Mặc định đánh giá tình hình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư của một số dự án trên địa bàn huyện bình sơn, tỉnh quảng ngãi - Pdf 12

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là nền tảng cho mọi quá
trình sản xuất hoạt động thông qua đó thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH của
đất nước. Trong quá trình sản xuất, đất đai là nhân tố hàng đầu không thể thiếu
của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, đất đai còn là cơ sở để các
ngành, các lĩnh vực hoạt động có hiệu quả .
Trong tình hình đất nước ta hiện nay, khi chấp nhận nền kinh tế thị trường
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
cũng như quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Các quá trình này đã kéo theo
việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng
cao của xã hội. Do đó, hàng loạt các công trình, dự án lần lượt được triển khai
thực hiện ra đời, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải
phóng mặt bằng diễn ra mạnh mẽ và sôi nổi.
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lợi đều
hướng vào nhân dân. Vì vậy, công tác giải phóng mặt bằng là một công việc hết
sức phức tạp và nhạy cảm. Nó không những ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà
nước, các chủ đầu tư dự án mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần
của người dân bị thu hồi đất và khu vực xung quanh. Chính vì lẽ đó, việc điều
tra, tìm hiểu và đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để phục vụ
cho công tác giải phóng mặt bằng là rất cần thiết nhằm tìm ra những tồn tại,
vướng mắc cần được giải quyết kịp thời. Để từ đó, chúng ta đưa ra các giải pháp
khắc phục góp phần hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng và củng cố lòng
tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, vào chính quyền các cấp làm cho công
tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Bình Sơn là một huyện thuộc đồng bằng ven biển, với tổng diện tích tự
nhiên là 46.677,29 ha. Hiện nay, trên địa bàn xã có triển khai nhiều dự án
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Để triển khai được dự án, công tác
giải phóng mặt bằng là điều không thể thiếu. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá tình hình thực hiện công tác bồi

phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm [11]. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho
người bị thu hồi đất [9]. Có 2 loại bồi thường: Bồi thường về đất và bồi thường
về tài sản.
Bồi thường về đất là bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước
thu hồi theo nguyên tắc diện tích đất bị thu hồi bao nhiêu thì đền bù bấy nhiêu.
Diện tích đất bồi thường là diện tích đất hợp pháp được xác định lại trên thực
địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng chủ sử dụng đất.
Bồi thường về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào
đất bị Nhà nước thu hồi gồm: Nhà, các công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa
màu, mồ mã, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất đai bị thu hồi.
2.1.1.2. Giải phóng mặt bằng:
Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện việc di dời tài sản gắn
liền với đất trên diện tích đất bị thu hồi để bàn giao lại mặt bằng cho chủ đầu tư
thực hiện dự án. Tiến độ thực hiện GPMB nhanh hay chậm phụ thuộc vào chính
sách BTHT & TĐC công tác quản lý Nhà nước về đất đai của địa phương, kinh
phí đầu tư dự án, thời tiết và sự đồng tình ủng hộ của người bị thu hồi đất.
GPMB cũng đồng nghĩa với việc ảnh hưởng trực tiếp và có tính quyết định tới
sự thành công hay thất bại của dự án.
2.1.1.3. Giá đất
Giá đất được xác định là cầu nối các mối quan hệ về đất đai-thị trường-sự
quản lý của Nhà nước. Nhà nước điều tiết quản lý đất đai qua giá hay nói một
3
cách khác giá đất là công cụ kinh tế để người quản lý và người sử dụng đất tiếp
cận với cơ chế thị trường. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để đánh giá sự công
bằng trong phân phối đất đai, để người sử dụng đất thực hiện theo nghĩa vụ của
mình và Nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai theo quy hoạch sử dụng và
pháp luật [13].

Trường hợp giá đất do UBND tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường,
UBND tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để quyết định
giá đất tính bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung
giá các loại đất [1].
2.1.1.6. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu
hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời
đến địa điểm mới [9].
Bao gồm các loại hỗ trợ sau: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với
trường hợp thu hồi đất ở, hỗ trợ ổn định cuộc sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo
chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; hỗ
trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn, ao không được công
nhận là đất ở [3].
2.1.1.7. Tái định cư
Tái định cư là quá trình thiết lập lại cuộc sống cho người bị thu hồi đất
phải di chuyển chỗ ở đến nơi ở mới ổn định cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Khu TĐC là địa bàn được quy hoạch để bố trí các điểm TĐC, hệ thống cơ
sở hạ tầng, công trình công cộng và khu vực sản xuất. Trong khu TĐC có ít nhất
một điểm TĐC [12].
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật
mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
+ Bồi thường bằng nhà ở
+ Bồi thường bằng giao đất ở mới
+ Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới
2.1.2. Bản chất của công tác bồi thường GPMB
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong quá trình triển khai công nghiệp hoá
– hiện đại hoá đất nước, nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã
hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, hiện đại hóa lực lượng quốc phòng và an ninh

nông nghiệp mà đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ của
người dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp không cao. Vì vậy mà công
tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn, việc hỗ
trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều kiện cần thiết để đảm bảo cuộc sống dân cư
sau này. Mặt khác cây trồng, vật nuôi ở vùng nông thôn cũng rất đa dạng, do
vậy đã gây khó khăn cho công tác định giá bồi thường.
6
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của
người dân mà còn có tập quán là ngại di chuyển chỗ ở.
+ Nguồn gốc hình thành đất đai hác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và do
cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà
trái phép diễn ra thường xuyên.
+ Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám
vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến
ở khu vực mới thì điều kiện sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
2.1.3.3.Tính nhạy cảm
Công tác bồi thường, GPMB, và bố trí TĐC liên quan trực tiếp đến quyền
lợi của nhiều bên, đó la: Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Trong đó
quyền lợi của người bị thu hồi đất phải được đặt lên hàng đầu. Người bị thu hồi
đất phải chịu thiệt thòi, đó là họ phải chấp nhận đến nơi ở mới hoàn toàn xa lạ
với bản thân, cuộc sống, công việc bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đòi hỏi phải có
thời gian để thích nghi với nơi ở mới Vì vậy, nếu công tác bồi thường, GPMB
và bố trí TĐC thực hiện không công bằng, kiểm định áp giá sai sẽ dẫn đến việc
khiếu kiện của người dân. Vấn đề nhạy cảm này đòi hỏi cơ quan Nhà nước phải
quan tâm, xử lý thật linh hoạt và khéo léo thông qua việc ban hành các văn bản
pháp luật hướng dẫn thật đầy đủ, cụ thể để các cơ quan chuyên trách dễ dàng
trong việc tổ chức thực hiện, hạn chế được các sai sót. Có như vậy mới tạo được
lòng tin trong nhân dân, công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC diễn ra
thuận lợi góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án, quá trình phát triển kinh tế - xã

tài chính và vật chất cho việc di dân luôn được chuẩn bị sẵn.
2.2.1.2. Chính sách bồi thường GPMB một số nước trên thế giới
Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực cơ bản,
quan trọng nhất của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, nhiều nước
trên thế giới cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về
đất đai trong đó có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và TĐC của cơ quan quản
lý Nhà nước. Dưới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước trên
thế giới phần nào giúp ích cho chính sách bồi thường GPMB ở nước ta.
* Hàn Quốc:
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ
ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng
thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập
cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cạn.
Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài
chính, cho quyền mua căc hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do nhà nước quản
lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5km. Khi
thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán
8
lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc.
* Trung Quốc:
Có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách đền bù, hỗ trợ, TĐC là hạn
chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng cũng như số lượng người
bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu
hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù,
trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo
cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so
với trước khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì
người nào sử dụng đất sau đó có trách nhiệm đền bù. Người bị thu hồi đất

2.2.2. Chính sách bồi thường,GPMB và bố trí TĐC của Nhà nước ta qua
các thời kỳ
2.2.2.1. Trước khi có Luật đất đai 2003
Trước khi có Luật đất đai 2003, Nhà nước ta từng ban hành Luật Cải
cách ruộng đất năm 1953, ngày 14 tháng 4 năm 1959 Thủ tướng Chính phủ
ban hành Nghị định 151 – TTg quy định về thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng
đất. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên liên quan đến bồi thường và bố trí TĐC
ở nước ta. Sau đó lần lược Luật đất đai 1988, Luật đất đai 1993 được ban
hành. Luật đất đai 1993 sau những lần sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001 đã
thay thế cho Luật đất đai 1998.
Luật đất đai năm 1993 quy định các loại đất, các nguyên tắc sử dụng đối
với từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Sau khi Luật đất đai năm 1994 ra đời, Nhà nước ban hành nhiều văn bản
dưới luật như:
+ Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước
thu hồi đất vào sử dụng mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia và lợi
ích công cộng.
+ Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 về ban hành khung giá các loại đất.
+ Thông tư liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 về hướng dẫn thi hành
Nghị định 87/CP.
+ Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/02/1998 về bồi thường thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng. Vấn đề định giá và công tác thực hiện bồi thường thiệt
hại cho người dân khi GPMB trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP có ưu điểm và
hạn chế sau:
* Ưu điểm:
+ Thể hiện thống nhất chính sách bồi thường thiệt hại cho mọi trường hợp
10
bị Nhà nước thu hồi đất.
+ Quy định về giá đất, giá tài sản bồi thường phù hợp hơn với giá trị thiệt

biệt là với những nội dung về thu hồi đất phục vụ lợi ích công cộng và bồi
thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
11
Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, sau khi Luật Đất đai
năm 2003 ra đời, các Nghị định, Thông tư được ban hành nhằm cụ thể hoá các
điều luật về BTHT & TĐC như:
+ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003.
+ Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
+ Nghị định số 197/ 2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về BTHT & TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
+ Thông tư 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài Chính thay thế thông tư số
145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi
hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ về
việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thi hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
+ Nghị định 17/2006/NÐ-CP ngày 27 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
+ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục BTHT & TĐC khi Nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
+ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên
và Môi trường.
+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, BTHT & TĐC.
+ Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về BTHT & TĐC và trình tự, thủ tục

trí TĐC ở nước ta.
2.2.3.1. Những thành tựu đạt được:
Công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC ở nước ta diễn ra rất sôi nổi ở
khắp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như Đồng Nai, Bình Dương,
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Trên cơ sở Luật đất đai 2003, Nghị định 197,
Nghị định 84 và mới nhất là Nghị định 69/2009 của UBND các tỉnh, thành phố
đã ban hành các quyết định hướng dẫn thực hiện chi tiết công tác bồi thường,
GPMB và bố
trí TĐC.
Công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC trong thời gian qua đã đạt
13
được kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, TĐC ngày càng được xác định
đầy đủ, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công
tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận bồi thường
cũng thấy thỏa đáng.
Thứ hai,
mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người
dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ
trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới
của Đảng và Nhà nước nhằm
Thứ
giúp cho người dân ổn định về đời sống
và sản xuất.
Thứ ba,
trình tự thủ tục tiến hành BTHT & TĐC đã giải quyết được
nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện công tác BTHT & TĐC đạt hiệu quả.
Thứ tư,
các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất

chung quanh dự án, công trình đang triển khai (đặc biệt là các dự án, công
trình mở rộng đường giao thông thuộc khu dân cư); có người đang sử dụng
đất ở vị trí thuận lợi ,ví dụ giáp mặt đường, nay bị thu hồi toàn bộ đất phải
TĐC ở nơi khác, có người đang sử dụng đất ở vị trí không thuận lợi nay ngẫu
nhiên được ở vị trí thuận lợi và đương nhiên nhận được giá trị tăng thêm của
quyền sử dụng đất do dự án, công trình đó mang lại.
Thứ năm, Nhà nước không chỉ thu hồi đất để thực hiện các dự án, công
trình lớn để phát triển kinh tế phục vụ lợi ích quốc gia mà thực hiện thu hồi đất
cho cả những dự án nhỏ, lẻ phục vụ thuần túy cho lợi ích kinh tế của doanh
nghiệp; việc thu hồi đất cho các dự án loại nhỏ lẻ dễ gây cho người có đất bị thu
hồi ấn tượng xấu.
2.2.4. Tình hình thực hiện công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC trên
địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Công tác bồi thường, GPMB là công việc nhạy cảm, phức tạp và khó
khăn. Vấn đề đặt ra làm sao để cân bằng lợi ích giữa Người dân – Nhà nước –
Doanh nghiệp đầu tư. Đây là công việc vừa đòi hỏi theo nguyên tắc nhưng cũng
đòi hỏi tính linh hoạt, mỗi dự án có một điều kiện khác nhau có các yếu tố cụ thể
khác nhau mà không theo khuôn mẫu nhất định.
Các chính sách về bồi thường, tái định cư của UBND tỉnh Quảng Ngãi
thực hiện chung trên địa bàn tỉnh, không có chính sách đặc thù riêng cho huyện
Bình Sơn. Vì vậy, xây dựng chế độ chính sách bồi thường, tái định cư cho huyện
cũng là xây dựng chế độ chính sách của tỉnh.
15
Sau khi có Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Thông tư số
116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành quyết định
số 34/2005/QĐ-UB ngày 27/5/2005 về bồi thường, GPMB và bố trí TĐC khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở các quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi

- Dự án 2: Xây dựng tuyến đường Võ Văn Kiệt, đoạn qua xã Bình Hòa,
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
3.2.2. Phạm vi thời gian:
Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 01/7/2012 đến 03/11/20112.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm và đánh giá về điều kiện tự nhiên, KT – XH
ảnh hưởng đến công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC.
- Nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng công tác bồi thường, GPMB và bố trí
TĐC trên địa bàn huyện Bình Sơn.
- Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao và hoàn thiện công tác bồi
thường, GPMB và bố trí TĐC.
3.4. Phương pháp nhiên cứu
17
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu và tài liệu:
- Thu thập tài liệu các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi
thường, GPMB và hỗ trợ TĐC.
- Tìm hiểu thực trạng các dự án trong phạm vi đề tài.
3.4.2. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
- Tham khảo các ý kiến của chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan
đến các vấn đề của dự án.
3.4.3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Tìm hiểu nguyên nhân trong công tác bồi thường thiệt hại bằng cách
phỏng vấn trực tiếp hoặc thông qua phiếu điều tra đối với các hộ dân bị ảnh
hưởng, Ban quản lý dự án, Hội đồng bồi thường GPMB.
3.4.4. Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu
Dùng phần mềm Exell để tổng hợp số liệu, phân tích và sử lí số liệu.
18
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Bình Sơn

. Ngoài sản xuất lương thực còn có thế mạnh là phát triển
lâm nghiệp, công nghiệp đặc biệt là cây cao su.
- Vùng đồng bằng diện tích 14.777ha có độ cao từ 1-10m. Đây là vùng
kinh tế chủ yếu của huyện đã cơ bản giải quyết xong nguồn nước tưới thuận lợi
cho việc trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày.
- Vùng gò đồi phía đông diện tích 19.300 ha có độ cao từ 30-60m độ dốc
bình quân từ 8-15
o
đây là vùng đất thường bị khô hạn vào mùa khô, diện tích
19
trồng lúa ít, chủ yếu là các loại cây màu và trồng cây lâm nghiệp như: bạch đàn,
phi lao, keo Địa hình bờ biển có các dạng mũi đất hoặc cửa sông, dạng nũi đất
có bờ nhô ra biển, các dãy đồi cận bờ có độ cao từ 30-50m nhiều nơi lộ ra những
dãi đá ngầm, san hô, đá ong
4.1.1.3. Thời tiết, khí hậu
Bình Sơn mang đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với yếu tố địa hình
sườn Đông trường Sơn chi phối. Đặc điểm khí hậu của huyện thể hiện rõ hai
mùa: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8 ; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1.
- Nhiệt độ: Với tổng diện tích ôn hàng năm 9000-9500
o
C số giờ nắng
trung bình cả năm là 2343 giờ.
Nhiệt độ bình quân hàng năm 25,7
o
C
Nhiệt độ tối cao 41,0
o
C
Nhiệt độ tối thấp 41,0
o

nước đấu tranh cách mạng của nhân dân qua bao thế hệ. Mãnh đất thân yêu này
đã sản sinh và nuôi dưỡng nên nhiều người con ưu tứ viết lên những trang sử
rạng rỡ cho quê hương và nơi đây cũng là cái nôi cho phong trào đấu tranh và
hình thành các tổ chức cách mạng, là tiền thân cho sự ra đời của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Bình Sơn
4.1.2.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Ngành Nông – Lâm - Ngư nghiệp
Trong cơ cấu kinh tế huyện Bình Sơn năm 2010, ngành nông nghiệp vẫn
chiếm tỷ trộng tương đối cao tuy đã có sự chuyển dịch ngành nông nghiệp sang
công nghiệp – xây dựng.
Theo thống kê năm 2010, tỷ trọng ngành nông nghiệp so với năm 2009
giảm 3,56%. Đó là do phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy
sản ở các xã Bình Hải, Bình Thuận, Bình Đông, Bình Trị, Bình Hòa đã được
thu hồi phục vụ cho việc xấy dựng các khu công nghiệp tại địa phương, thực
hiện định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đó là cơ bản trở thành
huyện công nghiệp vào năm 2012. Huyện Bình Sơn đã đẩy mạnh việc thu hút
các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung ở các ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, du lịch và dịch vụ.
- Đối với sản xuất nông nghiệp
Trong năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 364,500 tỷ đồng vượt
114,538 tỷ đồng so với năm 2009. Trong đó ngành trồng trọt đạt giá trị 219,835 tỷ
đồng, chăn nuôi đạt 120 tỷ đồng. Khắc phục việc mất đất do Nhà nước thu hồi, để
sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển bền vững đảm bảo lương thực cho địa phương
huyện đã có kế hoạch chuyển đổi, đầu tư, cải tạo đưa một phần diện tích đất bằng
chưa sử dụng vào sản xuất. Đồng thời chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp
theo chiều sâu, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm.
21
Bảng 01: Giá trị sản lượng một số loại cây trồng chính trên địa bàn
huyện giai đoạn 2008 – 2010

22
trại so với năm 2009. Qua bảng 02 cho thấy mặc dù diện tích nuôi tôm năm 2010
giảm 179,5 ha so với năm nhưng năng suất lại tăng cao, đạt 16,84 tạ/ha.
Bảng 02: Diện tích – Năng suất – Sản lượng nuôi tôm nước lợ từ năm
2007 đến năm 2010 huyện Bình Sơn
Năm Diện tích (ha) Năng suất (Tạ/ha) Sản lượng (Tấn)
2007 1526,00 10,05 1730
2008 1516,00 10,50 1797
2009 1504,00 9,45 1460
2010 1325,50 16,84 2079
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Sơn năm 2010)
Đây là những cơ sở đảm bảo cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành
thủy sản, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế - xã hộ địa phương.
*Ngành Thương mại - Dịch vụ:
Hoạt động thương mại – dịch vụ có bước phát triển. Tổng mức lưu
chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ trên thị trường trong năm ước đạt 18,5 tỷ
đồng (đạt 101% KH). Doanh số mua vào đạt 14 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm
2009 tăng 11%. Doanh số bán ra đạt 15,4 tỷ đồng, so với cung kỳ tăng 39%.
Các hàng hóa phục vụ sản xuất như: Phân hóa học, thuốc trừ sâu, xăng
dầu; hàng hóa chính sách như: Muối Iôt, dầu hỏa và giấy vở học sinh đã
cung ứng đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng.
Bảng 03: Các giá trị sản xuất ngành Thương mại – Dịch vụ
TT Chỉ tiêu ĐVT 2009 2010
1 Số lao động tiểu thương và dịch vụ Hộ 566 587
2 Số hộ tiểu thương và dịch vụ tư nhân Người 452 493
3 Số chợ có trong huyện Chợ 9 9
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm
2010)
* Ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng cơ bản:
Lập quy hoạch khu công nghiệp Dung Quất. Nhiều doanh nghiệp tư

đường rộng từ 3,5 – 4 m và hơn 70 km đường thôn rộng từ 2,5 – 3 m. Tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và giao lưu hàng hóa giữa
các vùng của nhân dân.
* Bưu chính, Viễn thông, truyền thanh – truyền hình:
Mạng lưới thông tin phát triển mạnh. Tổng số thuê bao toàn huyện
24
hơn 9.536 máy.
Công tác chuyển nhận, phát thư từ, công văn, báo chí thực hiện đầy
đủ, kịp thời, chính xác, chất lượng phục vụ được nâng lên. Nhiều xã đã
khai thác, sử dụng dịch vụ Internet phục vụ phát triển kinh tế - xã hội như:
Bình Long, Bình Hòa, Bình Chánh, Bình Trị
Chất lượng phát sóng phát thanh, truyền hình ổn định. Duy trì tiếp
phát chương trình truyền hình tại 9 trạm trên địa bàn. Nội dung phát thanh,
truyền hình phong phú, bám sát nhiệm vụ chính trị của huyện.
*Cấp thoát nước và xử lý rát thải:
Năm 2010 đã xây dựng được thêm 16 công trình thủy lợi, 18 công trình
nước sinh hoạt tự chảy phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp và sinh
hoạt của nhân dân, đưa tỷ lệ số dân được sử dụng nước sinh hoạt toàn huyện
đạt 90,2%.
Chương trình nước sạch và công tác vệ sinh môi trường được quan tâm.
Tuy nhiên ở hầu hết các xã đều còn thiếu các khu xử lý rác thải, hệ thống thoát
nước thải chưa được quy hoach và xây dựng tốt và hợp lý Ảnh hưởng không
tốt tới môi trường sống của cộng đồng dân cư.
4.1.2.3. Thực trạng phát triển của xã hội:
* Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:
Dân số là một vấn dề đặc biệt quan trọng, thể hiện tiềm năng phát triển
của mỗi địa phương. Dân số trung bình năm 2010 của huyện Bình Sơn là
125.546 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,192%. Dân cư phân bố không đều,
mật độ thưa thớt, chênh lệch lớn giữa các khu vực; có những xã mật độ dân số
trên đưới 1.000 người/km như thị trấn Châu Ổ, xã Bình Châu, Bình Thới; có xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status