BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------
NGHIÊM THỊ THÙY DƯƠNG
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BÀI TẬP THỂ DỤC
NHẰM RÈN LUYỆN TỐ CHẤT KHÉO LÉO
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Hồng Phương
HÀ NỘI, 2015
Lêi c¶m ¬n
A. Anhxtanh đã từng nói: “Mọi con đường đi đến khoa học đều chông
gai, nếu thiếu nhiệt tình và nghị lực thì không thể vượt qua”. Để thực hiện đề
tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS. TS Đặng
Hồng Phương - cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập,
nghiên cứu.
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, tập thể giáo viên, các
GDMN
Giáo dục mầm non
SL
Số lượng
TCKL
Tố chất khéo léo
TCTL
Tố chất thể lực
TN
Thực nghiệm
VĐCB
Vận động cơ bản
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Đánh giá của giáo viên về việc phát triển....................................36
tố chất khéo léo cho trẻ 5 – 6 tuổi................................................................36
Bảng 2.2. Đánh giá của giáo viên về mức độ phát triển tố chất khéo léo 36
Bảng 3.8. Giải quyết tình huống của hai nhóm ĐC và TN sau TN.............74
Bảng 3.10. Kết quả đo trước và sau thực nghiệm của nhóm TN................77
Bảng 3.11. Kiểm định kết quả TN của nhóm ĐC và nhóm TN sau TN......78
Bảng 3.12. Kiểm định kết quả TN của nhóm TN trước và sau TN.............78
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Đánh giá của giáo viên về mức độ phát triển TCKL ............37
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các bài tập thể dục............................................37
Biểu đồ 2.2. Kết quả khảo sát về TCKL cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm
non......................................................................................................................47
Biểu đồ 2.3. Kết quả thực trạng TCKL cho trẻ 5 - 6 tuổi............................48
ở trường mầm non qua từng tiêu.....................................................................48
Biểu đồ 3.1. Mức độ phát triển TCKL của trẻ 5 - 6 tuổi ............................63
ở nhóm ĐC và TN trước khi TN......................................................................63
Biểu đồ 3.2. Thực hiện động tác về định hướng không gian .....................65
của 2 nhóm ĐC và TN trước TN.....................................................................65
Biểu đồ 3.3. Thực hiện động tác về định hướng thời gian ........................67
của 2 nhóm ĐC và TN trước TN.....................................................................67
Biểu đồ 3.4. Giải quyết tình huống của 2 nhóm ĐC và TN trước TN.......68
Biểu đồ 3.5. Mức độ phát triển TCKL của trẻ 5 - 6 tuổi ............................70
ở nhóm ĐC và TN sau TN................................................................................70
Biểu đồ 3.6. Thực hiện động tác về định hướng không gian......................72
của 2 nhóm ĐC và TN sau TN .......................................................................72
Biểu đồ 3.7. Thực hiện động tác về định hướng thời gian.........................73
của 2 nhóm ĐC và TN sau TN.........................................................................73
Biểu đồ 3.8. Giải quyết tình huống của 2 nhóm ĐC và TN sau TN...........74
Biểu đồ 3.9. Kết quả đo trước và sau thực nghiệm của nhóm ĐC............76
Biểu đồ 3.10. Kết quả đo trước và sau thực nghiệm của nhóm TN...........77
Thực tế hiện nay tại các trường mầm non người ta mới chỉ chú trọng
phát triển thể chất nói chung mà chưa thực sự quan tâm đến từng loại hình bài
tập để phát triển các tố chất thể lực nói riêng. Chính vì thế, nhiều trẻ chưa có
sự khéo léo, uyển chuyển trong quá trình thực hiện các bài tập thể chất - một
yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ.
Bài tập vận động cơ bản là một loại hình bài tập thực hiện một cách
liên tục trong các giờ thể dục và rất cần thiết đối với sự phát triển thể chất của
trẻ mầm non. Đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, là độ tuổi có tốc độ phát triển
rất nhanh. Vậy phải làm thế nào để trẻ thực hiện các bài tập vận động cơ bản
một cách khéo léo, uyển chuyển đem lại hiệu quả cao là một vấn đề cần được
giải quyết.
Do đó, việc nghiên cứu biện pháp tổ chức bài tập thể dục nhằm rèn
luyện tố chất khéo léo cho trẻ sẽ giúp cho giáo viên chủ động lựa chọn được
những bài tập vận động cơ bản phù hợp với trẻ, đáp ứng được yêu cầu đổi
mới của giáo dục mầm non hiện nay là vô cùng cần thiết và cấp bách.
Với những lý do vừa nêu trên, tôi lựa chọn đề tài " Biện pháp tổ chức
bài tập thể dục nhằm rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6 tuổi" làm đề
tài nghiên cứu. Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả của việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất biện pháp
tổ chức bài tập vận động cơ bản nhằm rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6
tuổi ở trường mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6
tuổi thông qua bài tập vận động cơ bản.
2
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên và trẻ để thu thập các thông tin có liên quan
đến đề tài, giải thích nguyên nhân và làm sáng tỏ những thông tin đã được
điều tra từ phiếu điều tra.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Dự giờ, quan sát nhằm thu thập thông tin về thực trạng việc sử dụng
các biện pháp tổ chức bài tập vận động cơ bản của giáo viên mầm non nhằm
rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ.
7.2.4. Phương pháp tổng kết sư phạm
Tổng kết những kinh nghiệm của giáo viên trong việc tổ chức bài tập
vận động cơ bản nhằm rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường
mầm non.
7.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp này để kiểm chứng tính đúng đắn, tính khả thi
của biện pháp đã đề xuất trong việc tổ chức bài tập vận động cơ bản nhằm rèn
luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
7.2.6. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học thống kê để xử lý kết quả thu được.
8. Những đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở và lý luận về biện pháp tổ chức bài tập
vận động cơ bản nhằm rèn luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Phát hiện thực trạng tổ chức rèn luyện tố chất khéo léo ở một số
trường mầm non hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức bài tập vận động cơ bản nhằm rèn
luyện tố chất khéo léo cho trẻ 5 - 6 tuổi.
4
KHÉO LÉO CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thể dục thể thao ra đời và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài
người. Cùng với quá trình lao động sản xuất, thể dục thể thao đã góp phần tiến
hóa vượn người thành người cổ đại và từ người cổ đại thành con người hiện đại
ngày nay. Đối với tiến trình tồn tại và phát triển của xã hội, thể dục thể thao đã
trở thành một trong những phương tiện quan trọng để tồn tại xã hội.
Ngay từ thủa bình minh con người đã quan tâm đến việc rèn luyện thể
chất. Nhìn tổng quát, có hai nền văn minh: Phương Đông và Phương Tây.
Cùng phát triển với nền văn hóa, việc rèn luyện thể chất của các nước
Phương Đông có lịch sử hàng mấy ngàn năm. Xuất phát từ triết học Phương
Đông với nền tảng học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Bát quái, mục tiêu rèn
luyện thể chất là rèn luyện con người toàn diện: thể lực, trí tuệ, khí phách,
v.v… tạo nên sức mạnh tổng hợp. Như Hoa Đà – danh y nổi tiếng của Trung
Quốc ở thế kỉ II đã nói: “Vận động giúp khí huyết lưu thông và ngăn ngừa
bệnh tật”. [45]
Phương Tây cổ đại cũng rất chú trọng đến rèn luyện thể chất cho trẻ em
từ thời thơ ấu bằng con đường kinh nghiệm. Những trẻ khỏe mạnh, cứng cáp
và có khả năng chống đỡ được các tác nhân của môi trường xung quanh thì để
nuôi, trẻ ốm yếu bị thủ tiêu. Lúc bấy giờ các nhà triết học, các nhà giáo dục
chưa hiểu được các quy luật hoạt động của cơ thể, chưa thể giải thích được cơ
chế tác động của việc luyện tập các bài tập vận động cơ bản (VĐCB) do đó
6
đánh giá hiệu quả của các bài tập theo kết quả bên ngoài (đúng hơn, thuần
thục hơn, kĩ thuật hơn, có nhiều kĩ năng hơn…). Sau đó, họ đã biết liên kết
các biện pháp để rèn luyện vận động cơ bản và phát triển các tố chất như sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo thành một hệ thống thống nhất. Mục
tiêu của nền giáo dục này là đào tạo các chiến binh phục vụ cho các cuộc
và khả năng phối hợp giữa các VĐCB với nhau. Ông đặc biệt quan tâm đến
việc rèn luyện thân thể qua chế độ sinh hoạt hàng ngày, trong giờ thể dục, …
một cách có hệ thống. Các hoạt động đó không chỉ diễn ra ở nhà trường mà ở
ngay chính các bậc phụ huynh phải hết sức chú ý đến việc rèn luyện các
VĐCB cho trẻ. [17]
Trong cuốn “Thể dục thể thao nhi đồng trước tuổi học” của tác giả Lưu
Tân đã chỉ ra bài tập động tác gồm: bài tập động tác cơ bản, bài tập thể dục cơ
bản, trò chơi vận động và các hoạt động vận động với dụng cụ. Trong đó rèn
luyện các bài tập động tác cơ bản là mục tiêu, nội dung quan trọng và là biện
pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ hoạt động thể dục thể thao. Theo ông hoạt
động này có thể rèn luyện toàn bộ cơ thể một cách có hiệu quả, nâng cao và
phát triển các tố chất thể lực, tăng cường thể chất, phát triển các năng lực hoạt
động cơ bản và tạo điều kiện để các em thích ứng tốt hơn đối với xã hội. [30]
Trong cuốn "Thể dục và trò chơi vận động" của tác giả Đồng Văn Triệu,
ông đã biên soạn 10 động tác thể dục cho trẻ em. Các bài tập thể dục này trên
cơ sở sinh lý, tâm lý của "lớp vỡ lòng", với mục đích giúp cho cơ thể trẻ phát
triển đều đặn, tạo điều kiện chống bệnh tật. [39]
Trong cuốn “Lí luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa
tuổi mầm non” của tác giả Đặng Hồng Phương, đã chỉ ra tác dụng của việc
luyện tập bài tập VĐCB sẽ giúp phát triển các tố chất thể lực như: sức nhanh,
sức mạnh, sức bền và sự khéo léo. [27]
Đề cập đến vấn đề rèn luyện tố chất thể lực trong một số luận văn thạc sĩ
khoa học giáo dục (Phạm Thị Mỹ Hòa [11]; Đinh Thị Hồng Kiên [18]) đã đưa
8
ra biện pháp giúp rèn luyện, phát triển tố chất khéo léo cho trẻ nhưng mới chỉ
dừng lại ở nghiên cứu về bài tập thể dục nhịp điệu và trò chơi vận động chứ
chưa đề cập rèn luyện tố chất khéo léo khi thực hiện bài tập VĐCB. Vì vậy,
dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên, chúng tôi mạnh dạn đi
Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục "Phương pháp" và "Biện pháp" giáo dục
có quan hệ mật thiết với nhau đến nỗi khó có thể phân biệt được ranh giới
giữa chúng.Trong từng tình huống cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục
có thể chuyển hóa lẫn nhau. Có lúc phương pháp còn là con đường độc lập để
giải quyết nhiệm vụ giáo dục, có lúc phương pháp chỉ là một biện pháp có tác
dụng riêng biệt. Vì vậy, việc xác định bản chất khái niệm "Biện pháp giáo
dục" và mối quan hệ của nó với các thành tố khác của quá trình giáo dục có
thể dựa vào việc phân tích khái niệm "Phương pháp giáo dục".
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp giáo dục, nhưng
các định nghĩa đều thống nhất với nhau ở chỗ coi "Phương pháp giáo dục là
phương thức hoạt động gắn bó với nhau của người giáo dục và người được
giáo dục nhằm đạt mục đích giáo dục đã đặt ra" [28]. Trong đó, người giáo
dục giữ vai trò là người điều khiển, còn người được giáo dục giữ vai trò chủ
thể tích cực của quá trình hình thành nhân cách.
Cũng như phương pháp giáo dục, biện pháp giáo dục cũng tuân theo
những quy luật chung của quá trình giáo dục: có tính mục đích gắn liền với
nội dung và các thành tố khác của quá trình giáo dục. [28]
- Các biện pháp giáo dục trẻ có mục đích là hướng tới việc tạo những
cơ sở ban đầu cho nhân cách của trẻ.
- Các biện pháp giáo dục gắn liền với nội dung giáo dục, nghĩa là gắn
liền với nội dung hoạt động của trẻ. Trẻ phát triển trong quá trình hoạt động.
Dựa vào các hoạt động của trẻ, nhà giáo dục có thể lựa chọn các biện pháp
10
giáo dục, sao cho tác động giáo dục phù hợp với mức độ phát triển của trẻ để
tạo được hứng thú, hình thành động cơ đúng đắn cho hoạt động.
- Các biện pháp giáo dục có liên hệ chặt chẽ với các phương tiện giáo
dục. Đó là các hình thức hoạt động khác nhau của người được giáo dục và các
trình tổ chức hoạt động và có thể lực tốt để hướng dẫn người tập theo mình.
Như vậy, từ khái niệm về biện pháp giáo dục và khái niệm về bài tập
VĐCB, chúng ta có thể nêu lên khái niệm biện pháp tổ chức bài tập VĐCB ở
trường mầm non như sau:
Biện pháp tổ chức bài tập VĐCB là cách thức cụ thể để hoạt động
cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm đạt được mục đích đặt ra của bài tập vận
động.
1.2.3. Khái niệm tố chất thể lực
Trong đời sống và trong một số lĩnh vực chuyên môn, thường gặp một
số cụm từ chuyên môn: thể lực, thể chất, tố chất thể lực (TCTL)...Các khái
niệm này thường được dùng trong các tài liệu nghiên cứu về sức khỏe con
người. Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm này không đồng nhất và thường
được hiểu một cách khác nhau ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Theo ngôn ngữ thông thường, khái niệm thể chất, thể lực thường được
hiểu tương tự như nhau là sức lực của cơ thể, sự mạnh yếu của cơ thể. Tuy
nhiên, trong các tài liệu chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực thể thao và y tế
thì quan niệm về thể lực và thể chất có những sắc thái khác nhau.
Thể lực là một yếu tố tạo nên sức khỏe. Theo tác giả Nguyễn Mạnh
Liên, để đánh giá thể lực cần có các chỉ tiêu về hình thái, giải phẫu và sinh lý
con người trong đó có hai tiêu chí cơ bản là chiều cao và cân nặng. [23]
Trong lĩnh vực thể dục thể thao, thể lực được hiểu là khả năng làm việc
của các hệ thống chức năng của cơ thể, được đánh giá thông qua hoạt động
vận động thể hiện ở các đặc tính: chính xác, tiết kiệm sức (phối hợp vận động
12
hay còn gọi là khéo léo); mạnh mẽ (sức mạnh); nhanh chóng (sức nhanh); bền
bỉ (sức bền). Tất cả các yếu tố đặc biệt này của cơ thể được gọi là các TCTL.
Theo tác giả Nguyễn Toán: Thể chất là những đặc trưng tương đối ổn
định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do
người thể hiện ở các mặt: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo. [27]
Mức độ phát triển các TCTL là một trong những thành phần quan trọng
xác định trình độ thể lực của trẻ.
Đối với trẻ thơ, những TCTL cơ bản nêu trên cũng cần được chú trọng
và phát triển. Theo A. V. Kenheman & D. V. Khuglaeva sự phát triển TCTL
luôn diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với sự hình thành các kỹ năng vận
động [16]. Theo tác giả Lưu Tân, quá trình hình thành và phát triển các TCTL
luôn có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động và
mức độ phát triển các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể. Sự phát triển các
TCTL trong quá trình trưởng thành xảy ra không đều. Các tố chất đều có
những giai đoạn phát triển với nhịp điệu nhanh và những giai đoạn phát triển
tương đối chậm. Ngoài ra, sự phát triển các TCTL diễn ra không đồng bộ,
mỗi tố chất phát triển theo một nhịp độ riêng vào những thời kỳ khác nhau.
Tập luyện thể dục thể thao sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển các
TCTL, song nhịp điệu phát triển đó không giống nhau ở các lứa tuổi khác
nhau, các TCTL đạt đến mức phát triển cao vào những thời kỳ khác nhau.
[30]
Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào, các TCTL không biểu hiện một
cách đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau. Từ đó, chúng tôi đưa ra kết
luận chung nhất:
Tố chất thể lực là khả năng con người thực hiện các động tác, các hoạt
động thể lực khác nhau, cơ thể phải thể hiện khả năng của mình ở nhiều mặt,
các mặt khác nhau đó của khả năng cơ thể trong hoạt động thể lực.
14
Rèn luyện thể lực thông qua việc phát triển các TCTL là công việc
hàng đầu của quá trình hoàn thiện thể chất cho con người. Do vậy, giáo dục
thể chất phải bắt đầu từ khi còn nhỏ mới đạt được tới điều mong muốn, quá
trình ấy phải gắn bó chặt chẽ và phối hợp với quá trình phát triển hình thái chức năng cơ thể của trẻ. Ở lứa tuổi mẫu giáo lên hướng vào việc chính là:
về sự khéo léo:
Theo quan điểm sinh lí học, sự khéo léo được thể hiện bởi khả năng
hình thành những đường liên hệ tạm thời, hoàn thành những động tác phối
hợp phức tạp, cần thiết trong tình huống phức tạp và luôn thay đổi. Thực chất
sự khéo léo là một năng lực hỗn hợp của cơ thể, vì thế nó có liên quan đến sự
hoàn thiện kĩ năng vận động.[2]
Trong tâm lí học thể dục thể thao: TCKL (phối hợp vận động) là khả
năng tiếp thu nhanh kỹ năng vận động những động tác mới học và năng lực
chuyển hóa hoạt động vận động phù hợp với yêu cầu của tình huống đã thay
đổi. Đối tượng phản ánh của TCKL là mức độ chuẩn xác về các tham số thời
gian, không gian và dùng sức trong quá trình thực hiện hành động vận động.
Yêu cầu về mặt tâm lí, những biểu hiện khéo léo trong vận động thể lực là các
cảm giác và biểu tượng chính xác về định lượng dùng sức, nhịp độ, nhịp điệu
động tác, biên độ, và phương hướng chuyển động của động tác.[51]
Trong thể dục thể thao coi khéo léo là năng lực phối hợp vận động gồm
có bảy thành phần năng lực riêng có tính đặc thù khác nhau: đó là năng lực
liên kết vận động, năng lực định hướng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp
điệu, năng lực phản ứng, năng lực phân biệt vận động và năng lực thích ứng.
Có rất nhiều tác giả đã đi sâu và nghiên cứu về tố chất khéo léo cho trẻ
mầm non như:
Theo A. V. Kenheman & D. V. Khuglaeva sự khéo léo là khả năng
nắm được những động tác mới (khả năng học một cách nhanh chóng), nhanh
16
chóng tổ chức lại hoạt động vận động phù hợp với hoàn cảnh thay đổi bất
ngờ. Nó có liên quan chặt chẽ với việc hình thành kỹ năng vận động và xác
định bởi tính chính xác của các thành tố không gian, thời gian và sức lực của
vận động.[16]
Theo tác giả Lưu Tân đó là khả năng phối hợp (tố chất điều chỉnh) bao
nhà khoa học quan tâm và đều khẳng định cơ sở tự nhiên của việc hình thành
các tố chất thể lực dựa trên học thuyết của Xêsênốp và I.P.Pav.Lop và những
công trình nghiên cứu về hoạt động thần kinh cấp cao đặc biệt là thuyết hình
thành định hình động lực (ĐHĐL).
Sự hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động có mối quan hệ chặt chẽ
với TCTL. Sự hình thành các kỹ năng kỹ xảo trong quá trình dạy các dạng
vận động khác nhau được thực hiện trong sự thống nhất liên tục với giáo dục
các TCTL và ngược lại. Trong quá trình hình thành kỹ năng vận động, các tố
chất thể lực TCTL cũng được hoàn thiện thêm. Như vậy, có thể thấy quá trình
hình thành TCTL và quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động đều được
dựa trên cơ sở hình thành ĐHĐL. Vì vậy, có thể dựa trên quá trình hình thành
kỹ năng kỹ xảo để rèn luyện TCTL nói chung và TCKL nói riêng. Do đó, có
thể khẳng định cơ chế sinh lí của việc hình thành TCTL được lý giải dựa vào
học thuyết I.P.Pavlov về ĐHĐL. Đó là các phản xạ có điều kiện được hình
thành và củng cố trong vỏ não. Đó cũng chính là cơ chế hình thành TCKL.
Tuy nhiên, mỗi TCTL lại có những đặc trưng riêng nên cơ chế hình
thành cũng có sự khác biệt dựa trên những cơ sở sinh lí riêng. TCKL phụ
thuộc vào các yếu tố sau:
- Có liên quan tới việc hình thành kỹ năng vận động.
- Khả năng định hướng trong không gian và thời gian.
- Phản ứng nhanh trước kích thích mới lạ.
18
- Phụ thuộc vào mức độ phát triển của các tố chất khác như: sức mạnh,
sức nhanh, sức bền.
- Liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương.
Tóm lại, quá trình hình thành TCKL là một quá trình phức tạp và được
hình thành qua ba giai đoạn.