ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ NGỌC DAO
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRI
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN
Chuyên ngành : Luật Kinh tê
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HUY CƯƠNG
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ với đề tài “SO SÁNH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN” là công
trình nghiên cứu của tôi. Các tài liệu, số liệu được sử dụng trong luận án có
nguồn trích dẫn tài liệu đầy đủ và trung thực. Kết quả nêu trong luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo
quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ban kiểm soát
Công ty cổ phần
Đại hội đồng cổ đông
Giám đốc
Hội đồng quản trị
Luật công ty
Luật doanh nghiệp
Nghị định
Tổng Giám đốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiêt của đề tài
1.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973 và
đã có những bước phát triển ngoạn mục. Từ đó đến nay, quan hệ hợp tác, hữu
nghị giữa hai nước không ngừng được củng cố, phát triển mạnh trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục.
Về kinh tế, Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng
hàng đầu của Việt Nam. Nhật Bản cũng là nước đầu tiên trong nhóm các nước
G7 công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam vào tháng 10/2011.
Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999.
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) chính thức có
hiệu lực vào ngày 1/10/2009, điều này đánh dấu mốc son chói lọi trong quan
hệ hợp tác kinh tế hai nước. Cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật BảnASEAN, VJEPA tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh
tế, thương mại giữa hai nước.
Kể từ đầu những năm 1990 đến nay, Nhật Bản đã nhanh chóng vượt lên
trở thành bạn hàng, thị trường lớn nhất của Việt Nam. Theo các con số thống
kê cho thấy, kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước trong năm 2011
tổng vốn đầu tư); hình thức liên doanh có 362 dự án, số vốn đăng ký là 14,8
tỷ USD (chiếm 16,2% tổng số dự án và 41,8% tổng vốn đầu tư). Còn lại là hai
hình thức công ty cổ phần; hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Về viện trợ phát triển chính thức (ODA): Nhật Bản là nước tài trợ ODA
lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng
quốc tế đối với Việt Nam. Từ năm 1992 đến năm 2011, Nhật Bản đã cam kết
gần 20 tỷ USD vốn vay ODA cho Việt Nam. Trước tiên, nguồn ODA của
Nhật Bản dành cho Việt Nam tập trung vào mục tiêu giúp Việt Nam hoàn
thành công nghiệp hóa – hiện đại hóa vào năm 2020. Việt Nam đã xác định 3
lĩnh vực trọng tâm để đạt mục tiêu gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo
2
nguồn nhân lực và xử lý, tái cơ cấu các công ty nhà nước. Nhật Bản đã xác
định sẽ hỗ trợ Việt Nam trong cả 3 lĩnh vực này.
Ngoài 3 lĩnh vực trên, ODA của Nhật Bản còn dành hỗ trợ những khó
khăn của Việt Nam trong phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu,
Nhật Bản còn hỗ trợ xây dựng trường học, trạm y tế, những công trình xã
hội... tại những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của Việt Nam.
1.2 Kinh tê Việt Nam
Với chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, Việt Nam đã mở cửa nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư nước
ngoài, khuyến khích quan hệ hợp tác kinh tế với các nước khác, thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
Điểm nổi bật trong việc thực thi chính sách mở cửa để phát triển kinh tế
trong thời gian qua đó là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), mở ra thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác phát triển kinh tế của
Việt Nam, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội cạnh tranh
cú sốc này là đạt được tăng trưởng bền vững và ổn định tài chính. Hơn hai
thập kỷ sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng đầu những năm 1990, Nhật
Bản vẫn còn bị mắc kẹt trong giảm phát, giá tiêu dùng và giá tài sản tiếp tục
giảm mặc dù ngân hàng trung ương Nhật Bản đã áp dụng các biện pháp nới
lỏng định lượng với tỷ lệ lãi suất gần như bằng không. Tăng trưởng sản lượng
chậm, chi tiêu công gia tăng, một phần do dân số già, đã đẩy tổng nợ công của
Nhật Bản lên tới hơn 200% GDP, gia tăng lo ngại về tính bền vững tài chính,
làm giảm tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản. Bất ổn chính trị,
với sáu đời thủ tướng từ năm 2008, đã gây trở ngại cho hoạch định chính sách
kinh tế.
4
Năm 2013, nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng mạnh hơn nhiều so với
các năm trước đây, chủ yếu nhờ chính sách kích thích kinh tế của thủ tướng
Shinzo Abe. GDP quý I của nước này tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước,
tăng 1% so với quý IV/2012. Tăng trưởng GDP quý II đạt 3,8% so với cùng
kỳ năm trước, tăng 0,9% so với quý I, do chi tiêu tiêu dùng tăng vượt mức
mong đợi. Quý III/2013, kinh tế Nhật Bản vẫn tăng trưởng dương nhưng tốc
độ tăng chậm lại so với quý trước. Tỷ lệ tăng trưởng năm trong quý III đạt
1,9%, và tăng trưởng 0,5% so với quý trước. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng năm
vẫn thấp hơn đáng kể so với 3,8% trong quý II, do xuất khẩu yếu và chi tiêu
tiêu dùng chậm lại. Đây là quý tăng trưởng dương thứ 4 liên tiếp, đánh dấu là
thời gian cải thiện tốt cho nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới trong vòng 3 năm trở
lại đây.
1.4 Luật Công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam
Theo tác giả Bùi Công Trường trong bài viết “Sơ lược về công ty cổ phần
ở Nhật Bản” [32] thì: “Luật công ty của Nhật Bản là sự kết hợp đặc biệt giữa
truyền thống luật dân sự của Đức (có một vài yếu tố của Pháp) với luật công ty
Tuy nhiên, trên thực tế, đã có rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản cũng
như Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi đầu tư vào nước bạn do hạn
chế kiến thức về mặt luật pháp. Các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt
Nam cũng như các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường Nhật
Bản có thể được tổ chức theo mô hình Công ty cổ phần. Khi các công ty cổ
phần của hai quốc gia tiến hành đặt quan hệ kinh doanh hợp tác với nhau, vấn
đề đặt ra là họ cần có những hiểu biết về mặt pháp luật tại hai quốc gia quy
định về công ty cổ phần mà nòng cốt là cách thức quản trị công ty cổ phần
được pháp luật quy định tại mỗi quốc gia. Việc nắm bắt được cách thức quản
trị công ty cổ phần được pháp luật quy định sẽ tạo những thuận lợi rất lớn khi
doanh nghiệp dưới hình thức công ty cổ phần của hai quốc gia tiến hành hợp
tác kinh doanh.
6
Vì vậy, việc so sánh các quy định của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam và
Luật Công ty Nhật Bản về quản trị Công ty cổ phần là hết sức cần thiết. Việc
so sánh này sẽ giúp cho doanh nghiệp hai nước hiểu rõ hơn về các quy định
pháp luật của nhau để hạn chế những rủi do trong kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay,
thì các công ty cổ phần ngày càng lớn mạnh cả về số lượng, quy mô cũng như
sự đóng góp cho nền kinh tế. Từ Luật công ty năm 1990 đánh dấu sự ra đời
của Công ty cổ phần, đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, 2014 đã có những
quy định pháp lý cụ thể về quản trị công ty cổ phần, đóng vai trò là loại hình
doanh nghiệp phổ biến và quan trọng nhất của nền kinh tế.
Nhật Bản, là nền kinh tế phát triển đứng thứ hai thế giới, đang là một
trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Việt Nam cả về số lượng dự án
đầu tư cũng như quy mô số vốn đầu tư đăng ký và thực tế triển khai. Công ty
cổ phần ở Nhật Bản, với kinh nghiệm hàng trăm năm ra đời và phát triển, là
3. Mục tiêu nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu tổng quát:
- Hệ thống hóa những quy định pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở
Việt Nam.
- Hệ thống hóa những quy định pháp luật về quản trị công ty cổ phần
theo quy định của pháp luật Nhật Bản.
- Phân tích, so sánh pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt nam và
Nhật Bản.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ
phần ở Việt Nam.
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, so sánh pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
và Nhật Bản như: cơ cấu vốn, cơ cấu tổ chức, Đại hội đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, quyền của cổ đông…
8
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ
phần ở Việt Nam.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về quản trị công ty cổ
phần ở Việt Nam và Nhật Bản;
- Phân tích, so sánh pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
và Nhật Bản;
- Nhận xét, đánh giá các hạn chế, bất cập của pháp luật về quản trị công
ty cổ phần ở Việt Nam;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị
công ty cổ phần ở Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN, HỆ THỐNG HÓA QUY ĐINH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN TRI CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN
1. Tổng quan về Công ty cổ phần
1.1 Khái niệm và đặc điểm
Theo Giáo trình Luật Thương mại do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội xuất bản năm 2013 của PGS.TS. Ngô Huy Cương [16]: “Công ty cổ
phần còn có tên gọi khác là công ty vô danh, bởi không tên một thành viên
nào của công ty được gắn vào tên công ty như các hình thức công ty đối nhân
theo truyền thống pháp luật về công ty của các nước trên thế giới. Vốn của
công ty được phân chia thành các cổ phần. Người nắm giữ cổ phần được gọi
là các cổ động. Mỗi một cổ phần mang lại cho cổ đông một quyền lợi trong
công ty”.
Cũng theo tài liệu nêu trên. Về đặc điểm, công ty cổ phần có những đặc
điểm như sau:
“Thứ nhất, công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, thuộc chế độ trách
nhiệm hữu hạn. Đối với hình thức công ty này, người ta không coi trọng nhân
thân của các thành viên công ty mà coi trọng cổ phần. Vì thế người ta xem
đây là hình thức công ty đối vốn điển hình. Có những công ty có tới hàng
triệu cổ đông ở rải rác khắp nơi trên thế giới mà họ không hề quen biết nhau.
Thậm chí họ không quan tâm tới sinh hoạt nội bộ của công ty bởi sự chuyển
nhượng cổ phần rất dễ dàng, do đó dẫn đến một cơ cấu tách biệt công việc
quản trị công ty như việc quản lý một định chế.
Thứ hai, công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ mà trong
đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng. Như đã phân tích ở đặc điểm trên về
sự đòi hỏi phải có một cơ cấu quản trị tách biệt ở công ty cổ phần, vậy cơ cấu
này cần được thiết kế nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu công ty và
thúc đẩy công ty hoạt động có hiệu quả, đồng thời ngăn cản sự tác động xấu
11
12
được sự quan tâm không chỉ của các thương nhân, người đầu tư, các nhà
kinh tế mà còn cả các luật gia. Quản trị công ty cổ phần được hiểu theo nhiều
nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất nó bao gồm tất cả các mối
quan hệ liên quan tới sự ra quyết định của công ty như mối quan hệ giữa cổ
đông, các chủ nợ, người lao động, người cung cấp nguyên, nhiên vật liệu,
khách hàng, nhà nước với công ty”.
1.2.2 Nguyên tắc quản trị công ty
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra các nguyên tắc
quản trị công ty như sau:
1.2.2.1 Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả
Khuôn khổ quản trị công ty cần được phát triển dựa trên quan điểm về
tác động của nó đối với hiệu quả kinh tế nói chung, tính toàn vẹn của thị
trường và các cơ chế khuyến khích mà khuôn khổ này tạo ra cho các bên tham
gia thị trường, và sự thúc đẩy thị trường minh bạch và hiệu quả.
Các quy định pháp lý và quản lý tác động tới thông lệ quản trị công ty
cần phù hợp với quy định của pháp luật, minh bạch và có khả năng cưỡng chế
thực thi.
Việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý khác nhau phải
được quy định rõ ràng và đảm bảo phục vụ lợi ích của công chúng.
Các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi phải liêm chính,
có đủ thẩm quyền, và nguồn lực để hoàn thành chức năng của mình một cách
chuyên nghiệp và khách quan. Hơn nữa, các quyết định của những cơ quan
này phải kịp thời, minh bạch và được giải thích đầy đủ.
1.2.2.2 Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản
Các quyền cơ bản của cổ đông bao gồm quyền được: 1) Đảm bảo các
phương thức đăng ký quyền sở hữu; 2) Chuyển nhượng cổ phần; 3) Tiếp cận
các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường
nhau. Nhà đầu tư trước khi mua cần được cung cấp thông tin đầy đủ về các
quyền gắn liền với tất cả các đợt phát hành và loại cổ phiếu. Bất cứ thay đổi
14
nào về quyền biểu quyết phải được sự thông qua của các cổ đông sở hữu loại
cổ phiếu bị ảnh hưởng bất lợi bởi sự thay đổi đó.
Cổ đông thiểu số phải được bảo vệ khỏi các hành động lạm dụng trực
tiếp hoặc gián tiếp bởi hoặc vì lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát
và họ cần có các phương tiện khiếu nại hiệu quả.
Các tổ chức lưu ký hoặc được chỉ định đại diện cho cổ đông phải biểu
quyết theo cách đã thỏa thuận với cổ đông mà họ đại diện.
Những trở ngại đối với biểu quyết từ nước ngoài cần được loại bỏ.
Các quy trình và thủ tục của Đại hội đồng cổ đông phải đảm bảo sự đối
xử bình đẳng với mọi cổ đông. Các thủ tục của công ty không được gây khó
dễ hoặc phát sinh chi phí không cần thiết khi biểu quyết.
Cần ngăn cấm giao dịch nội gián và lạm dụng mua bán tư lợi cá nhân.
Thành viên Hội đồng quản trị và cán bộ quản lý cấp cao phải công khai
cho Hội đồng Quản trị biết họ có lợi ích đáng kể nào trong bất kỳ một giao
dịch hay vấn đề gì ảnh hưởng trực tiếp tới công ty hay không, cho dù là trực
tiếp, gián tiếp hay thay mặt cho bên thứ ba.
1.2.2.4 Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong Quản trị
công ty
Quyền của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật quy định
hoặc theo các thoả thuận song phương phải được tôn trọng.
Khi lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật bảo vệ,
các bên có liên quan phải có cơ hội được khiếu nại hiệu quả khi quyền lợi của
họ bị vi phạm.
Cần xây dựng các cơ chế nâng cao hiệu quả tham gia của người lao động.
Khi các bên có quyền lợi liên quan tham gia vào quá trình quản trị công
lập, đủ năng lực và có chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc lập
và khách quan cho Hội đồng Quản trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các báo
16
cáo tài chính đã thể hiện một cách trung thực tình hình tài chính và hoạt động
của công ty về mọi mặt chủ chốt.
Đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông và có
trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp đối với
công ty.
Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình
đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng.
1.2.2.6 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị
Thành viên Hội đồng quản trị phải làm việc với thông tin đầy đủ, tin
cậy, siêng năng và cẩn trọng, và vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông.
Khi quyết định của Hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng tới các nhóm cổ
đông khác nhau theo cách khác nhau thì Hội đồng quản trị phải đối xử bình
đẳng với mọi cổ đông.
Hội đồng quản trị phải áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức cao, phải quan
tâm lợi ích của cổ đông.
Hội đồng quản trị phải thực hiện các chức năng chủ yếu bao gồm:
- Xem xét và định hướng chiến lược công ty, các kế hoạch hoạt động
cơ bản, chính sách rủi ro, ngân sách và kế hoạch kinh doanh hàng năm; đặt ra
các mục tiêu hoạt động, theo dõi việc thực hiện mục tiêu và hoạt động của
công ty; giám sát các hoạt động đầu tư vốn, thâu tóm và thoái vốn chủ yếu.
- Giám sát hiệu quả thực tiễn quản trị công ty và thực hiện các thay đổi
khi cần thiết.
- Lựa chọn, trả lương, giám sát và thay thế các cán bộ quản lý chủ chốt
khi cần thiết và giám sát kế hoạch chọn người kế nhiệm.
2.1 Tổng quan hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định
về quản trị Công ty cổ phần
18
Quản trị CTCP là một hệ thống các luật lệ, chính sách, thiết chế và quy
tắc nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát CTCP. Quản trị CTCP xử lý mối
quan hệ giữa các bên liên quan, không chỉ trong nội bộ CTCP như các cổ
đông, thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành, thành viên Ban
Kiểm soát mà còn là mối quan hệ giữa những bên có lợi ích liên quan bên
ngoài CTCP như các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý Nhà nước, khách
hàng và các đối tác sản xuất kinh doanh và cả mối quan hệ với cộng đồng, xã
hội nơi CTCP hoạt động. Mối quan hệ giữa các bên liên quan này được xác
định một phần bởi luật pháp. Đối với mỗi quốc gia khác nhau thì mối quan hệ
này còn được xác định trên nền tảng của văn hoá, lịch sử, từ xuất phát điểm
của quốc gia. Việc quản trị CTCP có vai trò vô cùng quan trọng trọng định
hướng, xây dựng và phát triển CTCP. Lịch sử kinh tế đã chứng minh việc
quản trị CTCP không tốt đã dẫn đến sự sụp đổ của rất nhiều các CTCP mang
tầm vóc quốc gia, điều này một lần nữa khẳng định thêm vai trò của việc quản
trị CTCP.
Đặc biệt, đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường, việc tăng
cường tính chặt chẽ trong quản trị CTCP mang lại rất nhiều lợi thế cho nền kinh
tế quốc dân, quản trị CTCP tốt sẽ làm tăng hiệu quả của các chính sách công đối
với nền kinh tế. Quản trị CTCP tốt sẽ xây dựng một môi trường kinh doanh lành
mạnh, nền kinh tế được phát triển theo một cách bền vững. Cùng với đó, quản trị
CTCP tốt còn giúp giảm thiểu những tổn thất có thể gặp phải khi các cuộc khủng
hoảng tài chính xảy ra. Mỗi quốc gia vì thế phải xây dựng một khuôn khổ pháp
lý về quản trị CTCP. Thực tế cho thấy, nếu quốc gia nào xây dựng được một
khuôn khổ pháp lý về quản trị CTCP chặt chẽ, quốc gia đó sẽ có một nền kinh tế
của khung quản trị đối với loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần. Xét về
mặt nội dung quy định, Luật Doanh nghiệp đã giải quyết những vấn đề cơ
bản của quản trị CTCP trên cơ sở áp dụng thông lệ quốc tế và có sự điều
chỉnh cho phù hợp thực tiễn của Việt Nam. Theo đó, Luật Doanh nghiệp đã
20
thiết lập khung quản trị CTCP hướng tới các nguyên tắc quản trị hiệu quả
theo khuyến nghị của OECD năm 2004.
So với Luật Doanh nghiệp 1999, khung quản trị CTCP quy định
tại Luật Doanh nghiệp 2005 có một số nội dung thay đổi cơ bản như: nâng tỷ
lệ biểu quyết thông qua quyết định trong công ty cổ phần, quy định về
phương thức bầu dồn phiếu trong công ty cổ phần; bổ sung các quy định
nhằm nâng cao tính công khai hóa, minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp…
Riêng đối với các CTCP có sở hữu vốn của Nhà nước, Luật Doanh
nghiệp tạo bước ngoặt đối với hoạt động quản trị của các doanh nghiệp khu
vực này.Về cơ bản, các công ty nhà nước sau khi chuyển đổi, cũng như các
doanh nghiệp có sở hữu vốn Nhà nước sau khi chuyển đổi theo mô hình
CTCP đều phải hoạt động trong khung khổ chung về quản trị CTCP. Những
quy định bổ sung về quản trị CTCP được thể hiện tại các văn bản hướng dẫn
dưới Luật Doanh nghiệp 2005; trong đó tập trung vào vấn đề quyền, nghĩa vụ
của chủ sở hữu Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của đại diện vốn Nhà nước tại
doanh nghiệp, cơ chế giám sát hoạt động của doanh nghiệp…”
2.2.2 Căn cứ theo các Luật chuyên ngành
Cũng theo ông Đỗ Tiến Thịnh – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ
đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “ Đối với hình thức CTCP
hoạt động trong các lĩnh vực mang tính chất chuyên ngành. Pháp luật quy
định về quản trị CTCP không chỉ dừng lại ở Luật Doanh nghiệp 2005. Quản
trị CTCP hoạt động trong các lĩnh vực này còn phải tuân theo các quy định