giải pháp nhằm điều chỉnh và hoàn thiện các hàng rào phi thuế quan của Việt Nam để phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 63

Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
giải pháp nhằm điều chỉnh và hoàn thiện các hàng
rào phi thuế quan của Việt Nam để phù hợp với xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế
1- Những thuận lợi
Nắm bắt xu hớng phát triển kinh tế thế giới, ngay từ đại hội Đảng VIII,
Đảng và nhà nớc ta đã có chủ chơng Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động
tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nớc ta
trên trờng quốc tế, trong những năm qua, chúng ta đã tích cực đẩy mạnh quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Với phơng châm độc lập tự chủ, rộng mở, đa
phơng hóa và đa dạng hóa...Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng
đồng thế giới, Việt Nam đã gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực thơng mại tự
do ASEAN (AFTA), tham gia với t cách sáng lập Diễn đàn hợp tác á - Âu
(ASEm), là thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái
Bình Dơng (APEC), đang đàm phán gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới
(WTO), và đẩy mạnh nhiều hoạt động đa phơng và song phơng khác.
Thực tế cho thấy các thành tựu kinh tế và ngoại giao trong những năm
qua đã nâng vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế. Có thể nói, chúng ta đã đạt
đỉnh cao trong quan hệ bề rộng, vấn đề đặt ra là phải chuyển nhanh, chuyển
mạnh vào chiều sâu.
1.1- Khắc phục đợc tình trạng phân biệt đối xử, tạo dựng đợc thế và lực trong thơng mại quốc tế
Nhìn chung khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và
khu vực sẽ đa đất nớc vào một vị thế mới, khắc phục đợc tình trạng bị các cờng
quốc lớn phân biệt đối xử, Việt Nam có điều kiện khai thác thêm những lợi thế
riêng của mỗi tổ chức để phát triển quan hệ thơng mại và thu hút đầu t, trớc mắt
là hạn chế tác động của chính sách phân biệt đối xử của một số nớc và đẩy
nhanh tiến trình bình thờng hóa quan hệ thơng mại Việt - Mỹ.
1.2- Đợc hởng những u đãi thơng mại, tạo dựng môi trờng phát triển kinh tế
1
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
1

2
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
2
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
- Hệ thống luật pháp, chính sách thơng mại đợc hình thành vừa phù hợp
với thông lệ quốc tế vừa thích hợp với hoàn cảnh đất nớc, làm công cụ đắc lực
cho đàm phán mở cửa thị trờng, giảm bớt khó khăn, tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp khai thác từng lợi thế nhỏ để hoạt động có kết quả trên thơng trờng.
Để củng cố đợc những yếu tố trên, trớc các thách thức khi gia nhập các tổ
chức kinh tế quốc tế và khu vực, nớc ta có thể gặp những khó khăn sau:
2.1- Về sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ
Thành tựu bớc đầu sau thời gian thực hiện chính sách đổi mới là đáng
khích lệ, nhng thực tế trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp; chuyển
dịch kinh tế diễn ra chậm, sức cạnh tranh của hàng hóa còn yếu kém. Hội nhập
một mặt tạo thêm rất nhiều cơ hội thâm nhập thị trờng quốc tế đồng thời cũng
phải mở cửa thị trờng Việt Nam cho hàng hóa các nớc nhập vào (theo nguyên
tắc có đi có lại). Nếu không chuẩn bị tốt, chủ động chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh mà cứ đầu t dàn trải, thiếu thứ gì thì làm thứ
ấy, công nghệ lạc hậu thì không cạnh tranh đợc. Đây là sức ép lớn nhất mà
không chỉ Việt Nam mà ngay cả các nớc có sức cạnh tranh kinh tế cũng phải
chấp nhận và đơng đầu, có lúc phải từ bỏ một số ngành nghề để tạo cơ hội phát
triển cho những ngành có lợi thế so sánh hơn đồng thời có kế hoạch và biện
pháp cụ thể để chủ động thích ứng và vợt lên.
Trớc yêu cầu phải giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan để mở đờng
cho thơng mại phát triển, một mặt phải tính toán để thực hiện chính sách bảo hộ
hợp lý sản xuất trong nớc, bảo hộ có điều kiện, có chọn lọc, có thời gian. Để đạt
đợc kết quả mong muốn, Việt Nam sẽ xác định và công bố thời hạn bảo hộ đi
đôi với đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế so
sánh của nớc ta, mặt khác nớc ta phải tận dụng nguyên tắc của các tổ chức này
về quyền tự vệ, về quyền tham gia các tổ chức kinh tế khu vực, về u đãi cho các

và thờng xuyên chỉnh lý toàn bộ nền kinh tế và hiệu quả không quan tâm gì
đến chi phí của sự méo mó giá cả và sự bất chấp do phơng pháp này tạo ra trong
nền kinh tế thị trờng. Tính pháp lý của chế độ kế hoạch hóa tập trung còn nổi
bật về những đặc điểm và những vấn đề chung với chế độ thơng mại, nh OECD
ghi nhận.
Một số vấn đề gặp phải trong các thị trờng kinh tế chuyển đổi bao gồm:
thờng xuyên thay đổi về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, những khó
khăn trong tiến hành các thủ tục định giá trị hải quan nhằm chống lại những
khai man hóa đơn, các chơng trình đánh thuế không dựa trên cơ sở u đãi quốc
gia, những tàn d của chế độ buôn bán và việc cấm đoán nhà nớc từ những dàn
xếp u đãi giữa một số nền kinh tế chuyển đổi.
4
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
4
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
Việt Nam có tất cả những đặc điểm mà OECD ghi nhận, ngoại trừ những
dàn xếp u đãi cũ hiện nay đã không còn phù hợp. Ngời ta cũng có thể tính đến
thái độ giấu giếm thái quá về số liệu thơng mại. Bên cạnh những vấn đề này có
thể kể thêm các đặc trng cho một nền kinh tế nghèo nàn: lơng theo ngành thấp,
khả năng thực hiện chính sách yếu, thuế nhập khẩu cấu thành một tỷ lệ cao của
tổng nguồn thu Chính phủ. Niềm tin vào chủ nghĩa độc quyền là kết quả phụ
thuộc kéo dài của kinh nghiệm kế hoạch hóa tập trung. Nh vậy đối với nhiều
quan chức Việt Nam, các chế độ chính sách thơng mại và đầu t hiện nay của
Việt Nam có những mục tiêu mâu thuẫn nhằm cung cấp bảo hộ cho các nhà
sản xuất trong nớc, trong khi đó cũng xóa bỏ bảo hộ thơng mại. Thực vậy khó
có thể tránh khỏi rằng vị trí thành viên của Việt Nam của các tổ chức khu vực
và toàn cầu có động cơ chính trị hơn là bất kỳ sự nhất trí nào về những lợi ích
mậu dịch tự do. Trong ngữ cảnh này, cái nhìn nào đó đối với các hàng rào phi
thuế quan nh một con đờng cho chủ nghĩa bảo hộ tinh tế.
Việc tăng tỷ lệ thuế chỉ là một biện pháp (bảo hộ) tạm thời. Đó không

một cách mơ hồ về chủ đích và phơng hớng chính sách. Vì thế, những luật lệ
này chứa đựng nhiều tuyên bố chính sách nh các văn bản pháp lý, với những qui
định về văn bản thực hiện cụ thể chủ yếu giành cho các Bộ liên quan quyết
định. Nh vậy, ở cấp bộ có nhiều sự tự do về thiết kế và thực hiện các chính sách.
Các Bộ cũng có thể khởi xớng những thay đổi trong phạm vi trách nhiệm đợc
phép (ví dụ Bộ Tài chính quyết định về các thay đổi thuế suất). Các Bộ thờng
thảo luận các thay đổi chính sách với nhau, song quá trình này là thứ yếu đối
với việc xây dựng chính sách cấp Bộ. Vì vậy cải cách chính sách kinh tế vi mô
phần lớn mang tính phân tán và không đợc phối hợp.
Phơng pháp tiếp cận chính sách mang tính phân tán này phân loại quy
trình cải cách. Đó là xu hớng chung có thể hớng tới tự do hóa, có thể vẫn có
những nhóm bảo hộ dai dẳng. Nếu những nhóm này chiếm đa số trong các Bộ
then chốt, khi đó cải cách có thể bị dẹp bỏ hoặc thậm chí bị đảo ngợc, bất kể sự
ủng hộ của chính quyền cao hơn. Nhìn chung bức tranh tổng thể, cải tổ có thể
dờng nh luôn luôn có hai bớc tiến và một bớc lùi (đôi khi là hai bớc). Cái cần
có là nhận thức chung hoặc viễn cảnh về phơng hớng của quá trình cải cách
xuống cấp Bộ. Hy vọng điều này của một nền kinh tế trong quá trình chuyển
đổi có thể là quá nhiều, và dù sao cũng có một sự nhất trí chung về một số ph-
6
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
6
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
ơng hớng chính sách - nh cam kết AFTA nhằm cắt giảm toàn bộ thuế suất
xuống còn bằng hoặc dới 5% vào năm 2006.
Vì vậy, đôi khi việc xây dựng chính sách theo kiểu phân quyền sẽ vẫn là
đặc trng của quy trình xây dựng chính sách của Việt Nam. Một hệ quả của cơ
cấu này là những mối quan tâm của các cấp chính quyền cao hơn có xu hớng
tạo ra một gợn nhỏ cho những cải cách chính sách ở cấp Bộ. Một ví dụ gần đây
là mối quan tâm về việc giảm sút đầu t trực tiếp nớc ngoài, đã nhắc nhở nhiều
Bộ làm cái gì đó trong vòng phạm vi quyền lực của họ. Kết quả là, các quy

Khung pháp lý liên quan đến thơng mại của Việt Nam đang trong giai
đoạn chuyển đổi nh ngời ta vẫn bàn luận. Chỉ số lợng các văn bản pháp lý đợc
ban hành hàng tháng để điều chỉnh chế độ chính sách không thôi cũng đủ
chồng chất: ví dụ 27 văn bản báo cáo liên quan đến những thay đổi từ tháng 7
đến tháng 9/1998: 2 văn bản về hạn ngạch; 4 văn bản về thay đổi những thuế
suất nhập khẩu; 6 văn bản về miễn thuế nhập khẩu (ví dụ về tái xuất); 3 văn bản
về giải thích những định nghĩa các dòng thuế; 2 văn bản về dán tem hàng nhập
khẩu; 6 văn bản về quản lý hải quan (ví dụ về chống buôn lậu); và 4 văn bản về
miễn thuế và thay đổi đối với các sắc thuế khác có liên quan đến thơng mại (ví
dụ thuế mua hàng).
Chỉ riêng cái chuyện chồng chất các văn bản pháp lý này, bản thân nó đã
là một hàng rào tạo ra một chi phí bổ sung vào việc buôn bán với Việt Nam
cũng nh đối với các nhà sản xuất trong nớc. Các thuế xuất nhập khẩu và những
biện pháp phi thuế quan khác nhau nh phụ thu và hạn ngạch đợc thay đổi thờng
xuyên và thờng chỉ là cận biên. Sự tự nguyện này trong chế độ chính sách đã đ-
ợc lu ý bởi Trung tâm Chấp hành Thơng mại Hoa Kỳ (1998): những qui tắc
chính thức trong những lĩnh vực của hệ thống thơng mại (của Việt Nam) không
đợc xác định, trong những qui tắc khác, các biện pháp và sự giải thích thực tế
của chúng luôn luôn thay đổi.
Các khoản phụ thu, các thuế suất, những khoản miễn thuế, các biện pháp
tài chính khá thờng xuyên, và ít nhất mỗi năm. Thông lệ này là di sản của vai
trò quản lý vi mô thụ động của Nhà nớc trong chế độ kế hoạch hóa tập trung,
ngày nay đợc áp dụng một cách toàn diện chỉ đối với hàng hóa chiến lợc.
Việc thiếu hiểu biết về chi phí kinh tế của việc sinh ra sự méo mó về giá cả và
sự bấp bênh trong những thị trờng làm cho vấn đề tồi tệ hơn. Sự bấp bênh, khả
8
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
8
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
năng quản lý và hệ thống thông tin yếu kém làm trầm trọng thêm những vấn đề

Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
9
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
- Và về những khoản miễn thuế mua hàng đặc biệt: thiên tai và những
tai biến bất thờng khác, cho những nhà sản xuất bia quy mô nhỏ đang chịu
thua lỗ, và cho các doanh nghiệp gia công quy mô nhỏ đang gặp rắc rối
(109/1998/TT- BTC).
2.7- Không phải tất cả các văn bản pháp lý đợc thu thập và xuất bản có hệ thống
Việc xuất bản các văn bản chính sách chính thức rõ ràng là một nhu cầu
pháp lý song trong thực tế, những văn bản quan trọng không có sẵn. Đây là một
vấn đề đặc biệt trong Công văn, việc lu hành của nó dờng nh dựa vào sự xét
đoán của các Bộ ban hành. Hiếm khi có văn bản ở cấp cao hơn đợc thấy trong
Công báo của Chính phủ hoặc trong bộ su tập của Quốc hội.
Tuy nhiên, vấn đề là Công văn có thể bao gồm những văn bản quan trọng
- đặc biệt khi chúng làm rõ sự mập mờ của định nghĩa. Những văn bản liên
quan đến những ngành công nghiệp nhạy cảm và sinh lãi nhiều nh dầu khí thì
khó tìm. Hơn nữa, các Bộ có thể quyết định không quảng cáo những thay đổi
chính sách bằng việc tiếp tục các chỉ đạo về những thay đổi nh vậy là vấn đề nội
bộ.
Thông tin rất quan trọng không đợc công bố. Ví dụ các giá cả do Chính
phủ kiểm soát không đợc đăng trong Công báo, song có thể tìm thấy trong bản
tin hàng ngày Thị trờng và Giá cả. Những chính sách của các Ngân hàng Nhà n-
ớc không có sẵn để xem xét kỹ lỡng. Nh vậy việc phân tích những vấn đề quan
trọng nh các chính sách dự trữ để mở các th tín dụng phải dựa vào thông tin
phỏng vấn.
Những luận đề về các qui trình và chế độ chính sách thơng mại của Việt Nam
giúp đi sâu vào công việc nghiên cứu gian khó trong việc khảo sát các hàng rào
phi thuế quan của Việt Nam. Nhiều công cụ chính sách đợc sử dụng và hầu hết
những công cụ này đều mang tính rắc rối về mặt thiết kế và quản lý chúng.
Trong khi đó hầu hết các văn bản pháp lý có thể tiếp cận thông qua các cơ sở dữ

đồ uống. Đầu năm 1999, Việt Nam cấm nhập khẩu clinke trong khi thị trờng
nội địa đang d thừa mặt hàng này, hay cấm nhập khẩu phân bón NPK khi sản
xuất trong nớc đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân.
Ngày 04/04/2001, lần đầu tiên Chính phủ đã ban hành cơ chế điều hành
xuất nhập khẩu cho cả năm năm (2001- 2005) thay vì hàng năm nh trớc. Đồng
thời với quyết định số46/QĐ- TTg ban hành ngày 04/04/2001 về quản lý xuất
11
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
11
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
nhập khẩu hàng hóa 2001- 2005 và có hiệu lực từ ngày 01/05/2001, Chính phủ
đã ban hành Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu, gồm bảy nhóm
hàng xuất khẩu và 11 nhóm hàng nhập khẩu. Nhìn chung các nhóm hàng cấm
xuất khẩu, nhập khẩu đều phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
3.2- Bãi bỏ biện pháp hạn ngạch áp dụng đối với xuất khẩu và nhập khẩu
Kể từ năm 1995 biện pháp hạn ngạch đã đợc giảm dần và cho đến nay đã
đợc bãi bỏ hoàn toàn. Để bảo hộ sản xuất và thị trờng trong nớc, dự kiến sẽ triển
khai biện pháp hạn ngạch thuế quan để bảo hộ sản xuất nông nghiệp thông qua
việc Nhà nớc quy định số lợng đợc nhập khẩu với thuế suất thấp (thuế suất
MFN) đối với những mặt hàng thuộc diện điều chỉnh của biện pháp này, khi vợt
số lợng sẽ phải chịu thuế suất cao. Hạn ngạch thuế quan và mức thuế ngoài hạn
ngạch sẽ đợc Bộ Kế hoạch và Đầu t xác định và Bộ Thơng mại theo dõi, điều
hành. Mục tiêu đặt ra là hạn ngạch tăng mỗi năm từ 5%- 10% theo nguyên tắc
mở dần thị trờng của WTO.
3.3- Giảm bớt áp dụng về phụ thu
Trong những năm trớc, Việt Nam vẫn áp dụng phụ thu nh một biện pháp
bảo hộ nền sản xuất trong nớc. Để hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tuân thủ
các quy định của khối ASEAN và WTO, Việt Nam đã đề ra lịch trình bãi bỏ
phụ thu đối với một số mặt hàng công nghiệp chính.
Việc bãi bỏ phụ thu này sẽ khiến cho các ngành sản xuất phải tự mình

chế nhập khẩu nếu biết khéo léo vận dụng tiêu chí thích hợp hoặc cần thiết
của Hiệp định TBT.
Tơng tự việc sử dụng TBT, vận dụng tốt các biện pháp SPS trong thơng
mại cũng là một phơng thức hợp pháp và hiệu quả để bảo vệ sản xuất nông
nghiệp nói riêng cũng nh sức khỏe con ngời, động thực vật và môi trờng nói
chung. Muốn nh vậy, Việt Nam cần xây dựng hợp lý danh mục chi tiết các mặt
hàng phải kiểm tra SPS bắt buộc.
3.6- Tự vệ
Biện pháp tự vệ là một công cụ đợc WTO thừa nhận để hạn chế định lợng
hàng nhập khẩu trong một thời gian nhất định nhằm bảo vệ ngành sản xuất
trong nớc bị thiệt hại nghiêm trọng. Trên thực tế, Việt Nam đã áp dụng biện
pháp tự vệ để bảo vệ một số ngành sản xuất trong nớc nhằm tránh tổn thơng do
hàng nhập khẩu gia tăng lớn về số lợng.
3.7- Các biện pháp chống bán phá giá
Hiện tại, Việt Nam cha áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm
đối phó với hàng nhập khẩu bị bán phá giá vào thị trờng trong nớc. Tuy nhiên
13
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
13
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế việc xây dựng và áp dụng thuế chống
bán phá gía nhằm chống lại cạnh tranh không lành mạnh từ bên ngoài có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm duy trì môi trờng thơng mại, đầu t công bằng.
Tại thời điểm hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Pháp lệnh về chống bán
phá giá phù hợp với các nguyên tắc và qui định của WTO.
3.8- Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Một trong những công cụ WTO cho phép các nớc thành viên duy trì là
các hình thức trợ cấp không gây bóp méo thơng mại hoặc gây tổn hại đến lợi
ích của các nớc thành viên khác. Các hình thức trợ cấp trong Hiệp định SCM
chủ yếu liên quan đến các sản phẩm công nghiệp.

ở Việt Nam, vụ mùa cam bắt đầu từ tháng 8 đến cuối tháng 11. Vào chính mùa
cam (từ tháng 8 đến tháng 11), cam thu hoạch trong nớc nhiều, Việt Nam áp
dụng mức thuế suất nhập khẩu cho cam là 20%. Ngoài thời gian này, nhu cầu
tiêu thụ trong nớc vẫn lớn trong khi sản xuất không đủ đáp ứng đợc nhu cầu,
Việt Nam qui định mức thuế suất nhập khẩu cam là 0%.
Theo Hiệp định nông nghiệp, phải thuế hóa tất cả các hàng rào phi thuế
quan cho các sản phẩm nông nghiệp. Do đó, áp dụng thuế thời vụ vừa đáp ứng
đợc yêu cầu của Hiệp định vừa tăng tính linh hoạt của công cụ thuế cho mặt
hàng chịu thuế thời vụ.
3.10- Hạn ngạch thuế quan
Một công cụ phổ biến khác đợc dùng để hạn chế lợng hàng hóa nhập
khẩu là hạn ngạch thuế quan. Đây là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp
đối với lợng hàng nhập khẩu nằm trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất
cao hơn đối với lợng hàng nhập khẩu vợt quá hạn ngạch. Thực tiễn áp dụng trên
thế giới cho thấy hạn ngạch thuế quan là một đặc trng của thơng mại nông sản.
Việc sử dụng hạn ngạch thuế quan gắn với hai khái niệm tiếp cận hiện tại
và tiếp cận tối thiểu. Sau xóa bỏ các hàng rào phi thuế và chuyển chức năng bảo
hộ sang thuế quan (thuế hóa các biện pháp phi thuế) đối với một nông sản cụ
thể, các nớc thành viên WTO phải cam kết mở cửa thị trờng ở mức tiếp cận thị
trờng hiện tại cho sản phẩm đó. Mức này ít nhất phải tơng đơng với lợng nhập
khẩu trung bình của giai đoạn cơ sở 1986- 1989 tại mức thuế trớc khi thuế hóa.
Riêng đối với các nớc gia nhập sau giai đoạn cơ sở có thể là ba năm gần nhất
tuỳ theo thời đàm phán.
15
Nguyễn Thị Thu Phơng - F2 - K 37 Khoá Luận Tốt Nghiệp
15
Hàng rào phi thuế quan - các rào cản đối với thơng mại quốc tế
Đối với sản phẩm đã đợc thuế hóa nhng vì một lý do nào đó trớc đấy cha
có nhập khẩu thì áp dụng mức tiếp cận tối thiểu. Trong trờng hợp này, sản phẩm
đó đợc nhập khẩu với khối lợng ít nhất là 3% lợng tiêu dùng nội địa. Sau một

Trích đoạn DANH MụC HàNG HóA THUộC DIệN QUảN Lý CHUYÊN NGàNH CủA Bộ Y Tế DANH MụC HàNG HóA THUộC DIệN QUảN Lý CHUYÊN NGàNH CủA Bộ CÔNG NGHIệP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status