ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÂM QUANG ĐÔNG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU CÓ VỊ NGỮ LÀ VỊ TỪ
MANG Ý NGHĨA TRAO/TẶNG
(trên cơ sở tiếng Việt và tiếng Anh)
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62.22.01.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2007
1. Lâm Quang Đông (2000) Vài suy nghĩ về vị từ hành động nhóm
tặng/biếu và Lỗi dịch thuật Việt-Anh, trong Nội san Ngoại ngữ,
tháng 12/2000, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, trang 33 –
36
2. Lâm Quang Đông (2004) Trật tự một số tham tố trong cấu trúc ngữ
nghĩa của câu với vị từ đa trị (cho, tặng, gửi), báo cáo tại Hội
thảo “Ngôn ngữ học Quốc tế
Liên Á lần thứ 6”, Hà Nội, tháng
11/2004 (in trong tóm tắt báo cáo của Hội thảo)
3. Lâm Quang Đông (2005) Về sự hiện diện/không hiện diện của giới
từ “cho” trong câu chứa vị từ có ý nghĩa cho/tặng, Tạp chí
Ngôn ngữ số 12, 2005, trang 26-33
4. Lâm Quang Đông (2005) Giới từ “cho” và “của” với vai nghĩa
của một số tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với
vị từ đa trị “mua
”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
số 4/2005, trang 56 - 63
5. Lâm Quang Đông (2006) Phương pháp nhận diện vai nghĩa của
các tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ
đa trị như ‘cho, tặng, gửi’, Tạp chí Ngôn ngữ số 7 năm 2006,
trang 49 - 58
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là một cấu trúc phức tạp, nhiều
tầng bậc, trong đó vị từ là trung tâm cùng với một hay nhiều thành tố
nghĩa chung quanh nó. Khả năng kết hợp, hay ngữ trị của vị từ càng lớn,
2. Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và tư liệu nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là cấu trúc nghĩa biểu hiện
củ
a câu có vị ngữ là vị từ đa trị, cụ thể là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng
trong tiếng Việt và tiếng Anh (trong luận án diễn đạt gọn là câu với vị từ
trao/tặng, chẳng hạn như: cho, gửi, đưa, cung cấp, biếu, tặng, hiến,
2
nhường, phú, thí, phát, ban, give, present, hand, endow, bestow, confer,
offer)
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết, luận án điểm lại những giải thuyết về cấu trúc nghĩa
của câu, nhất là cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị ngữ là vị từ đa trị,
tiêu biểu là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng. Những giải thuyết này tạo lập
cơ sở lý luận để từ đó làm rõ các l
ớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện
của câu với vị từ đa trị, đặc biệt là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng.
Thứ hai, luận án xác định vai nghĩa cũng như đặc trưng của các
tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu ở từng lớp nghĩa. Tư
cách của các tham thể, đặc biệt là tư cách của các chu tố trong cấu trúc
nghĩa biểu hi
ện của câu với vị từ trao/tặng cũng sẽ được phân định rõ
ràng.
Nhiệm vụ tiếp theo của luận án là đưa ra kiến giải về tác động
của những yếu tố ngữ nghĩa tới cấu trúc cú pháp của câu với vị từ
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về lý luận, luận án cung cấp một cái nhìn đa dạng, nhiều chiều
về những quan điểm, giải thuyết khác nhau về cấu trúc nghĩa biểu hiện
của câu cũng như về vai nghĩa và tư cách của các tham thể trong cấu trúc
ngh
ĩa biểu hiện của câu qua nhiều công trình quan trọng trong ngôn ngữ
học hiện đại cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.
Luận án trình bày những phát hiện mới về cấu trúc nghĩa biểu
hiện của câu với vị từ đa trị thông qua những trường hợp cụ thể với vị từ
mang ý nghĩa trao/tặng. Các mô hình được xác lập và những tổng kết,
phát hiện của lu
ận án thể hiện sáng tỏ hơn các lớp nghĩa và sự phân bố
các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu.
Luận án cũng giới thiệu cách phân loại mới của một số tác giả
đối với vai nghĩa của các tham thể, khắc phục những khiếm khuyết hoặc
những điểm chưa thoả đáng của những cách phân loại trước đây. Quy
trình các bước phân tích cấ
u trúc nghĩa biểu hiện của câu mà luận án đề
xuất và kiểm nghiệm chứng tỏ đó là một quy trình khả dụng, hữu ích và
hợp lý để nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu.
Như vậy, định hướng nghiên cứu của luận án tập trung nhiều vào
mặt lý luận của cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ đa trị, tiêu biểu
là vị
từ trao/tặng, hơn là tiến hành đối chiếu, so sánh cụ thể một loại câu
với vị từ trao/tặng trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Về thực tiễn, trong giảng dạy ngoại ngữ, luận án đóng góp một
số ứng dụng vào công tác giảng dạy, học tập cũng như dịch thuật liên
quan tới câu có vị ngữ là vị từ đa trị trong tiếng Anh và tiếng Việt, tiêu
tham thể xung quanh nó. Số lượng các tham thể thể hiện các đối tượng
tham gia sự tình và các thành phần cú pháp thể hiện các tham thể đó là do
ngữ trị của vị từ quyết định. Có những tham thể là bắt buộc và cũng có
tham thể là tuỳ nghi đối vớ
i từng vị từ nhất định. Vai nghĩa của các tham
thể là quan hệ nghĩa giữa tham thể với vị từ. Số lượng tham thể càng
nhiều thì vai nghĩa của chúng càng đa dạng, khiến cho cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu càng phức tạp.
1.2 Quan điểm về vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu
Vấn đề vai nghĩa của các tham th
ể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện
của câu là một vấn đề phức tạp và đã được nghiên cứu theo rất nhiều
quan điểm khác nhau, nhất là việc xác định tham thể nào đóng vai gì.
Một số phương pháp xác định vai nghĩa đã được đề xuất, tiêu biểu là
Frawley (1992), Van Valin (1993), Jackendoff (1995), Sowa (1999) và
Mylne (2000).
Frawley (1992) phân các vai nghĩa thành các vai diễn tố và phi
diễn tố (participant and non-participant roles). Còn Van Valin (1993) lại
xếp các vai nghĩa theo một chuỗi liên tục (continuum). Trong khi đó,
Jackendoff (1995)
đề xuất cách tổ chức các vai nghĩa thành các bậc (tier)
như bậc không gian (spatial tier), bậc hành động (actional tier), bậc chủ
đề (thematic tier). Sowa (1999) cũng đề xuất một cách phân loại khá
phức tạp. Thuận tiện hơn cả là cách phân loại của Mylne (2000) theo
Thang độ Tham gia của Vai.
Cấu trúc nghĩa biểu hiện c
ủa câu với vị từ trao/tặng từ trước tới
nay được rất nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập một cách rải rác, nằm trong
tổng thể những vấn đề chung về vai nghĩa, về vị từ đa trị, v.v. chứ chưa
được nghiên cứu toàn diện, sâu sắc. Đến giữa thập kỷ 1990 mới bắt đầu
xuất hiện một số công trình chuyên sâu về nhóm vị t
ừ này, tiêu biểu là
Newman (1996) và một số cộng sự của ông. Kết quả nghiên cứu trong
các công trình này là những cơ sở quan trọng được tiếp tục phát triển và
khảo sát theo mục đích và nhiệm vụ cụ thể trong luận án này.
O.N. Seliverstova (2004) cũng đề cập đến động từ dat’ – cho
trong tiếng Nga. Tuy nhiên, bà chưa khảo sát cấu trúc nghĩa biểu hiện
của câu với động từ này, và cũng chưa đưa ra
được những cách thức xác
định vai nghĩa của các tham thể.
Trong tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản (1977) đã dành một phần
công trình Động từ trong tiếng Việt bàn về nhóm động từ phát nhận. Còn
trong nghiên cứu của một số tác giả khác như Cao Xuân Hạo, Nguyễn
6
Văn Hiệp, Hoàng Trọng Phiến, nhiều ví dụ với vị từ trao/tặng đã được
đưa ra làm dẫn chứng nhưng vẫn chưa phải là đối tượng được nghiên cứu
thật sâu. Do vậy, luận án là một bước tiếp nối những kết quả trên, khảo
sát sâu hơn và toàn diện hơn về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ
đa trị thông qua những tr
ường hợp cụ thể với vị từ trao/tặng.
1.5 Tiểu kết
2.2. Các lớp nghĩa
2.2.1 Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu (control - possession)
Đây là một lớp nghĩa cơ bản bởi các vị từ trao/tặng trước hết thể
hiện sự chuyển đổi quyền kiểm soát — sở hữu đối với vật trao/tặng. Lớp
7
nghĩa này được khái quát hóa bằng công thức x cause y to have z - x
khiến y có z.
2.2.2 Lớp nghĩa không gian - động (spatial - dynamic)
Sự dịch chuyển của vật trao/tặng từ phạm vi kiểm soát – sở hữu
của người cho sang phạm vi kiểm soát — sở hữu của người nhận là một
sự dịch chuyển trong một không gian vật chất cụ thể hoặc không gian
trừu tượng. Về không gian, khoảng cách giữa người cho và người nhận,
mức độ trực tiếp hay gián tiếp của hành
động trao/tặng cũng như phạm vi
của sự tình trao/tặng có những độ biến thiên khác nhau. Các mức độ biến
thiên đó được mã hóa trong chính các vị từ của nhóm.
Lớp nghĩa không gian - động của cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu với vị từ trao/tặng có thể khái quát hóa bằng hàm ngữ nghĩa x cause z
to go to y - x khiến z tới y.
2.2.3 Lớp nghĩa lợi ích (human interest)
Lớp nghĩa này thể hiện đối t
ượng nào được lợi từ hành động
trao/tặng, hay hành động trao/tặng đó đem lại lợi ích cho đối tượng nào.
chiếm số
lượng nhiều hơn cả: 4/5, bao gồm các vị từ thể hiện quan hệ đồng đẳng
hoặc trên - dưới giữa người cho và người nhận.
Các lớp nghĩa và vai nghĩa hoặc đặc trưng của ba diễn tố trong
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng được thể hiện trong
bảng sau đây.
2.3 Cấu trúc nghĩa biểu hiệ
n cơ sở của câu với vị từ trao/tặng
Vị từ trao/tặng là loại vị từ tam trị, tức là chúng đòi hỏi phải có 3
tham thể bắt buộc (diễn tố) đi cùng với chúng. Do vậy, cấu trúc nghĩa
biểu hiện cơ sở của câu với vị từ trao/tặng gồm Vị từ + 3 diễn tố. Sau
đây là những nhận xét cụ thể về 3 di
ễn tố này.
2.3.1 Diễn tố thứ nhất
Diễn tố này có các đặc trưng [+Động vật] (bao hàm ý nghĩa
[±Người]), [+Kiểm soát], và [+Sở hữu]. Diễn tố thứ nhất đảm nhiệm vai
Hành thể (Actor) có đầy đủ đặc trưng và những ý nghĩa kéo theo
(entailment) của Tác thể (Agent) như [+Người], hoặc chí ít là [+Động
vật], [+Chủ ý], [+Trách nhiệm], v.v xuất hiện với tỷ lệ khá cao, khoảng
75% trong số tư
liệu được nghiên cứu, trong khi vai Hành thể không đủ
những đặc trưng ấy, ví dụ không có đặc trưng [Người] hay [Động vật],
[Chủ ý], không phải là nguyên do trực tiếp của hành động trao/tặng và
chỉ có thể coi là Chủ thể (Author), chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng 5% mà
thôi. Cá biệt có trường hợp vai Công cụ cũng xuất hiện ở vị trí diễn tố
Đặc trưng/Vai nghĩa của ba diễn tố Các lớp nghĩa
v.v.
Đối thể
9
thứ nhất. Diễn tố thứ nhất còn kiêm cả vai nghĩa Nguồn (Source) và Địa
điểm.
2.3.2 Diễn tố thứ hai
Diễn tố thứ hai đảm nhiệm vai Tiếp thể (Recipient), đồng thời là
Đích (Goal). Khi vật trao/tặng dịch chuyển tới Đích, nó sẽ định vị tại
điểm kết thúc đó nên đôi khi Đích được thay thế bằng Địa điểm. Diễn t
ố
thứ hai có thể đảm nhiệm vai Nghiệm thể khi nó phải trải qua một quá
trình nào đó để tạo ra vật trao/tặng, hoặc đạt được một đặc tính, một
phẩm chất hay một tính cách nào đó. Với ý nghĩa được hưởng một quyền
lợi nào đó qua hành động trao/tặng, được quyền sở hữu và/hoặc kiểm
soát, sử dụng vật trao/tặng, diễn tố thứ hai còn
đảm nhiệm vai Đắc lợi
thể.
Trong trường hợp cho, give được dùng để thay thế cho những vị
từ tạo tác như tát, đấm, đạp, v.v., ví dụ: Anh cho thị cái tát, She gives him
a slap, thì diễn tố thứ hai hoàn toàn là Thụ thể — đối tượng chịu tác động
trực tiếp của hành động (cụ thể hơn là Sufferer — Kẻ chịu đựng, theo
Gasser 2003, hay Bị hại thể - Maleficiary, theo Diệp Quang Ban 2004).
2.3.3 Diễn tố
thứ ba
Diễn tố thứ ba có thể là một thực thể vật chất cụ thể, có thể là
một thực thể trừu tượng. Nó có thể xác định hoặc bất định, cá thể hoá
hoặc không, tức là có những đặc trưng [± xác định] (definite), [±cá thể]
Chủ thể
Nguồn
Địa điểm
Công cụ
Tiếp thể
Đích
Nghiệm thể
Địa điểm
Đắc lợi thể
Thụ thể
Đối thể
Tạo thể
Công cụ CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN RÚT GỌN
VÀ MỞ RỘNG CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG
3.1 Dẫn nhập
Tuỳ từng trường hợp cụ thể, một diễn tố nào đó có thể khiếm
diện, làm rút gọn cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Ngược lại, trong cấu
trúc nghĩa biểu hiện của câu còn có các chu tố tham gia với những tư
cách khác nhau, mở rộng cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu.
3.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với số lượng diễn tố ít hơn 3
3.2.1 Trường hợp chỉ có một diễn tố
Khi cả người nhận và vật trao/tặng đều không xác định, không cụ
: - Áo để em thơ, lụa tặng già.
- He was given the Nobel Prize for his invention.
Ông ấy được tặng giải Nôben về phát minh của mình.
3.3 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với số lượng tham thể nhiều
hơn 3
3.3.1 Chu tố Mặc định
Về nội dung nghĩa cơ bản nhất, cả send trong tiếng Anh và gửi
trong tiếng Việt đều giả định rằng hành động trao/tặng xảy ra thông qua
một
đối tượng trung gian nào đó. Đối tượng này có một vị trí mặc định
(default) - vị trí được giả định sẵn trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu.
Để phân biệt, chu tố này được tạm gọi là Chu tố Mặc định (Default
Circumstants), còn các Chu tố khác được gọi là Chu tố Phi Mặc định
(Non-default Circumstants). Chu tố Mặc định này được gọi là Tiếp thể
Trung gian khi nó có đặc trưng [+người], còn khi không có đặc trưng này
([-người]), nó chỉ là Ph
ương tiện (Means) hoặc Công cụ (Instrument). Ví
dụ:
- Mẹ tôi gửi bà Thanh cho tôi hai đồng.
- I have sent you the gift through Mr. Brown.
- Tôi sẽ gửi cho anh bản hợp đồng qua thư điện tử/ email.
I will send the contract to you through email.
- Tôi gửi EMS cho Uỷ ban Châu Âu bản dịch.
I sent the EC the translation by EMS.
Địa điểm
Công cụ
Tiếp thể
Đích
Nghiệm thể
Địa điểm
Đắc lợi thể
Thụ thể
Đối thể
Tạo thể
Công cụ
Tiếp thể trung gian
Phương tiện
Công cụ
Hướng
Đích
Thời gian
Phương thức
Lý do
v.v
3.4 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng và với một số
vị từ khác: so sánh về chu tố mặc định
3.4.1 So sánh vị từ trao/tặng với vị từ “mua (buy)”
Kết quả khảo sát cho thấy Đắc lợi thể là một Chu tố Mặc định
trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ mua. Ví dụ:
- Bà mua cho con nốt ch
ỗ rươi này, còn tươi lắm.
- (Khi) mặt nước chập chờn con cá nhảy.
3.5 Tiểu kết
Số lượng di
ễn tố trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ
mang ý nghĩa trao/tặng là 3 (mô hình M1). Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện
và đặc trưng của chúng, một hoặc hai diễn tố nào đó có thể khiếm diện
cho nên trong mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu lúc đó chỉ có 1
hoặc 2 diễn tố. Đó là cấu trúc nghĩa biểu hiện rút gọn của câu (mô hình
M2, M3, M4, M5 và M6).
Đối với cấu trúc ngh
ĩa mở rộng của câu với vị từ trao/tặng (có số
lượng tham thể nhiều hơn 3), ngoài 3 diễn tố, có một vài chu tố được giả
định sẵn trong ngữ nghĩa của những vị từ nhất định và có khả năng hoạt
động như những diễn tố thực thụ hoặc có khả năng thay thế cho một diễn
tố nào đó. Những chu tố này đượ
c gọi là Chu tố Mặc định và có số lượng
hạn chế. Còn các chu tố khác được gọi là Chu tố Phi Mặc định.
Chương 3 cũng thể hiện bước thứ ba trong quy trình phân tích
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu: bước xác định tư cách, vị thế của các
tham thể sau khi đã được nhận diện. 14
CHƯƠNG 4: SỰ THỂ HIỆN CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
TRÊN CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA CÂU
VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG
4.1 Dẫn nhập
TR
1
LM
1 (Newman, 1996: 40-42)
Tuy nhiên, trong luận án, để cho giản tiện và dễ hình dung, chỉ có một
TR được chỉ rõ, còn những đối tượng khác đều được thể hiện là LM. 4.2 Trật tự tham thể trong câu với ≤ 3 diễn tố
4.2.1 Khi Tác thể được chọn làm Vật được định vị (Trajector - TR)
4.2.1.1 Trật tự TÁC THỂ + TIẾP THỂ + ĐỐI THỂ
Trật tự này chiếm tới 60% trong số các trường hợp được khảo
sát. Ngoài lý do khối lượng (độ dài) của các danh ngữ (NP) thể hiện Tiếp
thể và Đối thể, các đặc điểm của các đối tượ
ng tham gia sự tình cũng tác
động tới trật tự này. Trật tự O1: NP1 + Vtrao/tặng + NP2 + NP3 phản
ánh rõ nét nhất lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu, x cause y to have z – x khiến
y có z.
15
4.2.1.2 Trật tự TÁC THỂ + ĐỐI THỂ + TIẾP THỂ
Trật tự O2: NP1 + Vtrao/tặng + NP3 + TO/CHO + NP2 phản
ánh rõ nét nhất lớp nghĩa không gian — động trong cấu trúc nghĩa biểu
hiện của câu với vị từ trao/tặng. Trong số các trường hợp NP1 đứng đầu
câu trong tiếng Anh và tiếng Việt được khảo sát, trật tự O2 chiếm
4.2.2 Khi Tiếp thể được chọn làm Vật được định vị
Trong tiếng Anh, khi NP thể hiện Tiếp thể đứng đầu câu thì cấu
trúc bị động thường được sử dụng. Tác thể thường vắng mặt, và khi có
mặt thì Tác thể luôn được thể hiện trong một giới ngữ với tác tử đánh dấu
by. Lúc này TR là Tiếp thể, được định vị theo LM Đối thể. Tuy nhiên,
trong trường hợp đặc biệt, để nhấn mạnh, người phát ngôn chọn Tiếp thể
làm TR nhưng vẫn sử dụng cấu trúc chủ động.
16
Trái lại, trật tự Tiếp thể + Tác thể + Đối thể lại là trật tự phổ biến
trong tiếng Việt, cho dù Tác thể có thể có tính bất định. Như vậy có thể
nói trật tự O3:
NP2 + BE P2
1
+ NP3 (+ BY NP1)
là trật tự đặc hữu của tiếng Anh, còn trật tự O4:
NP2 + ĐƯỢC
2
(+ NP1) + Vtrao/tặng + NP3
là trật tự đặc hữu của tiếng Việt (trật tự O4 hiếm khi xuất hiện trong tiếng
Anh với cấu trúc chủ động).
Trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, khi Tiếp thể được chọn làm
TR, vị từ trao/tặng có thể được thay thế bằng vị từ tiếp nhận. Lúc này,
trật tự O5:
NP2 + Vtiếp nhận + NP3 (+ FROM/TỪ, CỦA NP1)
là tr
ật tự chung cho cả hai ngôn ngữ, còn trật tự O6:
NP2 + Vtiếp nhận + (CỦA NP1) + NP3
2
Trong trường hợp sự tình trao/tặng được nhìn nhận như một việc gây bất lợi
cho Tiếp thể, được sẽ được thay thế bằng bị.
17
- Cô ấy gửi thư ra Hà Nội cho tôi.
*Cô ấy gửi thư cho tôi đến trường.
*Cô ấy gửi thư cho tôi ra Hà Nội.
4.4 Sự mở rộng nghĩa của give trong tiếng Anh và cho trong tiếng
Việt
cho trong tiếng Việt và give trong tiếng Anh có khả năng mở rộng
nghĩa khá lớn. Vì thế, vai nghĩa của tham thể được đánh dấu bằng cho và
give rất đa dạng. M
ục đích chính của mục 4.4 này là cố gắng khái quát
những vai nghĩa ấy do sự mở rộng nghĩa của cho và give.
4.4.1 Sự cho phép (Permission)
Sự mở rộng nghĩa này của cho/give có thể mô hình hóa qua hàm
ngữ nghĩa x cho y z => x cho y quyền làm z.
4.4.2 Gây khiến, Tạo điều kiện (Cause, Enablement)
Ý nghĩa gây khiến của vị từ trao/tặng cho phép cho/give tham gia
vào một số kiến trúc gây khiến khác nữa, cũ
ng như cho phép một số vị từ
khác nhóm cùng tham gia kiến tạo câu. Give trong tiếng Anh còn có thể
hoạt động như một liên từ trong cấu trúc điều kiện dưới dạng phân từ quá
moving poem.
• Tác thể là Nguồn tạo ra một sản phẩm tinh thần, một tư tưởng hay ý
kiến nào đó, ví dụ:
- Nhiều người cho rằng Liên hiệp quốc lâu nay toàn bị Mỹ
‘bắt nạt’.
- Has he given any opinion about the contract?
cho còn có thể làm từ công cụ (functional word) tham gia kiến
trúc nhượng bộ, đánh dấu một tình huống xảy ra như sự xuất hiện một
khả năng từ hiện thực khách quan. Ví dụ:
- Cho dẫu mai đây xa ánh đèn thành phố, anh vẫn thấy đời không
lẻ loi.
4.4.4 Tạo tác (Effective)
Tính chất hoàn thành của cho/give tạo điều kiện cho chúng thay
thế được một số vị
từ tạo tác. Ở đây quan hệ Tác thể - Thụ thể giữa
người cho và người nhận (x làm cho y phải chịu đựng z) được thể hiện rất
rõ. Đối thể là kết quả hành động của người cho hoặc của hành động giữa
người cho và người nhận và do vậy thường được đánh dấu như Tạo thể
(Complement).
4.4.5 Tầm mức (Extent)
Tính chất hoàn thành của
cho còn cho phép nó có thể được sử
dụng để đánh dấu quãng thời gian mà một hành động hay trạng thái nào
đó kéo dài cho đến lúc kết thúc hoặc cho đến lúc đạt được một mức độ
kết quả nào đó. Khác với cho của tiếng Việt, give trong tiếng Anh không
có khả năng đó. Ví dụ:
là cho.
KẾT LUẬN
Từ những kết quả khảo sát, phân tích trình bày qua bốn chương ở
trên, luận án có thể đưa ra những kết luận sau:
1. Về quy trình phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Vị từ là trung tâm của câu về mọi phương diện, do vậy muốn tiến
hành phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu nói riêng, hay phân tích
cấu trúc ngữ nghĩa của câu nói chung đều phải xuất phát từ vị từ. Mỗi
loại vị từ đều có những đặc điểm riêng, và ngay cả giữa những vị từ trong
cùng một nhóm cũng có những khác biệt quan trọng nên cần phải xem
xét từng vị từ một để chỉ ra những khác biệt ấy. Quy trình phân tích cấu
trúc nghĩa biểu hiện của câu có thể gồm 4 bước sau:
1.1 Bước đầu tiên là phân tích các nghĩa hệ thống (sense) trong
ngữ nghĩa của vị từ
. Các quan hệ nghĩa giữa vị từ với các tham thể ở mỗi
nghĩa hoặc nhóm nghĩa tạo nên các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu
hiện của câu.
1.2 Sau khi đã phân lập được các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu, bước thứ hai là xác định mỗi lớp nghĩa đó đòi hỏi
những tham thể nào, vai nghĩa của các tham thể đó trong mỗi lớ
p nghĩa
để thấy được vai nào là cơ bản, vai nào là kiêm nhiệm, vai nào có tầm
20
quan trọng chủ đạo, bao trùm hơn cả, vai nào mờ nhạt hơn, hay nói nôm
na là vai nào ‘nổi’ hay ‘chìm’ hơn các vai nghĩa khác. Đây cũng là một
của câu.
2. Về kết quả nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ
trao/tặng
Trong các vị từ đa trị, vị từ trao/tặng là một nhóm vị từ phong
phú, phức tạp, được nghiên cứu theo nhiều quan điểm khác nhau của
nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới. Chúng tôi cũng chọ
n nhóm vị từ
này làm đối tượng nghiên cứu để có thể tìm hiểu, biện giải rõ ràng hơn
về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ đa trị. Kết quả khảo sát cấu
trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng dẫn tới những kết luận
chính yếu sau đây:
2.1 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu vớ
i vị từ mang ý nghĩa
trao/tặng có thể gồm 4 lớp nghĩa:
21
1. Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu (control – possession)
2. Lớp nghĩa không gian - động (spatial – dynamic)
3. Lớp nghĩa lợi ích (human interest)
4. Lớp nghĩa quyền lực (power)
Ở lớp nghĩa không gian - động, các vị từ có thể được phân bố
trên một chuỗi liên tục (continuum) với hai cực là trực tiếp và gián tiếp,
nghĩa là chúng thể hiện những sự tình trao/tặng khác nhau với những
mức độ trực tiếp và gián tiếp khác nhau giữa người cho và ng
ười nhận:
người cho và người nhận có thể trực tiếp mặt đối mặt hoặc ở khoảng
cách rất gần nhau, hoặc có thể ở xa nhau và phải thông qua trung gian để
Chu tố Phi Mặc định gồm các tham thể còn lại như Thời gian
(Time), Cách thức (Manner), Lý do (Reason), Mục đích (Purpose), v.v. 22
2.3 Các mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ mang
ý nghĩa trao/tặng bao gồm:
Cấu trúc cơ sở với 3 diễn tố
(M1) CHO <Tác thể; Tiếp thể; Đối thể >
Các cấu trúc rút gọn
(M2) CHO <Tác thể>
(M3) CHO <Đối thể>
(M4) CHO <Tác thể; Đối thể>
(M5) CHO <Tác thể; Tiếp thể>
(M6) CHO <Đối thể; Tiếp thể>
Cấu trúc mở rộng:
Cấu trúc nghĩa biể
u hiện mở rộng của câu với vị từ mang ý nghĩa
trao/tặng bao gồm các Diễn tố, Chu tố Mặc định và Phi Mặc định. Tuy
nhiên, số lượng Chu tố Mặc định có thể cùng xuất hiện đối với mỗi vị từ
có thể khác nhau, những vị từ nào nằm về phía cực gián tiếp nhiều hơn
sẽ có khả năng cho phép nhiều Chu tố Mặc định cùng xuất hi
ện cao hơn
so với những vị từ nằm về phía cực trực tiếp.
2.4 Các trật tự từ cơ bản phản ánh cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu với vị từ mang ý nghĩa trao/tặng đã xác định được trong luận án bao
cho thấy những khác biệt rất rõ ràng về các yếu tố tri nhận giữa người nói
tiếng Việt và người nói tiếng Anh, kể cả về trật tự cú pháp lẫn các tác tử
đánh dấu vai nghĩa. Vì lẽ đó, có trật tự từ chỉ xuất hiện trong tiếng Anh
mà không được hoặc khó đượ
c chấp nhận trong tiếng Việt và ngược lại,
mặc dù chúng cùng mô tả một sự tình. Nói cách khác, mỗi một trật tự cú
pháp ánh xạ một cấu trúc nghĩa biểu hiện nhất định, hoặc chí ít cũng là
thể hiện một ý nghĩa khác nhau, một cách diễn giải khác nhau về cùng
một sự tình theo quan điểm của người phát ngôn.
Tương tự như trật tự từ, mỗi một tác tử đ
ánh dấu khác nhau cũng
thể hiện các cách diễn giải khác nhau của người phát ngôn về sự tình, về
các đối tượng tham gia hay liên quan tới sự tình.
Người Việt học tiếng Anh cần hết sức chú ý những điểm trên
mới có thể lựa chọn đúng cấu trúc cú pháp để diễn tả chính xác ý nghĩa
mình muốn truyền đạt cũng như tránh được những sai lỗi khi sử dụng
tiếng Anh. Giáo viên giảng d
ạy tiếng Anh cho người Việt cũng cần lưu ý
những khác biệt ngữ nghĩa và ngữ pháp của loại câu với vị từ đa trị, nhất
là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng nhằm giúp cho người học phân biệt được
những điểm khác biệt đó để nâng cao hiểu biết và khả năng sử dụng tiếng
Anh của họ.
Cần phải nói thêm rằng luận án này m
ới chỉ tập trung nghiên cứu
một nhóm vị từ đa trị cụ thể là các vị từ mang ý nghĩa trao/tặng, trong khi
hoạt động của mỗi một vị từ đa trị khác nhau lại có những đặc điểm riêng
biệt, khác với các vị từ khác. Do vậy, một vài kết luận, chẳng hạn như về
vai nghĩa của các Chu tố Mặc định, có thể không áp dụng nhấ
t loạt được
khái niệm của nó trong phạm vi hiểu biết của mình vào việc phân tích
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Nhiều vấn đề lý luận, khái niệm cơ bản
của phân ngành ngôn ngữ học này đòi hỏi chúng tôi phải học hỏi sâu hơn
nữa mới có thể làm chủ được và sử dụng được một cách có hiệ
u quả cao
trong nghiên cứu sau này của mình.
Những khó khăn, hạn chế chắc chắn dẫn tới những khiếm khuyết
khó tránh trong luận án. Chúng tôi chân thành muốn được sự trao đổi,
giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo
và các đồng nghiệp để có thể đi tới những kết quả xa hơn.
1
SUMMARY OF THE DISSERTATION Title: The representational semantic structure of sentences with GIVE-
type predicates (based on Vietnamese and English corpus)
Specialization: Linguistic theory Code: 62.22.01.01
Author: Lam Quang Dong
Supervisors: Professor, Doctor Le Quang Thiem
Associate Professor, Doctor Vu Duc Nghieu
of Vietnam National University, Hanoi
College of Social Sciences and Humanities
Department of Linguistics
of these are specifically analyzed.
The dissertation is written in Vietnamese and organized into 4 chapters:
Chapter 1: Theoretical bases - 35 pages
Chapter 2: Semantic layers and thematic roles of the 3 core participants in the
representational semantic structure of sentences with GIVE-type
predicates - 44 pages
Chapter 3: Reduced and expanded representational semantic structure of sentences
with GIVE-type predicates - 31 pages
Chapter 4: The reflection of semantic structure on syntactic structure of sentences
with GIVE-type predicates - 46 pages.
Chapter 1:
A literature review has been made of different viewpoints and approaches to the
study of sentence meaning and sentence semantic structure of such authors as
Fillmore (1968), Chafe (1970), Cao Xuan Hao (1991), Frawley (1992), Jackendoff
(1995), Dinh Van Duc (2001), Ly Toan Thang (2002), Diep Quang Ban (2004), etc.
The most apparent commonality among these approaches is that sentence semantic
structure is a complex, multi-layered one, and sentence representational semantic
structure can be interpreted in the simplest way as the event expressed by the
predicate - the head of the sentence, and participant(s) around it. The number of
participants is determined by the predicate’s valence (similar, in a way, to the verb
subcategorization in Government and Binding Theory), and the thematic role(s) of
each participant is its semantic relation(s) with the predicate. As a result, the higher
the predicate’s valence, the more participants it requires, and the more complicated
the sentence semantic structure.
With regards to the participants, different authors have different ways of defining
The approach assumed by the researcher in this study is based on the common
agreement among various authors studied. First, representational semantic structure
of the sentence consists of the predicate and participant(s) while the predicate
determines the number of participants and their semantic relations (thematic roles)
with it. However, it is posited that the participants, depending on their properties
and levels of engagement in the event expressed by the predicate, exert different
degrees of impact on the predicate itself, i.e. on the sentence representational
semantic structure. That is to say the predicate and the participants are under their
reciprocal impact rather than just the participants under the one-way impact of the
predicate.
+Control -Control
-Experience +Experience -Experience
Role
engagement
-Affected
+Affected -Affected
Descriptive
terms
Proactive
Reactive
Responsive
Patien-
tive
Activated
in the lexical meaning of the predicate, and they can, under certain circumstances,
function as or replace one core participant or another, while others are unable to do
so. These need to be clarified.
The last part of Chapter 1 provides an overview of research related to or on GIVE-
type predicates the results of which provide the author of this dissertation with
valuable inputs for him to proceed with the research. Of particular importance are
the series of works by Newman (1996) and his group who investigated GIVE in
various languages, and Seliverstova’s work (2004) on dat’ (give) in Russian. Not
much has been done with GIVE-type predicates in Vietnamese, though they may
have been preliminarily touched upon by such authors as Nguyen Kim Than (1977),
Hoang Trong Phien (1980), Cao Xuan Hao (1991), Nguyen Thi Thu Hao (2001),
Nguyen Van Hiep (2002), etc. This dissertation, therefore, builds upon those works
and develops them further in order to accomplish specific tasks set forth.
Chapter 2:
On the basis of the four cognitive domains suggested by Newman (1996), the study
has investigated the various meanings of GIVE-type predicates, the sentence
semantic structure generated therefrom, and identified the semantic layers in that
structure. The results make it possible for the author to conclude that there are
basically 4 layers in the representational semantic structure of sentences with GIVE-
type predicates (adopting some of Newman’s terminologies):
2.1 Control-Possession Layer: x cause y to have z
2.2 Spatial-Dynamic Layer: x cause z to go to y
2.3 Human Interest Layer: x cause y to benefit from having z or
x cause y to suffer from z
2.4 Power Layer:
It is discovered that various correlations between the giver and the receiver in terms
of age, social status, kinship, power, etc., result in different natures and levels of
Group 3: the neutral one, including cho, tặng, give, present, etc. Groups 1
and 2 account for about one-fifth of GIVE-type predicates investigated, while Group
3, being the most predominant, accounts for four-fifths. The following diagram may
help illustrate such grouping:
Giver
Receiver
Receiver
Receiver
6
The restricted appearance of cho as a role marker with GIVE-type predicates of
Group 1 in Vietnamese serves as evidence of such subdivision: they only allow cho
to be present in rare circumstances when the speaker identifies with the recipient and
wants to show more respect to the giver by ‘lowering’ his/her own status.
The semantic layers having been identified, the dissertation goes on establishing the
thematic roles the core participants assume in each layer. The following table shows
the possible roles of these core participants:
because of their level of engagement in the giving act (non-engaged, indirectly or
directly engaged), certain core participants may not be present in the sentence
semantic structure, which results in reduced models of the following types:
M2: CHO/GIVE <Agent>
M3: CHO/GIVE <Theme>
M4: CHO/GIVE <Agent, Theme>
M5: CHO/GIVE <Agent, Recipient>
M6: CHO/GIVE <Theme, Recipient>
Such absence of one or two core participants is totally different from contextual
ellipsis or incomplete sentences/fragments usually found in colloquial, daily speech
whereby the absentee(s) can be easily restored or understood among the
7
conversation partners, no matter what their properties or nature is, or however much
they are engaged in the giving event.
On the other hand, it is found out that certain GIVE-type predicates allow for the
appearance of some peripheral participant(s) which may function as, or replace, one
of the core participants in certain cases. To be more exact, such predicates pre-
supposes, even are restricted to, only some peripheral participants. The most typical
of these is gửi/send which indicates that the giving event has to take place through
certain means, with certain instruments, in certain ways, and the giver and the
recipient are at a distance from each other. Moreover, when it is explicitly described
in Vietnamese, this type of participants assumes no other position than the one right
after the predicate: Mẹ tôi gửi bà Thanh cho tôi hai đồng
mother I send lady to I two dong (VN currency)
My mother sends me two dong through Mrs. Thanh
presupposes that the picking act cannot accomplish without the presence of a pair of
chopsticks or similar paraphernalia; or nhảy/jump, in which some Direction or Path
or Location must be involved. It is possible, therefore, to posit that participants in
sentence semantic structure can be classified into two major types: Core Participants
and Peripheral Participants, as traditionally agreed upon, with the latter subdivided
into Default and Non-Default Participants. With regards to GIVE-type predicates in
particular, apart from the predicates themselves, the representational semantic
structure of the sentence can look like this:
Core Participants (CP) Peripheral Participants (PP)
1 2 3 Default PP Non-Default PP
Agent
Author
Source
Location
Instrument
Recipient
Goal
Experiencer
Location
Beneficiary
Patient
Theme
Complement
Instrument
Intermediary
Recipient
Means
Instrument
Direction
NP1 as the subject and typically expressing the spatial-dynamic layer.
It should also be noted that the length of the phrases describing the Recipient and
Theme, their [± definite], [± specific] or [± individuated] properties, pronominality,
identifiability, etc., together with semantic and cognitive factors, help determine
their positions in the sentence syntactic structure. In Vietnamese, not all GIVE-type
predicates allow both orders O1 and O2. O2, for example, may not occur with those
of the upward group (Group 1). On the other hand, in English, a number of GIVE-
type predicates always require a preposition, no matter whether NP2 is placed before
NP3 or vice versa. Others may permit only one of these two orders. Those GIVE-
type predicates that generate both O1 and O2 tend to be of Germanic origin, while
Latinate ones only produce O2. Both O1 and O2 are possible with predicates that
begin with a schwa like assign, allot, award, while only O2 may be possible with
those that do not begin with a schwa such as return, transfer.
(iii) O3: NP2 + BE P2 + NP3 (+ BY NP1), typically common in English while
(iv) O4: NP2 + ĐƯỢC/BỊ (+NP1) + V + NP3 is the most typical one in
Vietnamese when NP2 (Recipient) functions as the subject of the sentence.
Vietnamese does not favor O3 since such passive constructions sound like a recent
borrowing/importation from foreign languages rather than a truly traditional
Vietnamese structure, even though Vietnamese does have some way of expressing
the passive. In such cases, however, both Vietnamese and English may substitute
GIVE-type predicates with receive, get, obtain, acquire, etc., which result in
(v) O5: NP2 + Vreceive + NP3 (+FROM/Từ/Của NP1)
which is found in both languages, while
(vi) O6: NP2 + Vreceive (+ Của NP1) + NP3
is found in Vietnamese only.
two kinds: Default PPs, like Intermediary Recipient, Means, Instrument, Direction,
etc., and Non-Default PPs like Time, Manner, Purpose, etc. Models of the semantic
structure of sentences with GIVE-type predicates include the basic, reduced and
expanded models. Superficially, the syntactic orders of components representing
CPs, default and non-default PPs reflect semantic differences and are determined by
the semantic layers, the properties/features of the participants, the speaker’s
cognition and construal of the giving events.
The theoretical significance of our research findings is, therefore, the establishment
of models which provide a clearer, more comprehensive account of the semantic
structure of sentences with polyvalent predicates, particularly GIVE-type predicates;
these help clarify polyvalent predicates’ combinability and their actual
manifestation.
Our study also makes practical contributions to teaching, learning and translation
work related to sentences with polyvalent predicates in English and Vietnamese,
especially GIVE-type predicates.