TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và
bố trí tái định cư của một số dự án trên địa bàn thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa
Sinh viên thực hiện
: Võ Thị Hường
Lớp
: Quản Lý Đất Đai 45.A
Thời gian thực hiện
: 05/01/2015 - 08/05/2015
Địa điểm thực hiện
: Trung tâm phát triển quỹ dất tỉnh Khánh Hòa
Giáo viên hướng dẫn : ThS.GVC Trần Văn Nguyện
Bộ môn
gia đình, bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ và hỗ trợ
về mọi mặt cho em trong suốt thời gian qua.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên nội
dung của đề tài không tránh khỏi những sai sót và
khiếm khuyết. Kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp
ý, chỉ dẫn của thầy, cô giáo và các bạn để đề tài của
em được hoàn thiện hơn.
Từ đáy lòng, một lần nữa em xin chân thành cảm
ơn những sự giúp đỡ quý báu đó. Em xin kính chúc
quý thầy giáo, cô giáo, các cô chú luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc và công tác tốt.
Huế, tháng 5 năm 2015.
Sinh viên
Võ Thị Hường
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1...................................................................................................................................................5
CP................................................................................................................................................5
Chính phủ....................................................................................................................................5
3...................................................................................................................................................5
NĐ...............................................................................................................................................5
Nghị định.....................................................................................................................................5
Tài nguyên và Môi trường..........................................................................................................5
6...................................................................................................................................................5
STT..............................................................................................................................................5
Số thứ tự......................................................................................................................................5
7...................................................................................................................................................5
KT-XH........................................................................................................................................5
Kinh tế - xã hội............................................................................................................................5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Thứ tự
Chữ viết tắt
1
2
CP
QĐ
3
4
NĐ
UBND
5
TN&MT
6
STT
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Dự án 1
Dự án Xây dựng khu tái định cư Hòn Rớ 2, xã
Phước Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
13
Dự án 2
Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư Đường
Đệ, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang
Hạng mục: tuyến kênh thoát lũ phía Tây (giai đoạn
2)
14
BTCT
12
Bêtông cốt thép
MỤC LỤC
1...................................................................................................................................................5
CP................................................................................................................................................5
Chính phủ....................................................................................................................................5
3...................................................................................................................................................5
NĐ...............................................................................................................................................5
đất sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất và vấn đề phát
sinh mâu thuẩn về quyền lợi sử dụng đất là một điều tất yếu phải xảy ra; đây là
vấn đề rất khó khăn của các cơ quan quản lý và nhà đầu tư khi dung hòa quyền
lợi sử dụng đất của các bên. Vấn đề này đang là vấn đề rất đáng quan tâm trong
giai đoạn hiện nay, khi nhà nước đang từng bước phát triển cả chất và lượng;
điều này đã được thể hiện rõ trong việc đưa các nội dung liên quan đến công tác
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vào các điều, khoản của Luật đất
đai năm 2013; đây chính là vấn đề thay đổi khác biệt cơ bản nhất giữa Luật đất
đai năm 2013 so với Luật đất đai năm 2003.
Thành phố Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam.
Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển đông, viên ngọc xanh vì giá trị
thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của nó. Ngày 22 tháng 4 năm 2009, Nha
Trang được Thủ tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 trực thuộc
tỉnh; đây là cơ hội và thách thức lớn cho việc quản lý sử dụng đất trên địa bàn
thành phố Nha Trang vì sẽ có rất nhiều các khu đô thị, khu trung tâm thương
mại dịch vụ, hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông sẽ được thay đổi để thích ứng
được với sự phát triển về kinh tế của thành phố Nha Trang. Thực tế sự thay đổi
và phát triển của thành phố Nha Trang từ năm 2009 đến nay đã có rất nhiều sự
biến chuyển đáng kể; đặc biệt là sự mọc lên của các Trung tâm thương mại, hệ
thống khách sạn, các khu đô đị, khu dân cư..
Nhận thức được sự thay đổi của việc phát triển kinh tế đang đặt lên vai các
nhà quản lý sử dụng đất và trực tiếp là công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
7
định cư; được sự phân công của Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông
nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS
GVC Trần Văn Nguyện, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá công tác
giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư của một số dự
+ Các tài sản khác gắn liền với đất đai
+ Các tài sản khác do pháp luật quy định
+ Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền đất đai kể cả các tài sản gắn liền nhà
ở, công trình xây dựng đó
Bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là loại
hàng hoá đặc biệt, tất cả những gì được tạo ra do sức lao động tạo ra do sức lao
động của con người gắn liền với đất đai như công trình xây dựng, mùa màng,
cây trồng… Tuy nó không thể di chuyển được nhưng có thể đem lại lợi ích cho
chủ sở hữu. Do đó, bất động sản có tầm quan trọng đối với hoạt động KT-XH.
Vì thế, việc định giá bất động sản để áp giá bồi thường cần quy định rõ ràng, cụ
thể để công tác BTHT & TĐC được đảm bảo chính xác.
* Giá đất:
Giá cả được xác định trên thị trường thể hiện bằng tiền và chính sự không
ổn định của đồng tiền dẫn đến giá cả không ổn định nên thường định giá theo
thời gian và giá cũng có giá trị theo thời gian.
Giá đất được xác định là cầu nối các mối quan hệ về đất đai – thị trường –
sự quản lý của Nhà nước. Hay nói cách khác, giá đất là công cụ kinh tế để người
quản lý và người sử dụng đất tiếp cận với cơ chế thị trường đồng thời cũng là
căn cứ để đánh giá sự công bằng trong phân phối đất đai để người sử dụng thực
hiện theo nghĩa vụ của mình và Nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai theo
quy hoạch sử dụng đất và pháp luật.
Giá đất là phương tiện thể hiện nội dung kinh tế của các quan hệ chủ quyền
sử dụng đất và là căn cứ tính toán giá trị thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất,
tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi và tính
thuế đất.[6]
9
Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời
điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01
thuận lợi phụ thuộc vào các chính sách bồi thường, tái định cư áp dụng trong dự
án có thỏa đáng không, có người được thu hồi chấp nhận không. Chính điều này
đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện dự án.
10
Việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư được
bắt đầu từ khi thành lập hội đồng giải phóng mặt bằng cho đến lúc bàn giao mặt
bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án.[1]
* Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất đã bị thu hồi cho người bị thu hồi. Giá trị quyền sử dụng đất khi
Nhà nước thu hồi có thể bồi thường bằng đất hoặc bằng tiền.
Bồi thường thiệt hại thực chất là quan hệ chuyển dịch đất đai đặc biệt,
trong đó người bị thu hồi đất không có nhu cầu chuyển nhượng đất đang sử
dụng, không có nhu cầu tái định cư.
Bồi thường thiệt hại có 2 loại đó là bồi thường thiệt hại về đất đai và bồi
thường thiệt hại về tài sản.[2]
Bồi thường thiệt hại về đất là việc trả bằng tiền hoặc đất tương ứng với
giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất theo quy định
của pháp luật.
Bồi thường thiệt hại về tài sản là việc trả bằng tiền có giá trị tương ứng với
tài sản bị thiệt hại khi thu hồi đất theo quy định của pháp luật bao gồm: nhà,
công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu, mồ mả, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật
gắn liền với đất đai bị thu hồi
* Bố trí tái định cư
Là việc sắp xếp bố trí, di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm ăn.
Bố trí tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước
thu hồi đất và trưng dụng đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
Tái định cư được biểu hiện là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất,
- Tính đa dạng
Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu vực nội thành,
mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn
đến quá trình giải phóng mặt dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt
động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại...quá
trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó. Còn đối với khu vực ngoại thành,
khu vực nông thôn hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông
nghiệp, đời sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp do đó GPMB cũng được tiến
hành với đặc điểm riêng biệt.[5]
- Tính phức tạp
Công tác bồi thường, GPMB, bồi thường và bố trí TĐC mang tính phức tạp
do trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, GPMB và bố trí tái định cư
phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật, phải thông qua nhiều cấp, ban ngành để
kiểm tra, thẩm định, phê duyệt, gặp khó khăn phức tạp trong việc xác định đối
tượng, điều kiện được bồi thường vì do nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau,
giấy tờ về nguồn sử dụng đất còn thiếu, chưa chính xác.[7]
12
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế làm cho giá đất ngày càng tăng,
giá cả trên thị trường không ngừng biến động và giá bồi thường ở mỗi thời điểm
là khác nhau. Bên cạnh đó dân số ngày càng tăng nên nhu cầu đất cần cho sự
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đường xá tăng lên, buộc nhà nước phải
thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển đó. Trong khi đó, trình độ dân trí
của người dân ở một số vùng còn thấp nền quá trình GPMB ở những vùng đó rất
phức tạp. Mặt khác, cây trồng và vật nuôi cũng đa dạng không tập trung thống
nhất một loại cây trồng, vật nuôi nhất định nên rất khó khăn cho công tác định
giá bồi thường cho người dân.
- Tính nhạy cảm
bồi thường được xác định theo giá thị trường được quy định cho từng khu vực
và chất lượng nhà, trên cơ sở điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, được nhà nước
tác động điều chỉnh tại thị trường đó. Đối với các dự án phải bồi thường GPMB,
kế hoạch TĐC chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án cùng với việc
dàn xếp kinh tế, khôi phục cho từng địa phương, từng hộ gia đình và từng người
bị ảnh hưởng.[4]
2.1.4.2. Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dời
dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào thành thị, thủ đô Xê-un đã phải đối mặt với
tình trạng thiếu đất trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập
cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận.
Việc bồi thường được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài
chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản
lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xê-un khoảng 5 km.[5]
2.1.4.3. Nhật Bản
Theo phân tích môi trường (TIBIC) thì việc giải tỏa được chia thành hai
cấp độ dự án và quốc gia. Ở cấp độ dự án thì việc thực hiện tuyên truyền thông
báo công khai. Sau đó lấy ý kiến của những người ảnh hưởng ngay từ đầu, có kế
hoạch khôi phục cuộc sống và trình bày rõ ràng cho họ hiểu. Tạo điều kiện cho
những người bị di dời đưa ý kiến vào các kế hoạch. Có cơ chế giải quyết các vấn
đề với sự tham gia của các bên trong suốt thời gian thực hiện dự án. Ở cấp độ
quốc gia thì ban hành khuôn khổ pháp lý cung cấp một cách thống nhất hướng
dẫn cho từng dự án. Vai trò của cơ quan bố trí TĐC, đặc biệt là chính quyền địa
phương rất quan trọng.
2.1.5. Chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định
cư của Việt Nam
2.1.5.1. Trước khi có Luật đất đai 1993
Luật đất đai năm 1998 ra đời dựa trên qui định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Tại khoản 4 Điều 48 quy định: ‘‘Bồi
cư. Luật đã xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước phải
thu hồi đất nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất, đồng thời khắc phục một
cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây
lãng phí, tạo nên dư luận xấu trong xã hội.
Điểm nổi bậc là luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của
người có đất thu hồi hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa loại ích
15
giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Luật
cũng đảm bảo quyền và lợi ích của những người sử dụng đất hợp pháp được cấp
giấy chứng nhận và bảo đảm thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Đồng thời
khắc phục một cách cơ bản những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất với việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng
giữa những người sử dụng đất và ổn định chính trị xã hội.
Để thực thi pháp luật đất đai 2003, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn
bản pháp luật liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, cụ thể như sau:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc
hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003.
- Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sử đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
không có giấy tờ hợp pháp hay hợp lệ, vì một số quyết định sai chính sách trong
thời gian qua. Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai,
nâng cao năng lực thể chế, ổn định pháp chế trong xã hội là những nội dung
quan trọng và cần thiết nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ đất đai. Đồng thời,
nó còn tác động rất lớn đối với việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư trong giai đoạn hiện nay.
2.2.2. Ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và bố trí tái
định cư đến kinh tế- xã hội
Đất nước đang có những bước phát triển toàn diện về kinh tế, an ninh, quốc
phòng. Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã và đang đạt được những
thành tựu quan trọng làm cho bộ mặt đất nước từ thành thị đến nông thôn thay
đổi từng ngày, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội nhanh chóng được cải thiện. Để đạt được những bước phát triển đó
công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC đóng vai trò rất quan trọng.
Trong những năm qua, công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC diễn ra
khá mạnh mẽ đã tác động trực tiếp đến cả ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội
của mỗi địa phương. Thông qua công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC sẽ mở
rộng không gian đô thị, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo
nguồn thu cho ngân sách địa phương và giải quyết việc làm cho người lao động.
Từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
17
Bên cạch đó, công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC đã làm thay đổi
toàn bộ đời sống kinh tế của người dân, các đặc trưng về văn hóa, hệ sinh thái
cũng bị ảnh hưởng. Trước áp lực ngày càng nhiều dự án gây tác động lớn về mặt
xã hội, môi trường, con người và hàng loạt các tệ nạn, tiêu cực xã hội phát sinh.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến ổn định, công bằng xã hội mà còn ảnh hưởng
đến sự phát triển của kinh tế địa phương.
Công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC góp phần phát triển kinh tế - xã
18
2.2.3. Thực trạng thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ
và bố trí tái định cư ở thành phố Nha Trang
Trước khi luật đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2014
thì công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố
Nha Trang được thực hiện theo các quy định của Luật đất đai năm 2003, các văn
bản nghị định, thông tư của chính phủ và các văn bản quy phạm của UBND tỉnh
Khánh Hòa liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
phù hợp với địa phương. Do đó, khi thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư phải căn cứ theo quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật của
nhiều cơ quan ban hành, dẫn đến sự chồng chéo giữa các quy định; đặc biệt là
khi Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
thì đã thay đổi, hủy bỏ một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ về quy định bổ sung việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai. Điều này đã gây những khó khăn không nhỏ cho chính quyền địa
phương khi triển khai thực hiện.
Hiện nay, Luật đất đai 2013 đã có hiệu lực thi hành. Điểm mạnh của luật là
đã đưa một số nội dung liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư vào trong luật; đồng thời hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật
đã cụ thể và trong luật cũng quy định rõ một số nội dung yêu cầu UBND tỉnh
phải ban hành thực hiện cho phù hợp với quy định tại mỗi tỉnh, đây là một yếu
tố thuận lợi trong việc triển khai thi hành luật. Trên cơ sở đó vừa qua UBND
tỉnh Khánh Hòa đã ban hành một số văn bản pháp luật theo thẩm quyền về công
tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:
- Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 21/12/2014 của UBND tỉnh
nhà nước cho người đang thuê. Đây là văn bản pháp luật củ và không sát với nội
dung bồi thường. Mặc dù hiện nay, việc xác định tỷ lệ chất lượng còn lại đã được
quy định cụ thể tại luật đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP của
Chính phủ; tuy nhiên ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ
thể hướng dẫn cách tính cụ thể để địa phương áp dụng khi xác định giá trị còn lại
của công trình, vật kiến trúc cho một số dự án đang triển khai.
Do đó, để công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được triển
khai nhanh chóng và đạt hiệu quả cao trên địa bàn thành phố Nha Trang trong
giai đoạn hiện nay thì cần có những biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn
cho cán bộ địa chính và quy định pháp luật cụ thể để thực thi một số điều luật.
20
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN
CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC của hai dự án trên địa
bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Các chính sách, nghị định, thông tư, công văn và các văn bản có liên quan
đến công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC của hai dự án trên địa bàn
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu 02 dự án trên địa bàn thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa.
+ Dự án 1: Xây dựng khu tái định cư Hòn Rớ 2 xã Phước Đồng, thành phố
Nha Trang.
+ Dự án 2: Xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư Đường Đệ, phường Vĩnh
Hòa, thành phố Nha Trang : tuyến kênh thoát lũ phía Tây (giai đoạn 2)
án 2 trên địa bàn thành phố Nha Trang.
3.3.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Trên cơ sở số liệu điều tra thu thập được, tiến hành rà soát lại các thông tin
đó để xử lý, phân tích, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Qua đó đánh giá,
nhận xét vấn đề một cách cụ thể và rõ ràng.
3.3.3. Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác giải phóng mặt
bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC để tìm ra nguyên nhân cũng như các giải
pháp và khó khăn trong thực tế.
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu, đánh giá điều kiện tự nhiên, KT - XH ảnh hưởng đến công tác
giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư.
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai của thành phố Nha Trang.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác giải phóng mặt bằng, bồi
thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư trên địa bàn thành phố Nha Trang.
- Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái
định cư trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong giải phóng mặt
22
bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Nha Trang
4.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Nha Trang là trung tâm hành chính - kinh tế - văn hoá – du lịch
– dịch vụ của tỉnh Khánh Hoà. Ranh giới Thành phố được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp thị xã Ninh Hoà.
Hòa. Nha Trang chịu sự chi phối chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa có ảnh
hưởng khí hậu Đại dương.
Những đặc trưng chủ yếu về khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ cao đều quanh
năm (250 C - 260 C), tổng tích ôn lớn (> 9.500 0 C), mưa phân mùa khá rõ ràng
(mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão. So với các tỉnh Duyên hải
Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi
để phát triển du lịch, nghỉ dưỡng.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 26,30C:
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 8.
+ Nhiệt độ cao tuyệt đối năm: 37,40C.
+ Nhiệt độ tối thấp vào các tháng 12, tháng 1 và 2 năm sau (15,8oC).
+ Tổng nhiệt độ năm khoảng 9.600 - 9.7000C và ít biển đổi.
- Nắng: Ở Nha Trang, tổng số giờ nắng trung bình một năm là 2.570 giờ,
trung bình một tháng có 214 giờ nắng. Về mùa khô, số giờ nắng cao hơn mùa
mưa, trung bình từ 220 – 280 giờ, mỗi ngày trung bình có từ 7 – 9 giờ nắng. Vào
mùa mưa, hàng tháng trung bình có từ 150 – 210 giờ nắng, mỗi ngày có trung
bình 5 – 7 giờ nắng.
- Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 79%. Tháng có độ ẩm cao nhất
là tháng 10 với 83%, độ ẩm thấp nhất trong năm là 33 %.
25