Hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ đối với xuất khẩu dệt may và thủy sản của Việt Nam - Pdf 14

Contents
Contents 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
KẾT LUẬN 23
Nhóm 3 TMA301.3
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã tuyên bố bình
thường hóa quan hệ ngoại giao chính thức với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, mở ra một trang mới trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Đặc biệt hơn sau khi
hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực (10/12/2001), quan
hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những bước phát triển đáng kể, kim ngạch hàng
hóa hai chiều tăng mạnh, mở ra cho các doanh nghiệp hai nước cơ hội đầu tư, kinh doanh
bình đẳng cùng có lợi, tạo đà quan trọng cho tiến trình phát triển Việt Nam – Hoa Kỳ sau
bình thường hóa quan hệ. Hiện nay, Hoa Kỳ đã đạt vị trí dẫn đầu về đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam và vươn lên thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn
20% tổng giá trị hàng xuất khẩu Việt Nam. Đây thật sự là một thị trường lớn mang nhiều
tiềm năng hứa hẹn với ngành xuất khẩu của Việt Nam.
Trên thị trường thế giới, hàng thủy sản đựợc xếp vào nhóm sản phẩm cơ bản, luôn
trong tình trạng cung không đáp ứng nổi cầu trên quy mô toàn cầu. Trong mấy năm vừa
qua, Việt Nam luôn được xếp vào nhóm những nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới,
tính riêng 5 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 526.000 tấn thuỷ sản,
mang về 2,1 tỉ USD, tăng 10,43% về lượng và 29,05% về giá trị so với cùng kì năm
trước. Bên cạnh mặt hàng thủy sản thì dệt may cũng là một trong những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 11,2 tỷ USD, tăng
23,2% so với năm 2009, đặc biệt trong đó, xuất khẩu tại thị trường Hoa Kỳ đạt doanh thu
lớn nhất, hơn 6 tỷ USD.
Như vậy có thể thấy cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu hai mặt hàng này còn rất nhiều,
tuy nhiên áp lực cạnh tranh cũng rất lớn. Nếu muốn trụ vững trên thương trường quốc tế,
đặc biệt khi một số nước tham gia xuất khẩu tăng lên và mở rộng năng lực sản xuất, đồng
thời các nước nhập khẩu đang đưa ra những hàng rào thương mại ngày càng khắt khe
hơn, điển hình như là những rào cản phi thuế quan từ một thị trường nhập khẩu lớn như

giảm thuế quan, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Bởi vậy, hàng rào phi thuế quan lại
được các nước lựa chọn sử dụng nhiều hơn với nhiều biện pháp khác nhau, có tác dụng
bảo hộ tốt hơn, tinh vi và nhạy cảm hơn. Các quốc gia thường sử dụng hàng rào này đẻ
giảm tối thiểu lượng hàng hóa nhập khẩu, bảo hộ thị trường trong nước, điều chỉnh và
quản lý chính sách nhập khẩu theo đúng phương hướng đã đề ra.
2. Các loại hàng rào phi thuế quan.
2.1. Các biện pháp hạn chế định lượng
a) Cấm nhập khẩu
b) Hạn ngạch nhập khẩu.
c) Giấy phép nhập khẩu hàng hóa
2.2. Các biện pháp tương đương thuế quan (Para-tariff measures)
Các biện pháp tương đương thuế quan là các biện pháp làm tăng giá nhập khẩu theo
cách tương tự thuế quan. Ngoài ra các biện pháp quản lý giá bán trong nước có thể tác
động trực tiếp hay giá bán tới giá bán hàng nhập khẩu.
a) Xác định giá trị hải quan (Custom Valuation)
b) Định giá (Pricing)
c) Biến phí (Variable charges)
d) Phụ thu (Surcharges)
2.3. Quyền kinh doanh của các doanh nghiệp
a) Quyền kinh doanh nhập khẩu
b) Đầu mối nhập khẩu
4
Nhóm 3 TMA301.3
2.4. Các rào cản kỹ thuật
Rào cản kỹ thuật thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp
dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá phù hợp của hàng hóa nhập
khẩu đối với các tiêu chuẩn kỹ thuật đó.
Một số loại rào cản kỹ thuật:
• Các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật
• Kiểm dịch động, thực vật

a) Cấm nhập khẩu
Cấm nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại
quốc tế và nói chung WTO không cho phép sử dụng. Tuy nhiên, do trình độ phát triển
giữa các quốc gia là không đồng đều nên các quốc gia vẫn có thể thi hành các biện pháp
cấm nhập khẩu, trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp sau:
• Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia
• Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội
• Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật
• Liên quan tới xuất khẩu và nhập khẩu vàng, bạc
• Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ
• Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Với điều kiện là các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất
hay tiêu dùng nội địa liên quan đến chúng.
b) Hạn ngạch nhập khẩu
WTO cho phép được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt sau:
• Áp dụng hạn ngạch nhằm hạn chế tạm thời ngăn ngừa, khắc phục sự khan hiếm
trầm trọng về lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác.
• Áp dụng hạn ngạch để bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán
của nước mình.
Các nước đang phát triển có thể áp dụng hạn chế số lượng trong trương trình trợ giúp
của chính phủ về đẩy mạnh phát triển kinh tế, hoặc hạn chế để bảo vệ cho một số ngành
công nghiệp.
Ngoài ra, các biện pháp này còn được áp dụng trong các trường hợp như: bảo vệ đạo
đức xã hội, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật, xuất nhập khẩu vàng bạc,
tài sản quốc gia liên quan đến văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ, tài nguyên khan
hiếm…
Khi sử dụng hạn ngạch WTO yêu cầu các quốc gia phải thực hiện kèm theo các điều
kiện như sau:
6
Nhóm 3 TMA301.3

về phạm vi và thời hạn với biện pháp mầ chúng được sử dụng để thực hiện, và sẽ không
đặt ra những gánh nặng hành chính hơn mức cần thiết để quản lý biện pháp đó. Trong
trường hợp đòi hỏi cấp phép không vì mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải
công bố đầy đủ thông tin về cơ sở cấp phép.
7
Nhóm 3 TMA301.3
• Quy định với các nước thành viên
− Phải công bố tất cả các quy định về cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu,
xuất khẩu và Chính phủ của họ hiểu đầy đủ về:
− Công bố tư cách của các cá nhân, các công ty và các tổ chức làm đơn xin phép;
− Công bố cơ quan hành chính chịu trách nhiệm cấp phép và công bố những sản
phẩm cần phải có giấy phép/
3.2. Các quy định về hàng rào kỹ thuật
WTO yêu cầu các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn cũng như thủ tục xác định sự phù
hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn này không được tạo ra các trở ngại không
cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và
đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới hài hòa hóa. Các thành viên có thể đưa ra các
biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và động thực vật, ngăn
ngừa các hành động xấu.v.v mà nước này cho là thích hợp, với điều kiện là các biện
pháp đó không được áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện, hay hạn
chế vô lý đối với thương mại quốc tế.
WTO yêu cầu các thành viên tích cực soạn thảo các tiêu chuẩn, và tham gia vào
các tổ chức đo lường quốc tế như ISO.
Trong trường hợp các quốc gia không có các tiêu chuẩn quốc tế hoặc không thể áp
dụng các tiêu chuẩn này vì lý do gây phương hại tới lợi ích quốc gia thì cần:
• Sớm công bố trên báo chí giúp các nước khác biết tiêu chuẩn mà nước mình áp
dụng.
• Các quốc gia thông báo cho ban thư ký WTO biết về hệ thống tiêu chuẩn mà mình
áp dụng và phải giải trình mục đích nước mình áp dụng.
• Khi có các yêu cầu quốc gia phải cung cấp chi tiết hoặc bản sao các tiêu chuẩn kỹ

(triệu USD)
Tỷ trọng hàng dệt may trong
hàng hóa xuất khẩu sang thị
trường Hoa Kỳ(%)
Tỷ trọng thị trường Hoa
Kỳ trong xuất khẩu
hàng dệt may (%)
2001 47.5 4.46 3.88
2002 975.8 39.78 34.60
2003 1973 49.95 48.04
2004 2474 49.24 56.00
2005 2591 43.74 54.14
2006 3045 38.81 52.18
2007 4465 44.19 57.70
2008 5116 42.90 56.33
2009 5000 43.78 55.10
2010 5712 40.12 51.00
(các tính toán con số xấp xỉ dựa trên nguồn số liệu từ www.gso.gov.vn,
www.customs.gov.vn, http://trademap.com/, www.vietnamtextile.org.vn )
Giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn đánh dấu nhiều sự thay đổi bước ngoặt quan trọng
trong hệ thương mại Việt-Hoa Kỳ như: Hiệp định Thương mại song phương Việt
Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực (2002), Việt Nam gia nhập WTO (2007), bãi bỏ hạn
ngạch xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ đầu năm 2007 và Hoa Kỳ áp đặt “Chương
trình giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam”.v.v. Những biến động
này ít nhiều đã tác động đến kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, cụ thể:
- Trước khi Hiệp định Thương mại Việt - Hoa Kỳ có hiệu lực, hàng dệt may Việt
Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, chiếm chưa đến 1% tổng kim
9
Nhóm 3 TMA301.3
ngạch nhập khẩu hàng năm hàng dệt may của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đúng như nhiều

Kỳ trong xuất khẩu
hàng thủy sản(%)
2001 489.00 45.90 27.5
2002 654.98 26.70 32.4
2003 777.66 19.69 35.3
2004 522.00 10.40 25.1
2005 629.97 10.60 23.0
2006 678.64 7.63 20.1
2007 740.00 7.32 19.1
2008 850.00 7.15 14.0
2009 713.36 6.50 16.8
2010 971.56 6.90 19.3
(các tính toán con số xấp xỉ dựa trên nguồn số liệu từ www.gso.gov.vn,
www.customs.gov.vn, http://trademap.com/)
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực 2002 đã góp
phần thúc đẩy thương mại song phương. Giá trị xuất khẩu lúc này tăng lên 654.98 tăng
13,4% so với cùng kì năm 2001. Kim ngạch tiếp tục tăng cao vào năm 2003 lên đến
777,67 triệu USD chiếm 35,3% hàng xuất khẩu thủy sản và bị sụt giảm đáng kể sau vụ
kiện cá tra cá basa. Việt Nam chịu mức thuế chống bán phá giá cao nên kim ngạch sụt
giảm còn 522 triệu USD vào năm 2004.
Tuy nhiên nhờ có sự tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị
trường và tích cực nghiên cứu tạo ra những sản phẩm giá trị gia tăng cao. Cộng với việc
bối cảnh thị trường cá thịt trắng thế giới đang rất khó khăn, do nguồn lợi các loài cá này
bị suy giảm mạnh, dẫn tới sản lượng khai thác bị khống chế, trong khi nhu cầu tiêu thụ
vẫn không ngừng tăng, việc Việt Nam đưa ra thị trường thế giới sản phẩm phi lê cá Tra
với chất lượng cao và giá dễ chấp nhận, đã được đánh giá như một cuộc cách mạng. Điều
này được thể hiện rõ qua sự phục hồi năm 2005 và 2006 cùng sự tăng trưởng ổn định
trong hai năm tiếp theo là 2007 và 2008. Năm 2009, việc xuất khẩu thủy sản có ảnh
11
Nhóm 3 TMA301.3

1 điều kiện để Hoa Kỳ trao quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt
Nam. Cơ chế giám sát này áp dụng với 5 mặt hàng dệt may của Việt Nam là áo sơ mi,
quần dài, đồ bơi, đồ lót và áo len (bao gồm 14 chủng loại hàng khác nhau). Theo cơ chế
này cứ 6 tháng 1 lần cơ quan giám sát Hoa Kỳ sẽ lập ra báo cáo giám sát và trên cơ sở
12
Nhóm 3 TMA301.3
báo cáo này Bộ Thương Mại Hoa Kỳ sẽ quyết định có tự khởi xướng điều tra chống bán
phá giá hay không.
Về nguyên tắc thì cơ chế giám sát dệt may nhập khẩu từ Việt Nam của Hoa Kỳ là vi
phạm nguyên tắc tự do thương mại của WTO và không công bằng. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã
khéo léo sử dụng cơ chế này nhằm bảo hộ ngành dệt may trong nước bằng cách đưa ra
quan điểm rằng cơ chế này chỉ nhằm ứng phó với hàng dệt may Việt Nam trong trường
hợp bán phá giá và cam kết rằng không ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu cũng như
quan hệ 2 nước.
Cơ chế giám sát này đã có những tác động tiêu cực đến doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam. Đặc biệt, trong thời gian đầu áp dụng cơ chế giám sát này số lượng đơn hàng đã bị
giảm đáng kể do tác động của nhà nhập khẩu lo ngại của việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ
bị áp thuế chống bán phá giá. Theo số liệu của hiệp hội dệt may Việt Nam trong 5 tháng
đầu năm 2007, kim ngạch XK dệt may của Việt Nam tăng thấp hơn so với kế hoạch, bình
quân mỗi tháng chỉ đạt hơn 500 triệu USD. Một hậu quả trực tiếp nữa là sự biến động về
lao động: cụ thể, do số đơn hàng giảm, số lao động không có việc làm phải kiếm việc làm
ở các ngành sản xuất khác. Khi thị trường ổn định thì việc thu hút lao động trở lại là rất
khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp
xuất khẩu.
Mặc dù đến nay, hàng dệt may Việt Nam vẫn chưa bị Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá
giá, nhưng cơ chế giám sát vẫn chưa chấm dứt, đồng nghĩa với việc hàng dệt may Việt
Nam bất cứ khi nào cũng có nguy cơ bị kiện bán phá giá trên thị trường Hoa Kỳ. Nếu
Việt Nam bị kiện và bị áp thuế chống bán phá giá thì ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động
xuất khẩu hàng dệt may nói riêng và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói chung sẽ là
rất lớn. Do cộng thêm thuế chống bán phá giá, giá cả hàng dệt may xuất khẩu sẽ tăng cao

không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Về tiêu chuẩn chất lượng,
hàng dệt may Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đều bị kiểm tra kỹ theo
tiêu chuẩn khắt khe của nước này, thông thường chất lượng sản phẩm thường căn cứ theo
tiêu chuẩn được Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đưa ra.
Để đạt được những tiêu chuẩn này là điều không hề dễ dàng đối với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa với mức vốn, cơ sở vật chất và trình độ tay nghề chưa cao. Hơn nữa chi phí
cho chứng chỉ ISO khá cao, từ 200-250 triệu đồng, hay như để có được tiêu chuẩn SA
8000, chi phí đánh giá cũng như cải thiện công ty sẽ rất lớn. Điều này cũng gây khó khăn
cho các doanh nghiệp muốn đạt được chứng chỉ này.
2. Hàng rào phi thuế quan đối với mặt hàng thủy sản
2.1. Áp dụng thuế chống bán phá giá
• Tổng quan:
14
Nhóm 3 TMA301.3
Áp dụng trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào một nước có giá bán thấp hơn
giá bán thông thường (được quy định ở dưới) và làm thiệt hại đến nền sản xuất nội địa.
Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào một nước là giá có thể so sánh được
của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ
xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.
Trong trường hợp không có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường nội địa của
nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường
nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị
giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào, được xác
định theo một trong hai cách sau đây:
− Giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ
xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại
thông thường.
− Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận
ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước
hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba.

sản phẩm nào khác từ Việt Nam, ở nhiều thị trường và cuối cùng các ngành xuất khẩu của
chúng ta sẽ bị tổn thương nghiêm trọng.
2.2. Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
• Tổng quan:
Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm là quy định thuộc nhóm rào cản kỹ thuật.
Theo đó, hàng hóa nhập khẩu vào một quốc gia nào đó phải đáp ứng được những tiêu
chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm thì mới được thông quan nhập khẩu vào nước đó.
Những tiêu chuẩn này có thể dựa trên những tiêu chuẩn chung của thế giới hoặc của riêng
mỗi quốc gia.
Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là một nước có trình độ phát triển không cao, quy trình
sản xuất, chế biến, đóng gói… của Việt Nam còn chưa hiện đại. Do đó, Hoa Kỳ có lý do
để nghi ngờ cũng như áp dụng những quy định về chất lượng đối với thủy sản Việt Nam.
• Phân tích cụ thể:
Theo đó, tất cả các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải đảm bảo về
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis
Critical Control Points – Phân tích mối nguy và xác định điểm kiểm soát tới hạn). Theo
đó, để đánh giá tính an toàn vệ sinh đối với sản phẩm thủy sản bằng tập hợp các chỉ tiêu
phản ánh các mối nguy hại đối với người tiêu dùng như :
− Về vật lý : Như các mảnh kim loại, mảnh thủy tinh, vật sắc nhọn …
− Về hóa học: Như dư lượng kim loại nặng, thuộc trừ sâu, thuốc kích thích sinh sản và
sinh trưởng, thuốc chữa bệnh cho thủy sản, độc tố từ thức ăn cho thủy sản như Aflatoxin,
nguyên liệu có nguồn gốc từ công nghệ biển đổi gien; các hóa chất bảo quản, chất tẩy rửa
và khử trùng; các chất phụ gia và tạo màu…
16
Nhóm 3 TMA301.3
− Về sinh học: Như ký sinh trùng, vi rút vật gây bệnh, tảo sinh độc tố và độc tố sinh
học…
Bên cạnh đó, hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam còn phải tuân theo các quy
định về kiểm soát dư lượng hóa chất trong các sản phẩm thủy sản, đặc biệt là các chất
kháng sinh.

thủy sản Việt Nam gặp khó khăn rất nhiều để có thể đáp ứng được những quy định này.
Các doanh nghiệp Việt Nam khó nắm bắt được cụ thể và đầy đủ những quy định trong
Luật của Hoa Kỳ.
− Mặt khác để đáp ứng được những tiêu chuẩn đó, doanh nghiệp Việt Nam phải đối
mới công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo an
toàn cho người lao động… Điều này làm tăng giá mặt hàng thủy sản của nước ta trên thị
trường Hoa Kỳ, giảm khả năng cạnh tranh.
− Việc tăng cường ý thức bảo vệ môi trường cho từng bộ phận từ nuôi trồng, sản xuất,
chế biến đến xuất khẩu thành phẩm cũng gặp rất nhiều khó khăn khi từ trước đến nay, ý
thức bảo vệ môi trường của người dân nước ta là chưa cao.
2.4. Quy định về truy xuất nguồn gốc hàng hóa
Đây là một dạng quy định về thủ tục hành chính kết hợp với rào cản kỹ thuật:
• Tổng quan và thực tế áp dụng:
Một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ phải chịu quy
định về truy xuất nguồn gốc theo đạo luật Lacey. Theo lý thuyết, đây là quy định nhằm
hạn chế và tiến đến xóa bỏ việc khai thác bất hợp pháp. Theo đó Hoa Kỳ yêu cầu “chứng
nhận thủy sản khai thác” đối với tất cả các nhà xuất khẩu thủy sản.
• Tác động:
Những quy định này gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy
sản ở Việt Nam vì đa số nguồn nguyên liệu là mua từ ngư dân, rất khó để xác định nguồn
gốc theo quy định của Hoa Kỳ.
Nói tóm lại, ngoài các biện pháp thuế quan nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu thì
biện pháp phi thuế quan mà cụ thể là những rào cản kỹ thuật trên là một trong những
công cụ sắc bén nhất của Hoa Kỳ mà hầu hết các quốc gia xuất khẩu khó mà có thể vượt
qua được những rào cản ấy, Hoa Kỳ ngày càng lợi dụng triệt để những rào cản ấy để bảo
hộ những gì có lợi nhất cho thị trường của họ, gây khó khăn không chỉ cho thủy sản Việt
Nam mà còn cho các quốc gia khác có hàng thủy sản nhập vào Hoa Kỳ.
TÁC ĐỘNG CHUNG:
Theo thống kê không đầy đủ của cơ quan có thẩm quyền, thuỷ sản Việt Nam bị Hoa
Kỳ từ chối năm 2002 là 33,932 pounds trị giá 109,650 USD. Con số tương ứng năm 2003

hợp lý của các thành viên và các cơ quan liên quan trong tổ chức WTO. Thiết lập một cơ
chế theo dõi và phổ biến thông tin có liên quan và đẩy mạnh trao đổi và hợp tác quốc tế.
• Tăng cường sự hiểu biết và thông hiểu về các vấn đề thương mại và môi
trường
Mặc dù hiểu biết về môi trường của công chúng nói chung đã tăng lên ở Việt Nam
nhưng một số bộ phận quản lý và công ty thiếu sự hiểu biết cần thiết và sự thông hiểu về
các vấn đề thương mại và môi trường. Sự hiểu biết không đầy đủ của họ về các vấn đề
19
Nhóm 3 TMA301.3
thương mại vàmôi trường ngày càng ngặt nghèo ở nước ngoài và sự cạnh tranh trên thị
trường quốc tế đang tăng lên mạnh mẽ đã dẫn đến thua thiệt không cần thiết. Do vậy, cần
tăng hiểu biết của những người liên quan thông qua sự công khai thông tin, đào tạo và hội
thảo, học hỏi kinh nghiệm từ nước ngoài và đẩy mạnh trao đổi hợp tác với các cơ quan
nước ngoài.
• Phát triển, quy hoạch hợp lý các vùng sản xuất, cung cấp các yếu tố đầu vào
ổn định.
Phát triển vùng nguyên liệu và những ngành công nghiệp phụ trợ cho dệt may: Hiện
nay nguyên phụ liệu của ngành dệt may chủ yếu là nhập khẩu, thị trường nhập khẩu lớn
của nước ta bao gồm Trung Quốc, Đài Loan…Bởi vì tỷ lệ nội địa hóa sẽ quyết định xuất
xứ của hàng hóa nên nếu ta muốn được hưởng những ưu đãi của Hoa Kỳ thì cần phải
nâng cao tỷ lệ nội địa hóa hơn nữa.
Quy hoạch hợp lý và hiệu quả các cùng nuôi trồng và chế biến thủy hải sản. Đảm
bảo các tiêu chuẩn về môi trường, hàm lượng chất dinh dưỡng và các tiêu chí ngặt nghèo
khác theo quy định của các tổ chức quốc tế nói chung và nước nhập khẩu nói riêng.
2. Giải pháp về phía doanh nghiệp
Các công ty cần phải chủ động tìm hiểu luật pháp, tập quán thương mại của thị
trường Hoa Kỳ, cần hết sức tránh những loại rào cản thương mại. Trong trường hợp mắc
phải, doanh nghiệp cần khôn khéo tìm cách tháo gỡ cùng với sự trợ giúp của Chính phủ
và Hiệp hội. Công ty cần xây dựng phương án, kế hoạch kinh doanh; phân tích rủi ro và
cơ hội từ việc đầu tư vào các giải pháp vượt qua rào cản kỹ thuật tiềm tàng.

trường lớn là cách tốt nhất để công ty tránh phá sản.
• Mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất.
Phát huy lợi thế về nguồn nguyên nhiên liệu, lao động lành nghề nhằm giảm chi phí,
giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa. Đồng thời việc minh
bạch hóa các chứng từ để chứng minh sản xuất và bán hàng trên giá thành của mình
nhằm chống nguy cơ bị kiện bán phá giá.
Ưu tiên đầu tư các thiết bị hiện đại, áp dụng các dây chuyền sản xuất tiên tiến nhất
để giành lấy lợi thế về giá thành và chất lượng sản phẩm.
• Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Phát huy hình thức đào tạo tại chỗ. Khai thác triệt để kiến thức, kỹ năng của cán
bộ quản lý và chuyên gia giỏi trong từng lĩnh vực. Đào tạo và truyền đạt kinhnghiệm thực
tế cho đội ngũ trẻ trong công việc, đặc biệt công việc liên quan đến hoạt động ngoại
thương
21
Nhóm 3 TMA301.3
3. Giải pháp về phía các hiệp hội
• Xây dựng hiệp hội đoàn kết vững mạnh, và là cầu nối giữa nhà nước và
doanh nghiệp
Đối với Hiệp hội, cần nâng cao vai trò của Hiệp hội ngành trong việc thu thập, cập
nhật và phổ biến thông tin về rào cản kỹ thuật toàn diện tại các thị trường xuất khẩu đích
và các thị trường mà ngành hướng tới nói chung và thị trường Hoa Kỳ nói tiêng. Bộ phận
này phải được cấp kinh phí để duy trì hoạt động thường xuyên đều đặn. Thông tin về rào
cản kỹ thuật cần được phổ biến rộng rãi trong toàn ngành để các công ty có thể dễ dàng
nắm bắt. Tạo điều kiện để các công ty trong Hiệp hội trao đổi thông tin với nhau cũng
như giải quyết các bức xúc của công ty khi thâm nhập thị trường quốc tế, bảo vệ quyền
lợi của công ty khi cần thiết.
Các hiệp hội cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo về chính sách mới của Nhà
nước, cập nhật thông tin về mặt hàng, tiêu chuẩn, chất lượng, Hỗ trợ doanh nghiệp trong
đào tạo cán bộ chuyên sâu về lĩnh vực của ngành thông qua các khóa học ngắn hạn , các
buổi hội thảo kinh nghiệm,… Thông qua hoạt động này doanh nghiệp cùng các ngành

1 kết quả đáng kinh ngạc! Tuy nhiên vẫn còn đó rất nhiều thách thức và khó khăn mà các
doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi xuất khẩu hai mặt hàng dệt may và thủy sản
sang nền kinh tế lớn và năng động nhất thế giới này.
Dệt may và thủy sản là hai mặt hàng luôn giữ vị trí gần như là cố định trong danh
sách các mặt hành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, mang lại nguồn thu không nhỏ cho
GDP của nước ta qua các năm. Tuy vậy, đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hai mặt hàng này
vào các thị trường lớn như Hoa Kỳ vẫn là một bài toán khó cần những lời giải thông
minh nhất. Hiện nay, chúng ta có thể thấy những biện pháp phi thuế quan mà Hoa Kỳ đưa
ra với các mặt hàng dệt may và thủy sản của Việt Nam có số lượng không hề nhỏ cũng
như có yêu cầu rất khắt khe. Đây cũng là điều dễ hiểu ở một thị trường lớn và khó tính
như Hoa Kỳ. Bởi vậy, với các giải pháp đồng bộ được đưa ra về phía cả ba đối tượng là
nhà nước, doanh nghiệp và hiệp hội, hi vọng sẽ có sự phối hợp tốt nhất từ các ban ngành
liên quan để các doanh nghiệp Việt Nam có thể vượt qua được những hàng rào phi thuế
quan mà Hoa Kỳ đưa ra và mang lại những con số kim ngạch xuất khẩu đáng kinh ngạc
hơn nữa về dệt may và thủy sản của Việt Nam trong tương lai. Đó là điều mà tất cả chúng
ta đều mong đợi!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Ngoại Thương, GS.TS. Bùi Xuân Lưu – PGS.TS. Nguyễn Hữu Khải,
Giáo trình Kinh Tế Ngoại Thương, Nhà xuất bản Lao Động – Xã Hội, 2008
2. Nguyễn Hữu Khải, Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế, Nhà
xuất bản Lao Động – Xã Hội, 2005
24
Nhóm 3 TMA301.3
3. Đào Thị Thu Giang, Biện pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam, Nhà xuất bản Tài Chính, 2009
4. Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, http://www.customs.gov.vn/Default.aspx
5. Tổng Cục Thống Kê, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=217
6. Cổng thông tin điện tử ngành dệt may Việt Nam,
http://www.vietnamtextile.org.vn/vi/trang-chu.aspx
7. http://trademap.com/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status