Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư của một số dự án trên địa bàn huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và
bố trí tái định cư của một số dự án trên địa bàn huyện Lệ Thủy,
tỉnh Quảng Bình

Sinh viên thực hiện

: Lê Thị Thanh

Lớp

: Quản Lý Đất Đai 45B

Thời gian thực hiện : 05/01/2015 - 08/05/2015
Địa điểm thực hiện

: Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Lệ Thủy

Giáo viên hướng dẫn : ThS.GVC Trần Văn Nguyện
Bộ môn

: Quy hoạch và Kinh tế đất


Kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn của
thầy, cô giáo và các bạn để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
2


Lê Thị Thanh

DANH MỤC CÁC BẢNG

3


DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

4


DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Thứ tự

Chữ viết tắt

1

CP


ĐVT

Đơn vị tính

8

GPMB

Giải phóng mặt bằng

9

BTHT

Bồi thường hỗ trợ

10

TĐC

Tái định cư

11

BT

Bồi thường

12

Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp- Thương mại
dịch vụ
Thông tư
Bộ tài nguyên môi trường

5


MỤC LỤC

6


PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của nhân loại, là cơ sở để sản xuất ra
của cải vật chất. Đất đai là hàng hóa đặc biệt có tính cố định về vị trí và không
thay đổi về số lượng và là yếu tố quan trọng có tác động mạnh mẽ đến đời sống
của con người.
Trong tình hình đất nước ta hiện nay, khi chấp nhận nền kinh tế thị trường
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cũng như quá trình ĐTH diễn ra mạnh mẽ. Đòi hỏi việc chuyển đổi mục đích sử
dụng đất để phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội. Do đó, hàng
loạt các công trình, dự án lần lượt được triển khai thực hiện, thì kéo theo đó là
công tác bồi thường GPMB là cần thiết vì nó là một trong những thành phần gắn
liền với tiến trình đi lên giàu mạnh của đất nước. Công tác này giải quyết các
vấn đề về quỹ đất để phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế, an ninh, quốc
phòng, giao thông, công trình phúc lợi, khu dân cư để đất nước không những
giàu mạnh mà an ninh chính trị còn được giữ vững, góp phần đưa Việt Nam hội

định cư trên địa bàn huyện Lệ Thủy, cũng như toàn tỉnh Quảng Bình.
Xuất phát từ lý do đó, được sự phân công của Khoa Tài Nguyên đất và
Môi Trường Nông Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Huế và sự hướng dẫn của
thầy giáo ThS. GVC Trần Văn Nguyện, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư
của một số dự án trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình’’
1.2. Mục đích của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư trên địa bàn huyện Lệ Thủy.
- Phân tích được tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất đến thu nhập và đời sống của người
dân có đất bị thu hồi ở huyện Lệ Thủy.
- Đánh giá việc thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ
trợ tái định cư tại một số dự án trên địa bàn huyện Lệ Thủy.
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải
phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Lệ
Thủy.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Phải nghiên cứu nắm vững chính sách, nghị định, thông tư, quyết định,
công văn cùng các văn bản khác có liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Các số liệu điều tra, thu thập phải mang tính khách quan, chính xác, trung
thực và đầy đủ.
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá được số liệu đã thu thập, điều tra chính xác.
- Các đề xuất, kiến nghị phải có tính khả thi.
8


PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU



2.1.1.3. Định giá đất
Định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị của quyền sử dụng đất
bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích sử dụng đất đã được xác định tại một
thời điểm xác định.
Định giá đất là cơ sở để Nhà nước xác lập các chính sách về đất đai, thuế,
tín dụng nhằm để tăng cường vai trò quản lý và điều tiết thị trường bất động sản
hoạt động tích cực, lành mạnh. Tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, tạo
điều kiện để thực hiện công bằng, hợp lý về quyền và nghĩa vụ đối với mọi
người sử dụng đất.
Thực hiện tốt công tác định giá đất đã góp phần điều chỉnh những quan hệ
trong quản lý và sử dụng đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất
nước, thu hút nguồn đầu tư nước ngoài và giải quyết được mục tiêu công bằng,
dân chủ trong xã hội. Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống giá đất thống nhất,
đồng bộ và sát với thực tế hơn là rất cần thiết để bồi thường và bố trí tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất [3].
2.1.1.4. Giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên
quan đến di dời nhà, các tài sản liên quan khác trên diện tích đất bị thu hồi để
thực hiện các dự án xây dựng mới một số công trình phục vụ cho mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Giải phóng mặt bằng được tiến hành nhanh hay chậm, thuận lợi hay
không thuận lợi phụ thuộc vào các chính sách bồi thường, tái định cư áp dụng
trong dự án có thỏa đáng không, có người được thu hồi chấp nhận không. Chính
điều này đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện dự án.
Việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư được
bắt đầu từ khi thành lập hội đồng giải phóng mặt bằng cho đến lúc bàn giao mặt
bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án [1].
2.1.1.5. Bồi thường thiệt hại

Tuy nhiên, để thực hiện tốt công việc này, đòi hỏi phải tổ chức công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng một cách chặt chẽ, hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo
tính công bằng, hợp lý, hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và người bị thu hồi
đất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người bị thu hồi đất sớm ổn định đời sống
sinh hoạt và sản xuất tại nơi ở mới.
Bên cạnh đó, một chế độ bồi thường đúng, hợp lý, hợp lòng người phải
được xây dựng theo khuôn mẫu chế độ trách nhiệm dân sự. Việc xác định mức
bồi thường phải dựa vào quy tắc chung về bồi thường thiệt hại, cần nhấn mạnh
rằng theo quy luật chung, thiệt hại được bồi thường không chỉ là những mất mát
về vật chất, mà còn cả những tổn thất về tinh thần hay người ta gọi nó là giá trị
vô hình và giá trị hữu hình. Tất cả những thiệt hại, một khi được chứng minh
đều phải được bồi thường thỏa đáng.
11


Trên cơ sở đó, Nhà nước ta đã xây dựng nên một hệ thống các văn bản
pháp luật về GPMB, bồi thường và TĐC tương đối hoàn chỉnh. Giá trị đất đai
không ngừng thay đổi theo thời gian nên chế độ chính sách về bồi thường cũng
không ngừng thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế góp phần giải quyết
những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường hỗ trợ giúp cho công tác
GPMB để tiến hành thực hiện các dự án nhanh và hiệu quả hơn.
2.1.3. Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố
trí tái định cư.
* Tính đa dạng
Mỗi một dự án được tiến hành trên những vùng lãnh thổ khác nhau với
điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khác nhau, trình độ dân trí và giá trị đất đai
khác nhau. Nên khung giá do Nhà nước ban hành để phục vụ cho công tác
GPMB, BTHT và bố trí TĐC cho mỗi vùng và mỗi dự án cũng khác nhau. Các
tài sản trên đất cũng mang tính đa dạng cao, không những đa dạng về mục đích
sử dụng mà còn đa dạng về hình thức sở hữu các tài sản đó. Tất cả các đặc điểm

thường cho người bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Vấn đề nhạy cảm
này cần được xử lý đúng mực, linh hoạt và khéo léo để hạn chế tình trạng người
dân khiếu nại, khiếu kiện, tạo được lòng tin trong nhân dân [1].
Từ những điểm trên cho thấy công tác GPMB, BT tại mỗi địa bàn khác
nhau có những đặc điểm khác nhau và phải có những phương án bồi thường
khác nhau sao cho phù hợp và thỏa đáng.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư
của một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Trung quốc
Xét về tổng thể, có thể thấy rằng Trung Quốc là một nước khá thành công
trong việc quản lý đất đai nói chung và việc thực hiện công tác bồi thường, tái định
cư nói riêng. Sở dĩ được như vậy là do Trung Quốc có một hệ thống pháp luật nói
chung và pháp luật đất đai nói riêng rất đầy đủ, chi tiết, đồng bộ, phù hợp với công
tác quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất. Cùng với một Nhà nước pháp quyền vững
chắc, người dân có ý thức chấp hành pháp luật nghiêm minh. Bên cạnh đó việc sử
dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước hoàn toàn cấm việc mua
bán chuyển nhượng đất đai. Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ
có thị trường nhà cửa.
Về bồi thường thiệt hại về đất đai: Do đất đai thuộc sở hữu Nhà nước nên
không có chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đai, kể cả đất
nông nghiệp. Tuỳ từng trường hợp cụ thể Nhà nước cấp đất mới cho các chủ sử
dụng bị thu hồi.
Về giá bồi thường thiệt hại: Giá bồi thường theo tiêu chuẩn giá thị trường.
Nhưng đồng thời được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà,
được điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với thực tế. Đối với đất nông nghiệp việc
13


bồi thường thiệt hại tính theo tính chất đất và loại đất.

14


2.2.1.3. Nhật Bản
Giải phóng mặt bằng được chia thành hai cấp độ dự án và quốc gia. Ở cấp
độ dự án thì việc thực hiện tuyên truyền thông báo công khai. Sau đó lấy ý kiến
của những người ảnh hưởng ngay từ đầu, có kế hoạch khôi phục cuộc sống và
trình bày rõ ràng cho họ hiểu. Tạo điều kiện cho những người bị di dời đưa ý
kiến vào các kế hoạch. Có cơ chế giải quyết các vấn đề với sự tham gia của các
bên trong suốt thời gian thực hiện dự án. Ở cấp độ quốc gia thì ban hành khuôn
khổ pháp lý cung cấp một cách thống nhất hưỡng dẫn cho từng dự án. Vai trò
của cơ quan tái định cư, đặc biệt là chính quyền địa phương rất quan trọng [11].
2.2.2. Chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư
của Việt Nam
2.2.2.1. Trước khi có luật đất đai 2003
Hiến pháp 1992 ra đời trên cơ sở thừa kế có chọn lọc Luật đất đai 1988
đánh dấu mốc quan trọng sự phát triển của nền kinh tế của nước ta. Từ đó tạo
tiền đề cho sự ra đời luật đất đai năm 1993 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm
1993, đây là văn kiện chính sách quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi
thường thiệt hại của Nhà nước. Tại điều 27 luật đất đai năm 1993 quy định:
“Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất đền
bù thiệt hại” [9].
Sau khi luật đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều
các văn bản dưới luật như:
- Nghị định 90/NĐ- CP ngày 17/09/1994 quy định về việc đền bù thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng.
- Nghị định 87/NĐ- CP ngày 17/08/1994 ban hành khung giá các loại đất.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998, thay thế Nghị định 90/CP

thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính Phủ về quy định bổ
sung về quy hoạch SDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Về Nghị định 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số
điều trong Nghị định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2006/NĐ-CP về một
số vấn đề cơ bản về quy hoạch SDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư. Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định 69/2009/NĐ-CP là đảm bảo
quyền và lợi ích của người SDĐ, thực hiện hài hòa ba lợi ích. Người SDĐ, nhà
đầu tư và quyền của nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/07/2014, cũng
có những điểm mới về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng; thực hiện dự án TĐC trước khi thu hồi đất.
16


Luật đất đai năm 2013 đã quy định cụ thể về 4 trường hợp Nhà nước thu
hồi đất gồm: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất để phát
triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp
luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt SDĐ theo pháp luật, tự nguyện và do có
nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Đặc biệt Luật đất đai 2013 lần này đã quy định theo hướng thu hẹp hơn các
trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng. Theo đó ngoài các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư, dự án được Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư các trường
hợp còn lại phải có xem xét về sự cần thiết phải thu hồi đất của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh.
Đối với các dự án đầu tư SDĐ không thuộc trường hợp Nhà nước thu
hồi đất mà phù hợp với quy hoạch SDĐ thì nhà đầu tư trong nước được nhận
chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê QSDĐ của tổ chức kinh tế, hộ gia đình,
cá nhân để có đất thực hiện dự án đầu tư như quy định hiện nay [12].

phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm
cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến
hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này không gây
trở ngại nhiều trong quá trình thực hiện.
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất
phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của nhà quản lý, hoạch định chính
sách, của chính quyền địa phương được nâng lên. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực
để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và
có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo, sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu
tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả.
2.2.4. Ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và bố trí tái định
cư đến kinh tế- xã hội
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì đất nước ta đã và
đang đạt được những thành tựu quan trọng làm thay đổi từng ngày bộ mặt đất
nước từ thành thị đến nông thôn, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống của nhân
dân và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Để đạt được những bước phát
triển đó thì công tác bồi thường, hỗ trợ đóng vai trò rất quan trọng.
Trong những năm qua, công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC diễn ra
khá mạnh mẽ đã tác động trực tiếp đến cả ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội
của mỗi địa phương. Thông qua công tác bồi thường, hỗ trợ sẽ mở rộng không
gian đô thị, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo nguồn thu
cho ngân sách địa phương và giải quyết việc làm cho người lao động. Từ đó
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

18


Bên cạnh đó, công tác bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC đã làm thay đổi

dân. Đào tạo nghề cho lao động địa phương bị mất đất sản xuất nông nghiệp
chưa được tiến hành kịp thời. Nó đòi hỏi các cơ quan thực thi công tác bồi
thường, hỗ trợ và bố trí TĐC không ngừng nổ lực tìm ra các giải pháp để giải
quyết những tồn tại nói trên, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế - xã hội.
19


Vì vậy, công tác bồi thường và hỗ trợ và bố trí TĐC phải được tiến hành
đồng thời với việc thiết lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nhằm đảm bảo đời
sống của người dân trong vùng giải tỏa ổn định lâu dài và bền vững.
2.2.5. Thực trạng thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và
bố trí tái định cư ở huyện Lệ Thủy
Được sự quan tâm, đôn đốc, chỉ đạo thường xuyên của UBND tỉnh, cùng
với sự phối hợp và vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao của các sở, ban,
ngành cấp tỉnh, sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp, trong những
năm qua huyện Lệ Thủy đã thực hiện khá tốt công tác GPMB, bồi thường, hỗ
trợ và bố trí TĐC tạo nên những bước đột phá, nhiều điểm nhấn quan trọng góp
phần chỉnh trang diện mạo đô thị, đồng thời đưa huyện vươn cao, vươn xa hơn
trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật
công tác GPMB được sự thống nhất cao của các ban ngành, ở các địa phương
thôn xóm đều ủng hộ, trong công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC được
công khai dân chủ, ít xảy ra khiếu nại, khiếu kiện. UBND tỉnh đã từng bước xây
dựng và hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC ngày càng thông
thoáng và sát với tình hình thực tế đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân,
đảm bảo hài hòa mối quan hệ về quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân - Nhà nước nhà đầu tư.
Về TĐC chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, vẫn chưa giải quyết tốt đến đời
sống, việc làm của người dân. Cơ sở hạ tầng tuy đã đáp ứng cho nhu cầu của
người dân nhưng thiếu tính đồng bộ, nhiều dự án được triển khai nhưng chưa có
khu TĐC, ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của người dân.

phận nhân dân nên đáp ứng được yêu cầu mặt bằng cho các dự án triển khai kịp
thời. Thực tế vừa qua trên địa bàn huyện cho thấy nhiều dự án thực hiện một
cách nhanh chóng: đã làm thay đổi bộ mặt đô thị theo hướng hiện đại và văn
minh cho tỉnh và huyện.

21


PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Các văn bản Luật và văn bản dưới Luật có liên quan đến công tác giải
phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Lệ Thủy,
tỉnh Quảng Bình.
- Các đối tượng nằm trong vùng ảnh hưởng của dự án giải phóng mặt bằng,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi không gian
Chọn 2 dự án thuộc vùng nghiên cứu là huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Dự án 1: Đầu tư xây dựng công trình mở rộng Quốc lộ 1A đoạn qua Khu
vực Đông Thượng xã Sen Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Dự án 2: Xây dựng điểm dân cư thôn Ninh Lộc, xã Hoa Thủy, huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình.
3.2.2. Phạm vi thời gian
- Thời gian sử dụng số liệu: năm 2010 – 2014
- Thời gian thực tập: 05/01/2015 đến 08/05/2015
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

và kiểm kê tài sản của người dân để đưa ra các phương pháp chính xác nhất.
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Đánh giá tình hình công tác quản lý và sử dụng đất đai.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác giải phóng mặt bằng, bồi
thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư trên địa bàn huyện Lệ Thủy.
- Đánh giá công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại hai dự án
trên địa bàn huyện Lệ Thủy.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong giải phóng mặt
bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư.
23


PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lệ Thủy
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Lệ Thủy là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình, có diện tích tự nhiên
141.611,41 ha, có toạ độ địa lý: 106º25’-106º59’ kinh Đông; 16º55’-17º22’ vĩ Bắc.
- Phía Bắc giáp huyện Quảng Ninh.
- Phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị.
- Phía Đông giáp biển Đông.
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào.

Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Huyện Lệ Thủy có tổng diện tích tự nhiên của huyện là 141.611,41 ha,
chiếm 17,56% diện tích toàn tỉnh và được phân chia thành 28 đơn vị hành chính
gồm 26 xã và 2 thị trấn, với dân số 141.787 người.

hình thành bởi phù sa của sông Kiến Giang và các con sông khác bổ sung
nguồn nước như: An Mã, Rào Ngò, Mỹ Đức, Phú Kỳ, Thạch Bàn... đảm bảo
tưới tiêu, phù sa cho ruộng lúa nước. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính
của huyện, hàng năm cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm cho
nhân dân. Địa hình này khá thuận lợi cho giao thông cũng như sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status