồng/cổ phần
- Số lượng chứng khoán niêm yết bổ sung: 1.500.512 (Bằng chữ: Một triệu năm trăm
nghìn năm trăm mười hai) cổ phần
(Đây là số cổ phần phát hành thêm do Tập đoàn Vingroup phát hành cổ phần để chuyển
đổi Trái phiếu quốc tế thành cổ phần)
- Giá trị chứng khoán niêm yết bổ sung (theo mệnh giá): 15.005.120.000 đồng (Bằng
chữ: Mười lăm tỷ không trăm linh năm triệu một trăm hai mươi nghìn đồng)
- Ngày niêm yết có hiệu lực:
11/11/2014
- Ngày chính thức giao dịch:
17/11/2014
Số cổ phiếu hiện hành: 543.793.225 + 227.648.160 = 771.441.385 cổ phiếu
Như vậy sau khi phát hành thêm cổ phiếu thì tổng giá trị thị trường cổ phiếu của công
ty sẽ là: 57.406.488.740.000 + 15.005.120.000 = 57.421.493.860.000 đồng
Số cổ đông hiện hành được quyền ưu tiên mua số cổ phiếu mới phát hành theo tỷ lệ
với số cổ phiếu cần thiết để mua 1 cổ phiếu mới:
Số quyền mua cần thiết để mua 1 cổ phiếu
514,1 quyền mua hay nói cách khác là 514,1 cổ phiếu cũ thì có quyền mua 1 cổ phiếu mới
ty sẽ là: 57.421.493.860.000 +33.709.670.000 = 57.455.203.530.000 đồng
Số cổ đông hiện hành được quyền ưu tiên mua số cổ phiếu mới phát hành theo tỷ lệ
với số cổ phiếu cần thiết để mua 1 cổ phiếu mới:
Số quyền mua cần thiết để mua 1 cổ phiếu
229 quyền mua hay nói cách khác là 229 cổ phiếu cũ thì có quyền mua 1 cổ phiếu mới với
giá 10.000 đồng
Giá thị trường của toàn bộ cổ phiếu sau khi công ty phát hành cổ phiếu mới:
= 74.010,4 đồng.
Như vậy sau khi công ty phát hành cổ phiếu mới muốn đầu tư vào công ty người ta
phải bỏ ra số tiền là74.010,4 đồng để mua 1 cổ phiếu. Trong khi đó công ty cho phép
cổ đông hiện hành có 229 cổ phiếu cũ sẽ được mua 1 cổ phiếu mới với giá ghi bán là
10.000đ/1cp.
So với giá thị trường cổ đông được lợi 74.010,4 – 10.000 = 64.010,4đ.
Như vậy giá trị lý thuyết64.010,4 của 229 quyền mua là:
64.010,4:229 = 279,5
III. Đánh giá hiệu quả huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu của VINCOM
Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của công ty Vincom thông qua chỉ tiêu
này, doanh nghiệp cần phải hiểu được cơ cấu nguồn vốn huy động và chi phí phải bỏ ra
để huy động nguồn vốn này qua các năm qua.
Nguồn vốn huy động thông qua phát hành chứng khoán của Vincom có mức tăng trưởng
đáng kể và khá bền vững. Tỷ trọng của nguồn vốn đóng góp từ cổ đông cũng giảm qua
các năm do công ty thấy răng lợi nhuận công ty tăng khá ổn định, vì vậy việc phát hành
cổ phiếu đồng nghĩa với việc chia sẻ quyền kiểm soát. Vì vậy Vincom cân nhắc và chỉ
huy động vốn bằng cổ phiếu với tỷ trọng nhỏ nhằm nâng cao nguồn vốn điều lệ, tạo sự tin
tưởng chắc chắn về cơ cấu vốn cho những nhà đầu tư. Năm 2014, tổng vốn điều lệ của
Vincom đã tăng lên 90 485 tỷ. Trong nguồn vốn huy động thì trái phiếu vẫn chiếm tỷ
trọng cao hơn do tính chắc chắn và những ưu điểm của hình thức này
Nguồn vốn huy động tăng lên mà theo đó chi phí cho huy động vốn cũng tăng một cách
1.Tạo dựng độ tin cậy của công ty
Trước mỗi quyết định tài trợ vốn, các nhà đầu tư thường căn cứ vào độ tin cậy và
uy tín của công ty. Nếu công ty muốn nhanh chóng huy động được các nguồn vốn nhàn
12
rỗi của nhà đầu tư, thì một bộ tài liệu chứng minh độ tin cậy của công ty sẽ là rất cần
thiết. Văn bản này càng trung thực và rõ ràng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Các nhà đầu
tư lớn và nhỏ lẻ hầu như đều sẽ tiến hành xác minh, nếu phatd hiện có chi tiết thiếu trung
thực, lập tức họ sẽ đặt dấu hỏi về độ tin cậy của công ty.
Bên cạnh đó, một bộ máy kế toán tài chính hiệu quả cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo dựng độ tin cậy của công ty. Sau những vụ bê bối tài chính lớn như Enron,
Worldcom… giờ đây các công ty trên thế giới đã quan tâm hơn đến bộ máy kế toán. Điều
này là hoàn toàn hợp lý, bởi cứ tiếp tục xem thường bộ máy kế toán như trước đây , thì
chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những “vết xe đổ”. Và do vậy lòng tin của các nhà đầu tư sẽ
giảm sút nghiêm trọng.
Nhiều hãng lớn của châu Âu như Orcale, Vodaphone đã quyết định: nếu chưa am
hiểu về kế toán,
nhà quản lý phải bổ sung kiến thức chuyên môn bằng cách tham dự
các khóa học ngắn hạn do trường đại học hoặc trung học kinh tế tổ chức. Thời gian học
khoảng từ hai đến sáu tháng, sau đó có thể học tiếp lớp nâng cao hoặc tham khảo sách
chuyên nghành. Nhà quản lý doanh nghiệp hiểu biết về kế toán, tất nhiên, không phải để
tự mình làm lấy các công việc lập sổ sách, mà là để kiểm tra lại tính chính xác của những
thông tin cấp dưới báo cáo, giúp cho công tác quản lý, điều hành và ra quyết định hiệu
quả và phù hợp với tình hình thực tế hơn.
Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài
trợ thích hợp có thể tiết kiệm được chi phí lựa chọn phương thức đẩy mạnh kinh doanh
làm cơ sở để huy động vốn, đảm bảo nguồn vốn phát triển hữu ích, từ đó nâng cao lợi
nhuận của công ty.
2.Tạo dựng hình ảnh về năng lực của công ty
như thị trường mà công ty đang kiểm soát.
Bạn nên chứng minh cho nhà tài trợ thấy những tài sản hữu hình mà tài sản vô hình
mà bạn đang sở hữu. Đôi khi tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, thị phần, kênh phân
phối … còn có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tài sản hữu hình. Đôi khi, việc nhờ một tổ
chức chuyên nghiệp định giá công ty của bạn sẽ rất cần thiết để việc huy động vốn của
bạn được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng hơn.
4.Hạn chế rủi ro đối với nhà tài trợ vốn
Trong các kế hoạch huy động vốn, vấn đề lo ngại nhất của các nhà tài trợ là những rủi ro
tài chính do sự biến động của thị trường, như giá ngoại tệ lên xuống thất thường, động nội
tệ mất giá, thị trường bất động sản thay đổi, tình trạng trượt giá phi mã,… Các nhà tài trợ
vốn sẽ luôn xem xét và suy tính rất kỹ về các rủi ro xấu nhất có thể xảy ra.
Chính vì vậy, để giúp các nhà tài trợ sớm đưa ra quyết định, công ty nên có các
phương án giải thích rõ ràng về tính tối ưu và khả thi của khoản tiền huy động, đồng thời
giải thích càng chi tiết, rõ ràng bao nhiêu sẽ càng có lợi cho bạn bấy nhiêu.
5.Xây dựng đội ngũ nhân lực và lãnh đạo hiệu quả
14
Muốn huy động vốn bằng cổ phiếu một cách hiệu quả, điều quan trọng đối với các
công ty cổ phần là phải có những lãnh đạo sáng suốt, có tầm nhìn rộng và phải am hiểu
bản chất của các công cụ chứng khoán cũng như tâm lý các nhà đầu tư. Tiếp theo là đội
ngũ nhân viên trung thành, nhiệt tình, năng động. Điều này càng cần thiết hơn khi đất
nước ta đang đứng trước ngưỡng cửa mở rộng kinh tế thị trường toàn phần. Sắp tới, các
doanh nghiệp nói chung, các công ty cổ phần nói riêng, phải đối mặt với sự cạnh tranh
gay gắt của rất nhiều những công ty nổi tiếng và giàu kinh nghiệm nước ngoài. Chính vì
thế, nhân lực là một vấn đề quan trọng, là yếu tố quyết định và cần bồi đắp ngay từ bây
giờ, tránh việc chảy máu chất xám.
6.Chủ động tìm kiếm các nhà đầu tư tiềm năng
Một công ty có chiến lược khôn ngoan thì phải có tầm nhìn dài hạn cho mỗi công
việc và cả những mối quan hệ mình có. Đối với việc huy động vốn cũng tương tự như
Cách thứ ba là Cổ phiếu bảo đảm ( stock warrant ) dành cho những ai có cổ
phần ưu đãi hay có trái phiếu. Ai có nó sẽ được mua chứng khoán của công ty với giá đã
định trước một ngày hết hạn nào đó. Khi ấy nếu giá lên thì họ có lời.
16