Lập luận trong tiểu phẩm trào phúng (trên cứ liệu tiếng việt) - Pdf 34

ỐC GIA TH
ÀNH PH
Ố HỒ CH
ĐẠ
ĐẠII HỌC QU
QUỐ
THÀ
PHỐ
CHÍÍ MINH
ƯỜ
NG ĐẠ
ÂN VĂN
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH
NHÂ
------------ � � � ------------

TRẦN TRỌNG NGHĨA

ẬN
LẬP LU
LUẬ
ỂU PH
ẨM TR
ÀO PH
ÚNG
TRONG TI
TIỂ
PHẨ

ấm lu
ận án cấp Tr
ườ
ng:
Cán bộ phản bi
biệện Hội đồ
đồng
chấ
luậ
Trườ
ường:
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Khắc Cường
Phản biện 2: PGS.TS. Bùi Mạnh Hùng
Phản biện 3: PGS.TS. Phạm Văn Tình

ành ph
Th
Thà
phốố Hồ Ch
Chíí Minh
Minh,, năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình của riêng tôi.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của luận án.
Tác giả

Trần Trọng Nghĩa


6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

15

7. Bố cục của luận án

18

ươ
ng 1. CƠ SỞ LÍ LU
ẬN
Ch
Chươ
ương
LUẬ
1.1.

Lập luận thông thường

19

1.1.1.

Lập luận theo diễn từ chuẩn mực

19

1.1.2.

Lập luận trong ngôn ngữ


28

1.2.3.

Yếu tố châm biếm – mỉa mai (phúng) trong lập luận

35

1.2.4.

Ranh giới mờ giữa mỉa mai và châm biếm

37

1.2.5.

Yếu tố văn hóa – tri thức nền

45

1.3. Tiểu kết

50

ươ
ng 2. LÍ LẼ VÀ VAI TR
Ò CỦA NG
ÔN NG
Ữ TRONG

2.2.2.

Hai chức năng của lí lẽ trong lập luận trào phúng

58

2.2.3.

Quy tắc giải mã lập luận trào phúng

66

2.2.3.1. Xác định điểm quy chiếu

67

2.2.3.2. Xác lập các topos mới

69

2.2.3.3. Hiểu lại nghĩa của lập luận

70

2.3.

Phân loại lí lẽ trong lập luận trào phúng

71


2.4.2.

Trào phúng do chính bản thân ngôn ngữ

93

2.5.

Một số đặc điểm trào phúng riêng trong tiếng Việt

102

2.5.1.

Những thủ pháp lập luận phổ biến

102

2.5.2.

Vận dụng những đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt

105

2.6.

Tiểu kết

110


3.1.

Nguyên tắc thuyết phục trong lập luận

112

3.2.

Phương thức lập luận cơ bản trong tiểu phẩm trào phúng

115

3.2.1.

Phương thức gài bẫy

119

3.2.2.

Phương thức suy luận tương tự

122

3.2.3.

Phương thức sao phỏng

124



3

3.3.1.

Xây dựng các cặp kịch bản ngữ nghĩa

145

3.3.2.

Tạo thông tin dư

149

3.3.3.

Lập luận vòng quanh

150

3.4.

Một số thủ thuật lập luận trào phúng

152

3.4.1.

Thủ thuật tách khỏi


160

ẬN
KẾT LU
LUẬ

161

ỆU THAM KH
ẢO
DANH MỤC TÀI LI
LIỆ
KHẢ

166


DANH MỤC CÔNG TR
TRÌÌNH CỦA TÁC GI
GIẢ
Ụ LỤC
PH
PHỤ
Ụ LỤC 1
PH
PHỤ
Ụ LỤC 2
PH
PHỤ

PPWB

Plato and a Platypus Walk into a Bar (Plato và con thú mỏ vịt

bước vào quán bar)
TCDGVN

Tiếng cười dân gian Việt Nam

TCTG

Tiếng cười thế giới

TTC, 232…

báo Tuổi trẻ cười số 232…

TPTP

tiểu phẩm trào phúng

Tr.CN

trước công nguyên

tuoitrecuoi

báo Tuổi trẻ cười (online)

vnexpress


metaphor

7,17,65,123

bộ kích hoạt ngữ nghĩa

semantic trigger

9,69,131,132,133,134

bộ chuyển mạch

switch

9,131,133
5-9,22,23,29,30,31,32,34,37,38,45,49,56,58,61,62,67,68,71,81,83,
84,89,95,96-102,105,108,109,111,112,117,122-124,126,129,136-

châm biếm

satire

chơi chữ

pun

25,90,94,102,103,104,107,108,124,125,126,129,130,159,160

chuyện cười

hiển ngôn

explicit

7,17,46,53,65,66,67,107

hoán dụ

metonymy

17,65

hội thoại

conversation

16,30,87,109,128,157

kết tử

connector

10,18,20-3,49,50

khoa trương (ngoa dụ)

hyperbole

23,100,128


83,86,96,139,143-6,148-50,152,154-7

sense/

16,30,37,44,46-9,53,58-9,63,74,81,87,95,99,107,116,120,122,136
140,144,150,153-5.

lẽ thường

topos

lí lẽ

argument/reasoning

mỉa mai hiển ngôn

explicit irony

7

mỉa mai bằng lời nói

verbal irony

6,35

5,9,10,11,13,14,16,20,21,44,46-8,50-8,60-1,66-7,69-75,79-83,96-8,

mỉa


9,10,14,44,153

nói mỉa/mỉa mai

irony

nói nhại/giễu nhại

parody

82,129,130

(phép) lịch sự

politeness

8,26,33,67,137,139,157

(phép) tu từ

rhetorical figures

9,17,35,81,91

5,6,22-3,30-8,44-5,49,50,58,61,70,81,89,96,98,104,107,109,111,122

maxims

123,126,130,136,150,152-4


17,18,22,37,51,57,64-6,87,89

tiểu phẩm/chuyện cười

joke

trái nghĩa

antonymy

50

trải nghiệm

experience

42-3,63,65,119,142

7,13,14,16,17,18,20,30,33,62,63,74,75,76,84,85,87,88,89,90,95,99,102,
114,116,117,118,120,121,122,142,143,146,148,152,156,159,161,163,164

5,6,8-13,22-3,26,31-2,34-7,39,45-7,50,53,58,61-3,65-7,71-2,79,
82-4,87,89,90-1,95-7,100-2,104,107-112,117,123-4,130-1,133-4,

trào phúng

satire/sarcasm

tri nhận


35-6

văn cảnh/ngữ cảnh

co-text

19,27,32-3,38,44,46,50,63,65,67,87,109,145,151

139,142-5,149,151-7

12,13,15,16,17,24,29,31,44,46,47,48,54,56,65,69,75,78,92,93,94,104,115
,116,117,120,145,146,169


7

ẬP
DẪN NH
NHẬ
1. Lí do ch
chọọn đề tài
Trào phúng bằng ngôn ngữ là một phạm trù phức tạp và đặc biệt thú vị. Việc
giải mã trào phúng chủ yếu dựa trên các nguyên tắc lập luận là để chạm đến ý nghĩa
ẩn sâu bên dưới lớp bề mặt ngôn từ. Trào phúng còn là phương tiện đả kích mạnh
mẽ nhưng lại có ý nghĩa xây dựng sâu sắc và hiệu quả cao. Luận án ‘Lập luận

trong tiểu phẩm trào phúng’ nghiên cứu những lập luận có chứa chất trào phúng,
nhằm mục đích châm biếm, mỉa mai, phê phán đả kích những cái xấu trong xã hội.
Chúng tôi gọi tên chung cho cả ba khái niệm trên là biếm dụ.

thuyết nào là tối ưu. Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng nhiều trường hợp hài hước có thể
phải vận dụng, phối hợp một số lí thuyết khác nhau để giải thích mới thỏa đáng.

Lí thuyết về sự giải tỏa, tiêu biểu là hai tác giả: John C. Meyer, trong công trình
Humor as a double-edged sword, 2000 (Hài hước như một con dao hai lưỡi), trình
bày bốn chức năng của hài hước trong giao tiếp; và Daniel Ellis Berlyne trong công
trình Humor and its kin, 1972 (Hài hước và các quan hệ họ hàng của nó). Lí thuyết
này cho rằng hài hước là một cơ chế cân bằng, làm giảm căng thẳng tâm lí. Tiếng
cười và sự vui vẻ, theo lí thuyết về sự giải tỏa, là giải pháp hữu ích để khắc phục
những ức chế về thần kinh, vượt qua sự kiềm chế của các chế định văn hóa xã hội
và bộc lộ những ham muốn, khát vọng bị đàn áp, bị dồn nén.

Lí thuyết về ưu thế vượt trội là quan điểm về hài hước của Plato và Aristotle, và
sau này là Thomas Hobbes. Nhìn chung, con người cười về những bất hạnh, những
yếu kém của người khác (gọi là khoái cảm), vì những thứ đó khẳng định ưu thế
vượt trội của người cười.

Lí thuyết về sự phi lí cho rằng, hài hước được cảm nhận tại thời điểm mà một
người nhận ra sự phi lí giữa một khái niệm cố hữu với một sự kiện thực tế của nó
nhưng giữa chúng lại chẳng có chút liên quan gì. Francis Hutcheson trình bày trong
cuốn Thoughts and laughter, 1725 (Ý thức và tiếng cười), cái cười trong biếm họa,
về bản chất là một phản ứng khi tiếp nhận một điều phi lí. Arthur Schopenhauer,
nhà triết học Đức đã viết rằng những điều phi lí là nhận thức giữa các quan niệm
phổ biến và cái thực tế xa lạ mà nó đại diện. Hegel, trong các công trình nghiên cứu
có liên quan đến hài hước cũng đã chia sẻ gần như chính xác quan điểm này. Tuy
nhiên, các phiên bản nổi tiếng nhất của lí thuyết phi lí lại là của Kant, người tuyên
bố rằng “biếm họa là sự chuyển đổi đột ngột từ một kỳ vọng quá mức sang trạng
thái trống rỗng." Henri Bergson trong cuốn Le rire, 1900 (Tiếng cười), cố gắng



humor (GTVT)).
Lí thuyết tổng quát hài hước bằng ngôn từ (GTVH) ra đời sau SSTH một thập
kỷ, nó đã quy chuẩn các nguồn tri thức kiến tạo hài hước thành sáu phạm trù riêng
biệt, có tên gọi là Knowledge Resources (KRs). Sự đối lập kịch bản (Script


10

opposition (SO)) - phạm trù nổi bật nhất trong SSTH trở thành một trong sáu phạm
trù của SSTH. Các cấp độ của các phạm trù này được Salvatore Attardo trình bày
trong cuốn Linguistic Theories of Humor, 1994 (Các lí thuyết ngôn ngữ về hài
hước), cụ thể là:
1. Đối lập kịch bản (Script opposition (SO)).
3 Cơ chế logic (Logic Mechanism (LM)).
4 Tình huống (Situation (SI)).
5 Mục tiêu (Target (TA)).
6 Chiến lược kể chuyện (Narrative Strategy (NS)).
7 Ngôn ngữ (Language (LA)).
Các phạm trù này dùng để kiến tạo các kiểu chuyện cười khác nhau, đồng thời
cũng là căn cứ để phân tích, so sách các mức độ tương đồng và khác biệt giữa các
chuyện cười (jokes). Willibald Ruch, một nhà tâm lí học đồng thời là nhà nghiên
cứu hài hước của Đức đã làm một số khảo sát thực nghiệm để kiểm chứng lí thuyết
này, kết quả ông chỉ thành công một phần. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định KRs và
những luận điểm trong GTVH là mảnh đất màu mỡ và là nguồn cảm hứng cho giới
nghiên cứu.
Thứ hai là phạm trù mỉa mai, châm biếm : Phạm trù này cũng đã được giới học
thuật quan tâm nghiên cứu và ứng dụng từ rất sớm. Socrates (469-399) một triết gia
Hy Lạp cổ đại, được ghi nhận là một nhân vật nổi tiếng với khái niệm Mỉa mai kiểu

Socrates (Socratic irony). Ông sử dụng chiến lược truy vấn - vờ như không biết gì

discourse” (Vai trò của mỉa mai trong diễn ngôn), (Meyers R. A., 1981: 411) đã đưa
ra ví dụ “I always wanted to spend the summer in Detroit” (Tôi luôn mong muốn
được đi nghỉ hè ở Detroit), người phát ngôn trong tình huống anh ta chẳng hề muốn
đi nghỉ ở Detroit. Đây là kiểu đối lập phủ định ở cấp độ mệnh đề. Một số nhà ngôn
ngữ học cho rằng cả hai ví dụ trên đều cấu thành từ một kiểu mỉa mai đặc trưng, ở
đó vừa có nghĩa bình phẩm vừa có nghĩa phàn nàn.
Haiman trong công trình Sarcasm as theater (Phép châm biếm là một tuồng kịch)
[144:188], luận giải về sự phân biệt giữa châm biếm (sarcasm) và mỉa mai (irony)
xuất phát ở chủ đích (intention) của lời nói. Trong khi châm biếm là có chủ đích cụ
thể còn mỉa mai thì không cần điều kiện này. “Để mỉa mai, người nói không cần để
ý rằng bề mặt ngôn từ hay lời lẽ của anh ta là ‘sai’ mà chỉ cần đối phương nhận diện
nghĩa thật sự nó là được. Mỉa mai thường được xem như một dạng của châm biếm,
tuy nhiên có một số tác giả dùng hai thuật ngữ này có nghĩa như nhau [95]. Kraufer


12

trong bài “Understanding ironic communication”, 1981 (Sự lĩnh hội cuộc thoại có
hàm ý châm biếm mỉa mai) [120], cho rằng có thể sử dụng ẩn dụ tạo ra mỉa mai.
Trong trường hợp so sánh ẩn dụ giữa người với sư tử, cọp, thỏ (mạnh như cọp, nhát
như thỏ v.v..) tùy theo cấp độ cao hay thấp, dương tính hay âm tính mà nó phản ảnh
những quan niệm xã hội khen hay chê. Khi các so sánh này xuất hiện nhiều lần, sẽ
có hiện tượng mỉa mai, châm biếm hay hài hước. Trong trường hợp mỉa mai hiển

ngôn (là trường hợp trong câu có sử dụng các từ như: mỉa mai thay, một cách mỉa
mai v.v.), người nói đã mang đến cho người nghe những thứ mỉa mai hiển ngôn mà
không cần suy luận. Ngược lại, trong mỉa mai hàm ngôn, chìa khóa suy luận là yếu
tố tối quan trọng để hiểu được sự mỉa mai. Tuy nhiên trong tất cả những ví dụ về
irony, cách hiểu của nó còn tùy thuộc vào đối tượng nhận, và không gì có thể đảm
bảo rằng người nghe có thể hoàn toàn khôi phục nghĩa một cách trọn vẹn. Điều này

dân gian dưới góc độ dụng học, luận án tiến sĩ ngôn ngữ học, Viện ngôn ngữ học. Ở
đó tác giả khảo sát các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự đối với hàm ý trong
truyện cười. Trần Trọng Nghĩa (2011), Một số phương thức lập luận trong truyện

cười hiện đại, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM.
Đặng Hồng Nhung (2008), Phương thức gây cười trong truyện cười thế giới hiện

đại dước góc nhìn logic học, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, ĐHSP Hà Nội. Ngoài
ra còn có một số bài viết có liên quan đến lĩnh vực này.
Nhìn chung, trên thế giới lịch sử nghiên cứu về trào phúng, mỉa mai và châm
biếm khá phong phú về số lượng công trình và cũng thu hút đông đảo các học giả
quan tâm. Đây là một đề tài lí thú nhưng cũng rất khó khăn và phức tạp. Cái cười
nói chung, hay một phần của nó là trào phúng và châm biếm, tự thân nó đã là một
thực thể trừu tượng vốn có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác
như tâm lí, văn hóa, giáo dục v.v. và cả những quan niệm xã hội của mỗi cộng đồng.
Cho nên nếu chỉ khảo sát nó từ một góc nhìn đơn lẻ thì ta không thể có một công
trình có chất lượng như chúng ta mong muốn. Đó cũng chính là lí do mà các công
trình về đề tài này chưa thật phong phú như mong đợi.
3. Nhi
Nhiệệm vụ nghi
nghiêên cứu
Chúng tôi đề ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu sau:
a. Luận giải cơ sở ngôn ngữ học và các yếu tố cấu thành lập luận trào phúng.
b. Minh định và hệ thống hóa các kiểu lí lẽ được sử dụng trong các tiểu
phẩm trào phúng.
c. Xác định vai trò và sức mạnh của ngôn ngữ trong việc tạo ra các hiệu quả
trào phúng.


14

sử dụng nó nhằm mục đích gì?
Phạm vi nghiên cứu của luận án chủ yếu giới hạn trong các cơ sở hình thành và
các tiêu chí nhận diện yếu tố trào phúng và châm biếm. Minh định và hệ thống hóa
các kiểu lí lẽ được sử dụng trong các TPTP, các chiến lược lập luận và các giá trị
ngữ dụng của chúng. Cái hài trong ngôn ngữ vô cùng rộng lớn nhưng nhìn chung
chúng có hai xu hướng chính: một là cười chỉ để cho vui, thư giãn; hai là cười chủ
yếu để phê phán. Chúng tôi chọn khảo sát theo xu hướng thứ hai, dưới góc nhìn của
lí thuyết lập luận trong ngữ dụng học.


15

ực ti
5. Ý ngh
nghĩĩa khoa học và th
thự
tiễễn của đề tài

a. Về lí lu
luậận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào việc nghiên cứu diễn ngôn trong văn
học trào phúng, cụ thể là:
- Mở rộng biên độ về đối tượng khảo sát của lập luận (những TPTP và châm

biếm). Công trình này xem xét đối tượng này dưới góc nhìn lập luận, nghĩa là kiến
giải việc dùng các lí lẽ, tác tử, kết tử, các cấu trúc siêu ngôn ngữ v.v. gọi chung là
các công cụ lập luận để tạo ra những giá trị trào phúng và châm biếm một cách có
hiệu quả.
- Xây dựng các tiêu chí để nhận diện, quy tắc giải mã các hiện tượng trào phúng.


loại được vận dụng vào việc tổng hợp các thể loại truyện cười, lập luận gây cười và
các giai thoại hài hước theo trình tự thời gian đăng tải của ngữ liệu trên báo chí.
Chúng tôi chọn và khoanh vùng ngữ liệu theo trình tự thời gian, sau đó thống kê tỉ
lệ các phương pháp lập luận gây cười, tần suất xuất hiện các kiểu lí lẽ, các hình thức
ngôn ngữ biểu đạt, các phương tiện gây cười được vận dụng trên tổng số những


16

mẫu khảo sát. Thủ pháp phân tích và tổng hợp được vận dụng để phân tích ngữ liệu
trên ba lĩnh vực: cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong mối liên hệ với các ngành
văn hóa học, văn học, tâm lí học và triết học. Kết quả phân tích sẽ được khái quát và
tổng hợp thành sơ đồ, bảng biểu. Chúng tôi lần tìm ra các cơ chế trào phúng trong
từng tiểu phẩm để tiến hành phân loại. Kết quả phân tích được sẽ được tổng hợp
dùng làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu trong quá trình nghiên cứu.

Phương pháp so sánh đối chiếu: theo Lê Quang Thiêm trong quyển “Nghiên
cứu đối chiếu các ngôn ngữ” (2004), đó là một tổng thể các phương thức, thủ pháp
nhằm làm sáng tỏ cái riêng và cái chung trong ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hành chức
và sự phát triển của chúng. Tất cả nhằm mục đích xây dựng một lí luận đại cương,
xác lập các phổ quát ngôn ngữ. Tuy nhiên, đây là một luận án về lí luận ngôn ngữ,
chủ yếu khảo sát trên cứ liệu tiếng Việt, cho nên thực chất của việc so sánh đối
chiếu chỉ được vận dụng như một thủ pháp của phương pháp miêu tả. Việc so sánh
đối chiếu nhằm làm rõ hơn các các kết quả của luận án. Theo đó, chúng tôi tiến
hành so sánh đối chiếu các đặc điểm nổi bật và các phương thức tạo ra trào phúng,
châm biếm trong các tiểu phẩm. Qua đó chúng tôi tổng kết những nét phổ quát và
những nét riêng về văn hóa, ngôn ngữ trong TPTP. Vì cái hài không chỉ liên quan
đến ngôn ngữ mà còn liên hệ mật thiết với các ngành khoa học xã hội khác như triết
học, tâm lí học, văn hóa học, xã hội học, v.v. Cho nên luận án sử dụng một số kết
quả nghiên cứu liên ngành để làm sáng tỏ các vấn đề khảo sát.

Nguồn ngữ liệu thứ hai là các tiểu phẩm trong 10 năm (từ năm 2003 đến năm
2013) trên tất cả các số báo Tuổi trẻ cười (Bán nguyệt san châm biếm và trào phúng,
phụ san của báo Tuổi Trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh), khoảng trên 1.000 tiểu phẩm.
Nguồn ngữ liệu thứ ba là các tiểu phẩm từ các báo điện tử, cũng trong 10 năm
(2004 - 2014) bao gồm: tuoitrecuoi.com, gdtd.vn (báo Giáo dục thời đại),

vnexpress.net, kienthucngaynay.vn với số lượng hơn 1.500 tiểu phẩm.
Trong số lượng rất lớn này (3.263 tiểu phẩm), có nhiều tiểu phẩm trùng lặp, các
báo dẫn lại của nhau, biến tấu hoặc nội dung không phù hợp; chúng tôi chỉ lựa chọn
515 được tiểu phẩm tiêu biểu dựa trên các tiêu chí: có các mẩu lập luận điển hình,
có tính thú vị, sâu sắc và có nội dung giáo dục tốt để làm ngữ liệu chính thức cho
luận án. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với một số
lập luận cùng thể loại trong văn học Việt Nam và văn học dân gian của một số nước
khác.
7. Bố cục của lu
luậận án
Bố cục của luận án gồm có 3 chương, nội dung của các chương cụ thể như sau:


18

Chương 1 Cơ sở lí luận, trình bày những vấn đề cơ bản về lập luận, về trào
phúng; các phạm trù thuộc nội hàm của trào phúng bao gồm hài hước và mỉa mai,
châm biếm. Chương 1 cũng trình bày sơ đồ các bước lập luận gây cười, các yếu tố
ngôn ngữ, văn hóa liên quan cấu thành cái cười làm sở lí luận cho việc phân tích
tiểu phẩm trào phúng.
Chương 2 Lí lẽ và vai trò của ngôn ngữ trong lập luận trào phúng, nhiệm vụ
của chương này tập trung khảo sát vai trò của lí lẽ; không phải lí lẽ để thuyết phục
như trong các lập luận thông thường mà với chức năng tạo hiệu quả hài hước, hiệu
quả châm biếm. Vai trò của ngôn ngữ, nhấn mạnh vai trò và các đặt điểm của tiếng

Có một vài định nghĩa về lập luận, nhưng nhìn chung cả hai nhà nghiên cứu về

ngữ dụng học ở Việt Nam là Nguyễn Đức Dân (trong “Ngữ dụng học” tập 1) và Đỗ
Hữu Châu (trong “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2) đều gần như thống nhất quan
điểm. Nguyễn Đức Dân viết: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ

ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống
xác tín nào đó, rút ra một (hay một số) kết luận hay chấp nhận một (hay một số) kết
luận nào đó.” [13: 165]
Mục đích của lập luận là giải quyết hai vấn đề sau:
Về lí thuy
thuyếết: Lập luận đi tới một cái đích về giá trị chân lí, thường thấy trong
các lập luận mang tính khoa học, hàn lâm.
ực ti
Về th
thự
tiễễn: Lập luận để đi tới một cái đích về tính hiệu quả, thường thấy
trong các lập luận phi hình thức, những kiểu nói năng thông thường hàng ngày.
Có hai kiểu lập luận cơ bản: lập luận theo diễn từ chuẩn mực và lập luận trong

ngôn ngữ.
1.1.1.

ẩ n mự c
Lập lu
luậận theo di
diễễn từ chu
chuẩ

Theo nghĩa truyền thống, sơ đồ lập luận cơ sở tạo thành tế bào trong một văn


Bất tài → cần che giấu vì thể diện
Để che giấu thì phải cần nghệ thuật → cần có tài năng
(2) Không ít phụ nữ già nhanh hơn trong khi nỗ lực làm cho mình trẻ lại. (khẩu

ngữ)
Trước hết, phát ngôn thuyết phục bằng cách gây ấn tượng, thu hút sự chú ý
bằng sự nghịch lí, bất thường của nó. Kế đến, người nghe vận dụng tư duy để tri
nhận sự bất thường đó. Hài hước xuất hiện khi người nghe phát hiện ra cái mâu
thuẫn vô lí nội tại. Ở (1) là cách châm biếm những kẻ ngụy biện rằng mình không
có năng lực để trốn tránh lao động, trốn tránh trách nhiệm xã hội. Còn ở (2) là sự
châm biếm những nỗ lực làm trẻ lại không đúng cách, thiếu tính khoa học, gây phản
tác dụng.
Hạt nhân làm nên các kiểu nói có hàm ý, ngụ ý châm biếm, mỉa mai hay đơn
thuần chỉ để gây cười đó là các lẽ thường.


21

ườ
ng
1.1.2.1. Lẽ th
thườ
ường
Lẽ thường, tiếng Anh là topo, tiếng Pháp là topos, gốc tiếng Hi Lạp là Topicos
có nghĩa là lí lẽ dùng chung. Theo O.Ducrot, lẽ thường là những chân lí thông
thường có tính chất kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề
logic, mang đặc thù địa phương hay dân tộc, có tính khái quát, làm cơ sở để lập nên
các lập luận riêng. [6;191]
Lẽ thường được sử dụng phổ biến trong các hiện tượng nói năng của con người

ngại. Tương tự ở (4), bom thông minh là con đẻ và là niềm tự hào của Lầu Năm
Góc, chỉ chuyên tìm diệt kẻ thù lại rơi xuống trại trẻ mồ côi.
nh và hàm ý
1.1.2.2. Ti
Tiềền gi
giảả đị
định
Cũng giống như lẽ thường, tiền giả định (TGĐ) đều là những hiểu biết chung
mà các bên tham gia giao tiếp đều đã có sẵn. Nhưng điểm khác nhau cơ bản là, tiền
giả định thì bị ràng buộc bởi quy chuẩn đúng – sai, còn lẽ thường thì không có tính
tất yếu, không có tính bắt buộc; không bị chi phối bởi chuẩn mực đúng – sai. Trong
giao tiếp hàng ngày, ta hay dùng tiền giả định bách khoa, còn gọi là tiền giả định
giao tiếp, là một trong những loại tiền giả định cùng với hàm ý hợp thành nghĩa
hàm ẩn.
Theo Đỗ Hữu Châu “Tiền giả định bách khoa bao gồm tất cả những hiểu biết

về hiện thực bên trong và bên ngoài tinh thần của con người mà các nhân vật giao
tiếp có chung trên nền tảng đó mà nội dung giao tiếp được hình thành và diễn tiến”
[5: 395].
Theo Nguyễn Đăng Khánh [38], người Việt thường có lối nói vòng vo có hàm ý,
và hay sử dụng các biện pháp tu từ. Bởi lẽ, những lối nói như thế sẽ tạo nên sự
phong phú và sức lôi cuốn của câu chuyện. Chúng ta giả định, nếu tất cả các phát
ngôn đều hiển ngôn, tường minh; hay nói cách khác, nếu tách những lối nói có hàm
ý ra khỏi đời sống giao tiếp, thì bức tranh ngôn ngữ sẽ đơn điệu và khô khan tới
mức nào.
Trong phạm vi những lập luận trào phúng, vai trò của tiền giả định và hàm ý
càng trở nên đặc biệt quan trọng; là vì cơ chế tạo tiếng cười trong địa hạt ngôn ngữ
có sự tham gia đắc lực của sự suy diễn logic, nhằm tạo ra những khoái cảm nhận
biết, khoái cảm chinh phục. Sự thử thách về trí tuệ luôn là một nhu cầu vừa để thỏa
mãn sự nhận thức về thế giới cũng vừa để thể hiện mình. Không chỉ ngoài xã hội,


vậy mà, v.v.
úc: Sau một thời gian chung sống, hai vợ chồng bắt đầu nảy sinh bất
(6) Hạnh ph
phú
hoà. Người vợ than thở:
-

Ngày xưa yêu tôi, anh nói rằng mỗi ngày chỉ cần nhìn thấy tôi một vài phút thôi
là anh cảm thấy hạnh phúc lắm rồi. Vậy mà bây giờ...

-

Bây giờ vẫn thế, em ạ! - Người chồng đỡ lời. (vnexpress.net 4/2010)

Các từ chỉ cần, vậy mà báo hiệu những định hướng tiếp theo trong diễn tiến của câu
chuyện.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status