LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính tất yếu của việc chọn đề tài
Về mặt cơ sở lí luận, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế không một
quốc gia nào có thể phủ nhận lợi ích mà thương mại đem lại cho mình.Và trong
môi trường cạnh tranh gay gắt và khốc liệt đó, các quốc gia liên tục cải thiện các
chính sách thương mại quốc tế của mình nhằm thích nghi với điều kiện thương
mại của thế giới và phù hợp với trình độ phát triển của quốc gia. Để thực hiện
các mục tiêu chính sách thương mại của quốc gia mình, người ta thường sử
dụng nhiều công cụ và biện pháp khác nhau: các công cụ và biện pháp mang
tính chất kinh tế; các công cụ và biện pháp mang tính chất hành chính; và các
công cụ và biện pháp mang tính chất kỹ thuật.
Công cụ quen thuộc nhất mà người ta hay sử dụng đó là thuế quan và công
cụ phi thuế. Việc áp dụng các công cụ này sẽ nhằm hạn chế lượng hàng hóa
được nhập khẩu vào trong thị trường nội địa và các quốc gia có thể bảo hộ
ngành công nghiệp nội địa của mình. Tuy nhiên khi các quốc gia đã là thành
viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì các nước đều thực hiện cắt
giảm thuế theo tiến trình được quy định, do vậy họ sử dụng các công cụ khác
nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước. Các công cụ phi thuế được viết tắt là
NTBs (None Tariff Barriers) có ảnh hưởng lớn lên thương mại, ví dụ: hạn
ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, trợ cấp và những yêu cầu nội
địa...Những NTBs này nhằm giảm bớt nhập khẩu và vì vậy có lợi cho các nhà
sản xuất nội địa.
Về mặt thực tiễn, Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách Đổi mới, Việt
Nam đang vững bước tiến đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Năm 2006 sau khi ra nhập WTO chúng ta không
ngừng mở rộng mối quan hệ với các quốc gia và hiện nay Việt nam đã có quan
hệ với hầu hết các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế quan trọng và không
ngừng phát huy vai trò của mình là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế.
Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh
và phân tích thực chứng dựa vào tài liệu qua sách báo, giáo trình, internet...Trên
cơ sở đó có cái nhìn khách quan hơn về thực trạng xuất nhập khẩu của hàng
Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
5. Kết cấu đề tài.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục đề tài còn được chia làm 3 chương:
* Chương 1. Lý luận chung về hàng rào thương mại phi thuế quan của Nhật
Bản
* Chương 2. Phân tích ảnh hưởng của NTBs đối với xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
* Chương 3.Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam phù hợp với các công cụ NTBs của Nhật Bản
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI
THUẾ QUAN (NTBs) CỦA NHẬT BẢN
1.1 Khái niệm và các công cụ của hàng rào thương mại phi thuế quan
1.1.1 Khái niệm
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối
với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng
rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của
hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng,
các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên
quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp
bảo vệ thương mại tạm thời
1.1.2 Các công cụ của hàng rào thương mại phi thuế quan
1.1.2.1
Tuy nhiên hạn ngạch nhập khẩu mang tính chủ động và thường là biện pháp tự
bảo vệ thị trường trong nước, còn hạn chế xuất khẩu tự nguyện thực ra lại mang
tính miễn cưỡng và gắn với điều kiện nhất định. Hình thức này được áp dụng
cho quốc gia xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó.
1.1.2.3
Những qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Đây là những qui định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động,
bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng
dịch đối với động vật và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường
sinh thái đối với các máy móc thiết bị và dây truyền công nghệ
Những qui định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội
và phản ánh trình độ phát triển đạt được của nền văn minh nhân loại. Tuy nhiên
trên thực tế người ta thường khéo léo sử dụng các một các thiên lệch giữa các
công ty trong nước với các công ty nước ngoài và biến chúng thành công cụ
cạnh tranh có lợi cho nước chủ nhà trong quan hệ thương mại quốc tế. Về mặt
kinh tế những qui định này có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước,
hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hóa trên thị trường thế giới
1.1.2.4
Các biện pháp chống bán phá giá
Bán phá giá là một khái niệm cơ bản của thương mại quốc tế. Các sản phẩm bán
vào một thị trường với giá bán ở mức dưới giá thành sản xuất thì được xem là
bán phá giá và có thể phải chịu các cuộc điều tra và bị trừng phạt.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế.
Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định
giá của WTO - Hiệp định ADA.
1.1.2.5
Các biện pháp chống trợ cấp
Theo hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, một ngành sản
xuất được coi là được hưởng trợ cấp khi lợi ích được dành cho ngành đó dưới
hình thức: Giao vốn trực tếp của chính phủ (chẳng hạn cấp vốn, các khoản cho
vay hoặc góp vốn cổ phần) hoặc chính phủ bảo lãnh các khoản vay; Chính phủ
miễn những khoản lẽ ra phải đóng; Chính phủ cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ,
hay mua hàng.
Thuế chống trợ cấp là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường)
đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu. Đây là biện
pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào các nhà sản xuất
xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do
nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực
hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương
cho trường hợp này).
1.2 Đặc điểm thị trường thủy sản Nhật Bản
Nhật Bản gồm 4 đảo chính (Honshu, Hokkaido, Kyushin, Shikoku) và
nhiều đảo nhỏ chạy dọc theo bờ biển phía Đông Bắc Á. Diện tích 377.835 km2.
Khoảng 125.770 nghìn người, xếp thứ 7 trong số các nước trên thế giới. Dân cư
Nhật Bản tập trung ở các thành phố lớn như: Tokyo, Yokohama, Nagoya,
Osaka, Kobe, Kyoto.
Cung thuỷ sản trên thị trường Nhật Bản
Khai thác thủy sản trên thị trường Nhật Bản chia thành 3 nhóm: khai thác
xa bờ, chủ yếu hoạt động ở các vùng biển xa và tại các vùng đặc quyền kinh tế
của các nước khác theo hiệp định song phương; khai thác ngoài khơi, chủ yếu
Một số mặt hàng truyền thống của người Nhật được tiêu thụ mạnh và phải dựa
nhiều vào nguồn nhập khẩu vì cung cấp trong nước không đủ đáp ứng cho nhu
cầu ngày càng cao như sản phẩm “Sashimi” và “Sushi” từ cá ngừ, cá chình, cá
song hay tôm, mực, bạch tuộc.
Mức tiêu thụ thuỷ sản ở Nhật Bản giảm theo thời gian kể từ năm 1995, có
thể được tính bằng tổng sản lượng thuỷ sản trong nước cộng với khối lượng
thuỷ sản nhập khẩu trừ đi khối lượng thuỷ sản xuất khẩu. Mức tiêu thụ thuỷ sản
bình quân theo đầu người của Nhật Bản luôn đứng đầu thế giới. Năm 1993, mức
tiêu thụ tính theo đầu người về thuỷ sản là 67,8 kg, gấp 5 lần mức trung bình
của thế giới (13,4 kg/người.năm). Hằng năm, mỗi hộ gia đình Nhật Bản chi tiêu
khoảng 37.000 yên cho thực phẩm thuỷ sản, chiếm khoảng 13% tổng tiêu cho
thực phẩm. Trong giai đoạn 1995 -1998, tiêu thụ thuỷ sản theo đầu người của
Nhật Bản đạt mức cao nhất là 70,4 kg/người.năm, lớn hơn nhiều so với Mỹ
(20,9 kg/người.năm). Tuy nhiên, từ năm 1998 trở lại đây mức tiêu thụ thuỷ sản
Nhật Bản đã giảm một cách rõ rệt, một phần do nền kinh tế suy yếu, thu nhập
của các hộ gia đình người Nhật giảm, phần khác sản lượng trong nước bị hạn
chế bởi sự thu hẹp phạm vi và quy mô hoạt động của các nghề khai thác thuỷ
sản..
Điều tiết của chính phủ
Chính phủ Nhật Bản sử dung các công cụ biện pháp thuế quan và phi thuế quan
để điều tiết nhập khẩu thủy sản vào Nhật Bản. Về hàng rào thuế quan
Theo Biểu phân loại hàng hoá hài hoà (HS), mặt hàng thuỷ sản của Nhật Bản
bao gồm 330 dòng thuế. Nhật Bản cam kết giảm thuế trong vòng 10 đến 15 năm
đối với 188 dòng.
Mặt hàng thuỷ sản được hưởng mức thuế 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực.
Trong số 330 mặt hàng thuỷ sản, có 64 mặt hàng có cam kết giảm thuế về 0%
ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Tuy vậy, trừ 28 mặt hàng có thuế suất MFN là
0% từ trước và 8 mặt hàng có thuế suất GSP là 0% đang áp dụng cho Việt Nam
chỉnh tuỳ thuộc vào tình hình cung ứng thực phẩm, giá thực phẩm, các vấn đề
quan hệ đối ngoại và các yếu tố khác. Hạn ngạch nhập khẩu của Nhật Bản được
phân bổ dựa trên số lượng được nhập khẩu, chứ không theo giá trị nhập khẩu.
Tại Nhật Bản, có 2 hệ thống phân bổ hạn ngạch nhập khẩu: (1) Phân bổ cho các
công ty Thương mại; (2) Phân bổ tới người sử dụng hàng hoá (các nhà sản xuất
và các tổ chức sử dụng mặt hàng nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào để sản
xuất). Đôi khi Nhật Bản cũng áp dụng cả hai hệ thống phân bổ hạn ngạch trên
tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Hiện tại, có 59 trên tổng số 330 dòng thuế
thuỷ sản đang áp dụng hạn ngạch nhập khẩu. Theo Hiệp định VJEPA, Nhật Bản
cam kết giữ nguyên cơ chế quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch đối với một số
sản phẩm thuỷ sản. Tất cả các mặt hàng này đều thuộc Nhóm loại trừ X và
không có lộ trình giảm thuế. Doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu những
sản phẩm thuỷ sản này sẽ vẫn áp dụng đầy đủ các quy định chung như Nhật Bản
áp dụng với các quốc gia khác phù hợp với quy tắc không phân biệt đối xử của
WTO.
1.3 Các công cụ chủ yếu của hàng rào phi thuế quan của Nhật Bản đối với
hàng thủy sản nhập khẩu
1.3.1 Hàng rào kỹ thuật
Nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời bảo vệ các ngành
sản xuất và chế biến trong nước, Nhật Bản áp dụng Luật Vệ sinh an toàn thực
phẩm, Luật Chống gây nhiễm và kiểm soát các loại dịch bệnh, Luật Ngoại
thương và Ngoại hối, Luật Thương mại với những quy định chặt chẽ, chỉ cho
phép nhập vào Nhật Bản những loại thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm không gây hại cho sức khỏe của con người. Trong đó quy định rõ những
loại thực phẩm không được phép nhập vào Nhật Bản bao gồm: (1) các loại thực
phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc bị nghi vấn có chứa các
thành phần độc tố; (2) các loại thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hỏng; (3) các loại
thực phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình
Quy định về dư lượng
1
Oxytetracycline
không vượt quá 0,1 ppm
2
Spiramycin
không vượt quá 0,2 ppm
3
Butylated hydroxy toluene (BHT)
dưới 1 gam/kg
4
Butylated hydroxy anisole (BHA)
dưới 1 gam/kg
5
Carotin và Nicotine
không được sử dụng
Tuy nhiên, lượng mẫu giám định còn phụ thuộc vào lô tôm đó do đơn vị nào
KHẨU THÚY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT
BẢN
2.1 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật Bản
Do khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho thị trường nhập khẩu thuỷ sản
Mỹ và EU bất ổn, nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã
chuyển hướng sang thị trường có mức độ ổn định cao hơn - thị trường Nhật
Bản.
2.1.1 Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu thủy sản hàng đầu thế giới có kim
ngạch nhập khẩu trung bình 15 tỷ USD/năm. Với dân số hơn 120 triệu người
(2009), GDP đạt trên 5000 tỉ USD (khoảng 473.000 tỷ yên), bình quân đầu
người xấp xỉ 40.000USD/năm, Nhật Bản đang là thị trường xuất khẩu thuỷ sản
tiềm năng của Việt Nam.
Việt Nam luôn nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu
vào thị trường Nhật Bản với kim ngạch đạt gần 800 triệu USD trong năm 2009.
Các sản phẩm thủy sản của Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản bao gồm
chủ yếu tôm và các loại cá như cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim,
cá ngừ hun khói, mực, bạch tuộc, ghẹ. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thủy
sản trung bình hàng năm sang Nhật Bản đạt bình quân 5,4% (2004-2009). Với
đà tăng trưởng này, dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản sẽ đạt
1.083 triệu USD vào năm 2015.
Năm 2009, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản chiếm 17,8% tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu, đạt 757.92 triệu tấn. Năm 2010 Việt Nam đã xuất
sang Nhật trên 135.000 tấn thủy sản, trị giá gần 897 triệu USD, tăng trên
19% cả về khối lượng và giá trị. Hiện Nhật Bản chiếm 17,8% tổng giá trị
XK thủy sản của Việt Nam. Tính đến thời điểm hiện nay (T9/2011), XK thủy
sản của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn chưa có dấu hiệu khôi phục. Tuy nhiên,
theo nhận định của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kinh tế Nhật
giá trên 581 triệu USD, tăng 16% về giá trị. Đây là mức tăng trưởng đáng kể
so với mức sụt giảm nhẹ trong năm 2009. Nhật chiếm 27,6% tổng giá trị XK
tôm của Việt Nam trong năm. Năm 2009 và 2010, Việt Nam đã vươn lên là nhà
cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường Nhật Bản, tiếp đến là Inđônêxia, Thái
Lan, Ấn Độ và Trung Quốc. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trên thị
trường, giúp cho việc chào giá và thương lượng giá bán cuối cùng của
các nhà XK tôm Việt Nam có trọng lượng hơn. Đồng thời cũng phản ánh
những tiến bộ rất lớn về trình độ chế biến và tiếp thị của ngành tôm Việt
Nam trong những năm vừa qua khi chiếm lĩnh một thị trường khắt khe như
Nhật Bản. Tuy nhiên, việc XK tôm của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong
năm 2010 là kết quả của việc một số nhà sản xuất tôm lớn trên thế giới
như Inđônêxia, Ấn Độ và Mêhicô …bị mất sản lượng do dịch bệnh và thời
tiết bất thường. NK tôm từ Việt Nam được đẩy mạnh để bù đắp thiếu hụt từ các
nguồn cung cấp trên. Thực tế, sức tiêu thụ tôm của thế giới chỉ tăng ở mức rất
khiêm tốn. Năm 2010, NK tôm của Mỹ chỉ tăng nhẹ 1,8% so với năm 2009.
Đối với Nhật, NK tôm 11 tháng đầu năm 2010 chỉ tăng 4,3% về khối
lượng. Tuy nhiên, theo đánh giá của chính Hiệp hội Siêu thị Nhật Bản, tiêu
thụ tôm của Nhật vẫn còn có biểu hiện khả quan hơn rất nhiều so với các
mặt hàng thủy sản khác như sản phẩm tươi, sushi, surimi và thủy sản khô,
muối.
Nhuyễn thể, trong đó đáng kể nhất là mực và bạch tuộc, là nhóm mặt
hàng NK lớn thứ hai từ Việt Nam của Nhật Bản. Năm 2010, Việt Nam xuất
18.751 tấn nhuyễn thể, trị giá 113,7 triệu USD, tăng 5,8% về giá trị so với
năm 2009, chiếm 23,3% tổng giá trị XK nhuyễn thể của Việt Nam. Nhóm mặt
hàng này rất được ưa chuộng trên thị trường, tuy nhiên khối lượng XK phụ
thuộc nhiều vào sản lượng khai thác theo mùa vụ trong năm và quan trọng hơn
là nguy cơ bị nhiễm kháng sinh cao trong bảo quản. Đây là trở ngại lớn nhất
đối với các DN XK hải sản sang thị trường Nhật Bản.
thủy sản sẽ được kiểm tra về vệ sinh, dư lượng thuốc kháng sinh, hóa chất, tạp
chất, kim loại nặng, chất phụ gia, thành phần thực phẩm … Sau khi kiểm tra,
sản phẩm đạt yêu cầu sẽ được dán tem chứng nhận và một bản copy sẽ được trả
cho nhà nhập khẩu để họ làm thủ tục nhập khẩu.
2.2.2 Quy định về nhãn hàng và truy xuất nguồn gốc
Theo luật Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS), Luật bao bì, thông tin
về sản phẩm phải được ghi bằng mực không phai, không gây độc hại ở vị trí dễ
nhìn thấy một cách đầy đủ, rõ rang trên bao bì như: xuất xứ hàng hóa;tên và địa
chỉ của nhà nhập khẩu hoặc phân phối; tên sản phẩm; thành phần sản phẩm;
trọng lượng tịnh; mô tả là sản phẩm đông lạnh; danh mục chất phụ gia (nếu có);
thời hạn sử dụng ; phương pháp chế biến… Một số loại thủy sản gây dị ứng
(như mực nang, bào ngư, tôm, cua, cá thu…) phải dán nhãn hiệu biểu thị.
Những quy định khắt khe về nhãn mác đối với hàng thủy sản nhập khẩu
giúp nhà quản lý thực hiện việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm diễn ra thuận lợi.
2.2.3 Quy định về an toàn thực phẩm
Luật áp dụng được quy định chi tiết cụ thể ở bảng số liệu sau:
Bảng 4. Luật áp dụng đối với thủy sản nhập khẩu theo mã HS
Mã số HS
03-01
Tên sản phẩm
Cá tươi sống
03-02
Cá ướp lạnh (trừ cá phẩm
03-03
nước phẩm
muối, cá hun khói, bột cá
Loài có mai cứng
Luật vệ sinh thực
(tôm, cua) tươi sống đông phẩm
lạnh, sấy khô, ướp muối.
03-07
Nhuyễn thể (sò, trai,
ốc, ngêu,…) tươi sống,
Luật kiểm dịch
đông lạnh, làm khô, ướp
16-03
muối hoặc hun khói
Các chiết xuất từ cá,
Luật vệ sinh thực
từ loài có mai cứng phẩm
16-04
16-05
nhuyễn thể
Cá chế biến sẵn,
đắng); men tiêu hóa…
Một vài ví dụ:
- Dư lượng kháng sinh(chloramphenicol và nitrofuran) và dẫn xuất của
nó; AOZ(3 amino, 2 oxazole); SEM(semicarbon) cho phép hàm lượng
không quá 0.5 phần tỷ.
- Một trong các loại kháng sinh được sử dụng phổ biến trong nuôi trồng
thủy sản là oxytetracyline có hàm lượng cho phép là 1 phẩn tỷ.
- Cá tươi không có dư lượng CO2
- Một số chế biến từ cá như xúc xích cá, ruốc cá, bánh cá, phải có độ
PH không quá 4,6; hàm lượng nước không quá 94%.
- Sản phẩm chế biến, đông lạnh không được phép chứa escherichia coli.
- Bánh cá không đựơc phép chứa trực khuẩn coli.
- Cá phi lê không được phép có chứa khuẩn colon bacillus.
2.2.4 Các quy định khác
Ngoài những quy định trên, hàng thủy sản còn phải tuân thủ các Luật đo
lường, Luật bao bì, Luật kiểm soát lây truyền động vật trong nước; đạt tiêu
chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) nếu muốn xuất khẩu vào thị trường này.
Ngoài ra, Cục môi trường Nhật Bản khuyến khích người tiêu dùng sử
dụng sản phẩm có đóng dấu “Ecomark”. Đây là chứng nhận được cấp cho sản
phẩm đảm bảo không gây hại cho môi trường từ khâu sản xuất đến tiêu dùng.
Sản phẩm có chứng nhận này sẽ dễ dàng tiếp cận thị trường hơn, vì Nhật Bản
rất coi trọng vấn đề môi trường như nhiều quốc gia phát triển khác trên thế giới.
Trên thực tế, nhiều mặt hàng xuất khẩu Việt Nam khác như: tôm, mực,
cá… đều không đủ tiêu chuẩn và phía Nhật Bản buộc phải trả lại hàng và cấm
các loại này. Tuy nhiên, Bộ Thủy sản một mặt hướng dẫn cụ thể doanh nghiệp
trong nước tiếp cận các tiêu chuẩn kĩ thuật cần thiết, một mặt tìm ra các giải
pháp phù hợp với việc báo cáo với Bộ y tế và Phúc lợi Nhật Bản nên không xảy
ra việc cấm này.
Một vấn đề nan giải khác đang làm đau đầu các DN xuất khẩu thủy sản, đó là
việc một số thị trường đang thắt chặt kiểm soát dư lượng kháng sinh trong thuỷ
sản. Kể từ ngày 9/6/2011, Nhật Bản đã chính thức tăng tần suất kiểm tra dư
lượng enrofloxacin lên mức 100% với các lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam.
Cuối năm 2010, các DN xuất khẩu tôm cũng kêu ca việc Nhật Bản kiểm tra hoạt
chất Trifluralin ở 100% lô hàng. Các DN xuất khẩu cho rằng, dư lượng kháng
sinh có trong thủy sản xuất khẩu là do khâu nuôi trồng, chứ không phải do chế
biến. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ kháng sinh thì nguy cơ
mất thị trường là có thật.
2.3 Đánh giá chung và các vấn đề đặt ra
2.3.1 Các kết quả đạt được
Một là, các cơ quan chức năng và doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quan
tâm đến các tiêu chuẩn kĩ thuật Nhật Bản. Tiến hành đổi mới công nghệ nuôi
trồng và chế biến, quản lý chất lượng và các vấn đề liên quan đến vệ sinh an
toàn thực phẩm, do đó đã gặt hái được những kết quả đáng kể trong mấy năm
gần đây.
Hai là, nhà nước và các cơ quan chức năng đã giám sát chặt chẽ việc thực
hiện các tiêu chuẩn kĩ thuật đối với hàng thủy sản xuất khẩu sang Nhật Bản để
có những giải pháp kịp thởi nhằm hạn chế tối thiểu những tổn thất cho nhà nước
và doanh ngiệp Việt Nam. VASEP đã khoanh vùng và quan sát 100% từ nuôi
trồng, chế biến và bảo quản. Đi đôi với việc này thì Bộ Thủy Sản(nay là Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã ra quyết định 06/2007 QĐ-BTS có
hiệu lực từ ngày 26/7/2007 về cấp bách kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng
sinh cấm trong thủy sản xuất khẩu sang Nhật Bản.
Ba là, hệ thống các điểm tư vấn, hỏi đáp về các hàng rào kĩ thuật, các tiêu
chuẩn khác được thành lập ở các địa phương, cung cấp thông tin thường xuyên
cho các doanh nghiệp về cảnh báo của thị trường đối với các lô hàng xuất khẩu
của doanh nghiệp. Công tác quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm được