TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Tên đề tài: “Nghiên cứu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía
nguyên liệu tại xã Sơn Hội - huyện Sơn Hòa - tỉnh Phú Yên”
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Đinh Thị Kim Oanh
Sinh viên thực hiện : La Thanh Huấn
Lớp : Phát triển nông thôn 45
Ngành công nghiệp mía đường huyện Sơn Hòa có tiềm năng rất lớn Sơn
Hòa là một trong những huyện có diện tích, năng suất mía và sản lượng lớn nhất
trong tỉnh.
Để phát triển cây mía và phát triển ngành công nghiệp mía đường thì việc
cũng cố và tăng cường mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp là hết sức
cần thiết. Tuy nhiên hiện nay mối liên kết của ngành mía đường của huyện còn
nhiều hạn chế, tỷ lệ nông dân hoặc Doanh nghiệp phá hủy hợp đồng còn cao.
Vừa làm cho sản xuất đình đốn, nông dân không bán được nông sản, giá bán
không ổn định (được mùa nhưng mất giá), vừa làm cho các doanh nghiệp thiếu
nguyên liệu chế biến trong khi đã ký hợp đồng giao sản phẩm cho các đối tác,
gây thiệt hại không nhỏ cho cả nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà nước.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu tại xã Sơn
Hội - huyện Sơn Hòa - tỉnh Phú Yên”.
Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu chính là: Tìm hiểu đặc điểm
sản xuất mía nguyên liệu tại xã Sơn Hội huyện Sơn Hòa và tìm hiểu thực trạng
và phân tích hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu tại xã
Sơn Hội, huyện Sơn Hòa.
Nội dung trọng tâm của nghiên cứu hướng tới về lợi ích của nông hộ, tìm
hiểu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu, kênh phân
phối, tiêu thụ nguồn mía nguyên liệu và đánh giá mức độ hoạt động liên kết của
sản xuất và tiêu thụ của các tác nhân .
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp để tìm hiểu
đặc điểm sản xuất, thực trạng hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ mía nguyên
liệu trên địa bàn xã Sơn Hội thông qua các báo cáo của xã. Phương pháp thu
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Kim Oanh
La Thanh Huấn
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết đề tài
Liên kết trong sản xuất nông nghiệp là đề tài không mới nhưng cho đến nay
vẫn được nhiều người quan tâm. Bởi liên kết được kỳ vọng giúp các tác nhân
phối hợp nhịp nhàng từ khâu cung ứng đầu vào cho sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm đầu ra, hạn chế và khắc phục những bất lợi của tự nhiên, tăng tính cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường, ổn định sản xuất tránh tình trạng được mùa
mất giá, bị ép giá. Tuy nhiên tình trạng mạnh ai nấy làm, nông dân hoặc doanh
nghiệp dễ dàng phá vỡ hợp đồng, tình trạng tranh mua tranh bán diễn ra vẫn khá
phổ biến.
Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về khuyến khích
tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng được triển khai từ năm 2002 (mới được
thay thế bằng Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg) nhưng đến nay việc tiêu thụ
hàng hóa thông qua hợp đồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn[11].Theo thống kê
của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, sau 10 năm thực hiện Quyết
định 80/2002/QÐ-TTg và Chỉ thị 25/2008/CT-TTg, tỷ lệ nông sản hàng hóa tiêu
thụ thông qua hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân vẫn ở mức rất thấp. Ðến
nay, tiêu thụ qua hợp đồng của lúa chỉ đạt 2,1%, chè 9%, cà-phê 2,5%, rau quả
0,9%, thủy sản 13%, gỗ 16,7%... Chỉ vài lĩnh vực đạt tỷ lệ cao như trồng và tiêu
thụ bông đạt hơn 90%, nuôi bò sữa 80% (Theo thống kê của Cục Kinh tế hợp
tác và phát triển nông thôn). Kết quả này là do chưa có sự liên kết thực sự giữa
các tổ chức tín dụng nói riêng và chính quyền địa phương các cấp chưa phát huy
hết trách nhiệm, giúp đỡ và quản lý trong quá trình liên kết, nhất là không nắm
được và không có biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp để tạo sự liên kết bền
vững, hiệu quả.
Thứ ba: Một số nơi đã thực hiện liên kết còn mang tính hình thức, đối phó,
đồng thời chưa có một cơ quan đủ thẩm quyền để xử lý những vi phạm hợp
đồng giữa các bên đã ký kết.
Đây là những nguyên nhân chủ yếu làm phá vỡ hợp đồng đã ký kết giữa các
bên, đặc biệt là giữa nông dân sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến, doanh
nghiệp. Vừa làm cho sản xuất đình đốn, nông dân không bán được nông sản, giá
bán không ổn định (được mùa, nhưng mất giá), vừa làm cho các doanh nghiệp
thiếu nguyên liệu chế biến trong khi đã ký hợp đồng giao sản phẩm cho các đối tác,
gây thiệt hại không nhỏ cho cả nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà nước.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên
cứu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu tại xã Sơn
Hội - huyện Sơn Hòa - tỉnh Phú Yên”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm sản xuất mía nguyên liệu tại xã Sơn Hội huyện Sơn Hòa
Tìm hiểu thực trạng và phân tích hoạt động liên kết trong sản xuất và
tiêu thụ mía nguyên liệu tại xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Đặc điểm cây mía nguyên liệu
Đặc điểm sinh học của cây mía
Mía có tên gọi khoa học là Saccharumoffeiniruml, là nghành có hạt, lớp 1
lá mầm, thuộc họ hoa thảo, chu kỳ sinh trưởng của cây mía từ hom đến thu
hoạch kéo dài 1 năm .
thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau, từ 70% sét đến 70% cát. Đất thích
hợp nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng canh tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm
tốt và dễ thoát nước. Có thể trồng mía có kết quả trên cả những nơi đất sét rất
nặng cũng như trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua mặn, đất đồi, khô
hạn ít màu mỡ.
2.1.2. Lí luận về kênh tiêu thụ nông sản
Khái niệm về kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh tiêu thụ là đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu
dùng (hay người sử dụng) cuối cùng. Người sản xuất định nghĩa kênh tiêu thụ là
hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau.[18]
Kênh tiêu thụ là tập hợp các quan hệ với tổ chức và cá nhân bên ngoài
Doanh nghiệp để tổ chức và quản lí các hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt
được mục tiêu của doanh nghiệp trên thị trường.
Phân loại kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gồm :
- Kênh tiêu thụ theo tính chất tiếp xúc gồm:
+ Kênh trực tiếp là kênh không có trung gian, là cầu nối gắn liền với người
sản xuất với người tiêu dùng. Kênh trực tiếp thường xảy ra ở kiểu sản xuất cổ
truyền, quy mô sản xuất nhỏ, người sản xuất gần người tiêu thụ.
+ Kênh gián tiếp là kênh có trung gian tham gia. Trung gian là cầu nối giữa
người sản xuất và người tiêu dùng. Các loại trung gian bao gồm : người thu
gom, đại lý, các hợp tác xã tiêu thụ, người bán buôn, các công ty, doanh
nghiệp…..
Trung gian là cần thiết quan trọng, song trung gian có tính hai mặt cần phải
phát huy tính tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nó.
- Phân loại kênh tiêu thụ theo cự ly gồm:
+ Kênh cực ngắn: là kênh trực tiếp
+ Kênh ngắn: phải qua một trung gian như một tổ chức bán lẻ hoặc một đại
lý độc quyền nhãn hiệu
nước[3]. Mục tiêu là tạo ra mối liên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt động
kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác
tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ
chung, bảo vệ lợi ích cho nhau.
Theo Vũ Minh trai (1993) cho rằng Liên kết kinh tế là những quan hệ phối
hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác[7].
David. W.Pearce (1999) trong từ điển Kinh tế học hiện đại cho rằng “Liên
kết kinh tế chỉ là tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế
thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau
một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát
triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”.
Tác giả Trần Văn Hiếu (Trường Đại học cần Thơ) cho “rằng liên kết kinh
tế là quá trình xâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các
chủ thể kinh tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh
theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế
để khai thác tốt các tiềm năng của các chủ thế tham gia liên kết. Liên kết kinh tế
có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa
các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vị khu vực và quốc
tế”.[4]
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không kể
quy mô hoặc loại hình sở hữu, được thể hiện thông qua các hình thức như: hợp
đồng văn bản hay thỏa thuận miệng giữa các tác nhân tham gia vào quá trình
liên kết. Mục tiêu liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của
mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên
tham gia.
Các hình thức liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm
Căn cứ vào vai trò, quan hệ kinh tế giữa các tác nhân từ sản xuất đến tiêu
dùng, người ta chia làm 2 hình thức
Mô hình tập trung đảm bảo nông dân tiêu thụ được nông sản, doanh nghiệp
có nguyên liệu phục vụ cho chế biến. Ngoài ra mô hình này hình thành sự liên
kết giữa doanh nghiệp và các trang trại tạo ra vùng sản xuất tập trung với chất
lượng cao, an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn, đạt tiêu chuẩn
quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, nhằm góp phần nâng cao sức cạnh tranh
cho doanh nghiệp và tạo sự phát triển bền vững cho các trang trại.
Mô hình trang trại hạt nhân
Mô hình trang trại hạt nhân tương tự như mô hình tập trung, nhưng bên
mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại, vườn
cây. Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm và bán
lại sản phẩm cho doanh nghiệp. Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này
cũng chỉ bao gồm doanh nghiệp và các trang trại. Trong đó, các trang trại do
nông dân sản xuất thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Do đó, các hộ nông
dân trục tiếp sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp có thể xem là người
lao động trong doanh nghiệp.[6]
Nông dân sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp giao
đất và cả cây trồng (cây lâu năm), vật nuôi cho từng hộ nông dân, cung cấp vật
tư đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, nông dân chăm sóc cây trồng vật
nuôi theo đúng quy trình của doanh nghiệp và giao lại toàn bộ sản phẩm cho
doanh nghiệp.
Mô hình đa chủ thể
Mô hình đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
thường gọi là mô hình “liên kết 4 nhà”. Tham gia mô hình này bao gồm nhiều
chủ thế khác nhau như: nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, các
trang trại. Đặc điểm của mô hình này là các chủ thể khác nhau sẽ có trách nhiệm
và vai trò khác nhau.
Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với
nông dân, gắn kết nhà tài chính với nông dân và tiêu thụ sản phẩm cho nông
gia chứ không phải là quan hệ cạnh tranh hay bóc lột giữa bên này với bên kia.
- Cam kết phải có các điều kiện ưu đãi: Ưu đãi phải được xây dựng trên
quan hệ cung cầu thị trường
- Trách nhiệm của mỗi bên khi thực hiện cam kết: Các bên có trách nhiệm
thực hiện đúng, đủ và nghiêm túc theo cam kết.
- Các mối liên kết này được thể hiện thông qua các hình thức với các nội
dung cơ bản sau:
+ Mua bán tự do trên thị trường
Mua bán tự do trên thị trường là hình thức giao dịch trực tiếp giữa người
mua và người bán. Người mua thấy được số lượng, chất lượng hàng hoá mình
cần, còn người bán sau khi thoả thuận được giá cả sẽ bán và thu được tiền, đáp
ứng cho nhu cầu sản xuất và các nhu cầu khác. Việc mua bán trên thị trường
được thực hiện do mối quan hệ cung cầu, nếu hai bên thoả thuận được với nhau
thì hoạt động giao dịch được diễn ra, thị trường có vai trò định giá.
+ Hợp đồng miệng
Hợp đồng miệng là các thoả thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa
các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó.
Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả,
thời hạn và địa điểm nhận hàng. Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín
nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng. Hợp
đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ
hàng, anh chị em ruột thịt, bạn bè...), hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp
tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn
thể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín
với các đối tác.
+ Hợp đồng bằng văn bản
Thực hiện phương thức theo hợp đồng trong nông nghiệp thường diễn ra
giữa các nhà có mối quan hệ với nhau trong quá trình từ sản xuất đến chế biến
tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, họ là người được sử dụng đất đai
của mình để sản xuất.
- Nhà doanh nghiệp: đây là chủ thể thứ hai và cũng là chủ thể chính tham
gia hoạt động liên kết. Doanh nghiệp có liên quan trực tiếp và cần xác định rõ
trách nhiệm cụ thể đối với người sản xuất như: cung ứng vật tư nông nghiệp, áp
dụng công nghệ cao, công nghệ sạch chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao tính chủ động về hoạt
động quản lý, điều hành sản xuất có hiệu quả, có biện pháp khuyến khích người
sản xuất có ý thức trách nhiệm tạo ra nguồn hàng ổn định và đảm bảo chất lượng
để phục vụ sản xuất chế biến, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Nhà nước: Để phát triển hình thức liên kết sản xuất - tiêu thụ giữa doanh
nghiệp và người nông dân, các cấp chính quyền ngoài công tác quản lý, chỉ đạo
sản xuất cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách, thể chế đế tạo điều kiện cho cả
hai phía, đồng thời khuyến khích các hộ nông dân hình thành các hình thức tổ
chức hợp tác tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp.
Nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết sản xuất
tiêu thụ với nông dân trong việc: nâng sức cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất
thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, nghiên cứu và chuyến
giao công nghệ, cung cấp thông tin định hướng cho kinh doanh, công tác kiểm
soát chất lượng, xuất xứ hàng nông sản và đăng ký kinh doanh nông sản, tìm
kiếm và mở rộng thị trường.
- Nhà khoa học: Trong sản xuất, để tạo nên những sản phẩm vừa có năng
suất, chất lượng và có giá trị kinh tế cao, vừa đáp ứng được nhu cầu của người
tiêu dùng cũng như đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, nhà khoa học có vai trò
hết sức quan trọng. Nhà khoa học ở đây có thể là các nhà nghiên cứu, nhà khoa
học hay cán bộ khuyến nông..., họ sẽ đóng góp công sức và chất xám của mình
để thực hiện các hợp đồng theo đơn đặt hàng của các nhà doanh nghiệp cũng
như của nhà sản xuất.
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
( tấn/ ha)
(tấn)
2009
265.6
58.8
15.608.300
2010
269.1
60.1
16.161.700
2011
282.254
62.1
17.539.572
2012
Thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh công nghiệp
hoá nông nghiệp nông thôn, về đổi mới chính sách tín dụng, đầu tư, hỗ trợ phát
triển kết cấu hạ tầng và chuyển giao công nghệ - kỹ thuật cho nông nghiệp nói
chung, khuyến khích phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ các mặt hàng nông
sản nói riêng, trong thời gian qua, chúng ta đã thực hiện mối liên kết chặt chẽ và
có hiệu quả giữa các chủ thể nông nghiệp như hợp tác xã, trang trại, nông hộ.
Với các chủ thể kinh tế khác trên thị trường như các doanh nghiệp, ngân
hàng và nhà khoa học. Đây được coi như một giải pháp quan trọng trong việc
phát triển các mặt hàng nông sản hiện nay. Thông qua sự liên kết giữa nông dân,
doanh nghiệp và nhà khoa học, khoa học và công nghệ mới đã được áp dụng vào
sản xuất, chế biến góp phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả một số mặt
hàng nông sản, đánh dấu sự khởi đầu của việc chuyển sang nền nông nghiệp
hàng hoá. Điển hình cho thành công của các hợp đồng liên kết sản xuất và kinh
doanh các mặt hàng nông sản đã được ký kết có thể kể đến như: Nông trường
sông Hậu, Công ty bông Việt Nam, Công ty sữa Việt Nam, Công ty cổ phần mía
đường Lam Sơn...
Tuy nhiên, do thiếu các cơ chế chính sách, định hướng phát triển cho khu
vực nông nghiệp nông thôn một cách kịp thời và cụ thể, nhất là việc thâm nhập
thị trường thế giới. Sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp, ngân hàng và nhà
khoa học chưa chặt chẽ, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, dẫn đến việc
đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào khu vực sản xuất và chế biến các mặt hàng
mía nguyên liệu còn chậm, đặc biệt, ngưỡng cửa hội nhập đã cận kề, nhưng vẫn
chưa có sự liên kết, đầu tư bài bản cho sản xuất, chế biến và tiêu thụmía nguyên
liệu. Tình trạng nguyên liệu không đủ cung cấp cho nhà máy sản xuất, nhà máy
hoạt động cầm chừng, năng suất thấp khá phổ biến. Ở một số vùng nguyên liệu
với quy mô lớn, vượt khả năng chế biến của nhà máy, giá thu mua rẻ nhưng
nông sản hàng hoá vẫn thừa, đẩy người nông dân vào tình trạng khó khăn.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể thấy rằng, một số cơ chế
gần 14.000 ha. Tính ra, công ty đã đầu tư 42 tỷ đồng bằng giống, phân bón và
đang chuẩn bị 30 tỷ đồng để nông dân có vốn chăm bón cây mía. 95% số diện
tích mía thuộc vùng nguyên liệu đã được công ty ký hợp đồng tiêu thụ.
Nói chung nhờ chính sách đầu tư của công ty mà nhiều bà con miền núi
còn khó khăn như chúng tôi có điều kiện chăm sóc mía phát triển tốt, đem lại
hiệu quả kinh tế cao hơn các loại cây trồng khác.
Bên cạnh chính sách đầu tư trực tiếp đến người trồng mía, các doanh
nghiệp mía đường Phú Yên còn liên kết với Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ
chức nhiều mô hình thâm canh mía ở từng cánh đồng.Tại các điểm trình diễn đó,
các kỹ thuật thâm canh mía như làm đất bằng máy, đưa vào trồng các giống mía
mới có năng suất cao phù hợp từng chân đất, chăm sóc bón phân theo chu kỳ
sinh trưởng. Song việc phát triển vùng nguyên liệu mía ở Phú Yên cũng còn có
những khó khăn nhất định. Ðó là phần lớn diện tích mía được trồng trên gò đồi
hoặc đất nương rẫy, năng suất bấp bênh nếu khi cây trồng khác có hiệu quả kinh
tế hơn, người dân sẽ quay lưng lại với cây mía.
Mặt khác, chi phí cho thu hoạch, vận chuyển mía về nhà máy quá cao, làm
giảm lợi nhuận của người trồng mía. Do vậy, bên cạnh chính sách đầu tư, tiêu
thụ mía các doanh nghiệp cần phối hợp chính quyền địa phương tăng cường đầu
tư vào thủy lợi, giao thông vùng mía, đưa các tiến bộ kỹ thuật vào trồng, chăm
sóc, thu hoạch mía nhằm tăng lợi nhuận cho người trồng mía, giúp nông dân yên
tâm gắn bó với cây công nghiệp ngắn ngày này.
2.2.3. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- “Liên kết kinh tế thông qua hợp đồng giữa người sản xuất mía nguyên
liệu và công ty mía đường Hoà Bình” của Ngô Thị Thuỷ (2004), đã chỉ ra những
vấn đề liên kết thông qua hợp đồng giữa người sản xuất nguyên liệu và công ty
mía đường Hoà Bình. Tác giả đã chứng minh được sự liên kết giữa những người
sản xuất mía nguyên liệu và công ty mía đường Hoà Bình là phù hợp và đúng
toàn chưa tập trung sâu phân tích và các hình thức liên kết.
- “Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp nhà nước”
của tác giả Trần Văn Hiếu. Tác giả đã chỉ ra rằng liên kết giữa các hộ nông dân
và các doanh nghiệp nhà nước chính là tạo lập sức mạnh để tác động, hỗ trợ,
giúp đỡ cho kinh tế hộ nông dân chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng thị
trường. Nhưng tác giả chưa đưa ra được lợi ích thực sự của các bên khi tham gia
liên kết.[4]
Tóm lại: các nghiên cứu trước đây chưa tập trung đi sâu phân tích hiệu quả
của mối liên kết hoặc chưa đưa ra và phân tích được lợi ích của các tác nhân khi
tham gia vào mối liên kết đặc biệt là lợi ích của người nông dân khi tham gia
liên kết, lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của người trung gian, hoặc chỉ đi sâu
phân tích lợi ích một mô hình liên kết, hơn nữa các đề tài trên chủ yếu tập trung
vào phân tích mối liên kết trong sản xuất cây trồng 1 vụ, nên chưa đề cập đến
mối liên kết sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu trên địa bàn xã Sơn hội..
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP
VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu :
- Các hộ nông dân trồng mía nguyên liệu trên địa bàn xã Sơn Hội
- Các đối tượng thu gom cá thể mía nguyên liệu trên địa bàn xã
- Các trạm nông vụ của Doanh nghiệp đóng tại địa bàn xã Sơn Hội
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung : Nghiên cứu các đặc điểm sản xuất mía nguyên liệu
và thực trạng hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu trên địa
bàn xã Sơn Hội.
- Phạm vi thời gian : Nghiên cứu sẽ thu thập và phân tích số liệu thứ cấp
- Thông tin định tính sẽ được tổng hợp, phân tích , đánh giá
- Số liệu định lượng sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel
3.3.4. Nội dung nghiên cứu
Tình hình sản xuất mía nguyên liệu của xã qua 3 năm ( 2012 – 2014) đang
có xu hướng giảm dần về diện tích gieo trồng. Năm 2013, diện tích mía trồng
ban đầu là 1285 ha. Diện tích có tăng lên so với năm 2012 tăng lên 10% diện
tích đã trồng. Tuy nhiên do hạn hán kéo dài nên năng suất đạt được là 44,9
tấn/ha thấp hơn so với năm 2012 là 22,05%, sản lượng đạt được là 57696 tấn.
Sang đến năm 2014, do thời tiết không thuận lợi, thường xuyên xảy ra hạn hán
kéo dài làm cho diện tích mía ở địa bàn giảm xuống 23,1% so với năm 2012,
diện tích giảm dẫn đến năng suất cũng giảm 27,1%, sản lượng đạt 40514 tấn
giảm 56,63% so với năm 2012.
Đặc điểm các tác nhân tham gia liên kết
Tác nhân người sản xuất (người nông dân)
Nông dân (người sản xuất) là một trong những mắt xích quan trọng, đứng
đầu trong kênh với vai trò là nhà sản xuất, nhà cung ứng mía nguyên liệu cho
các thành viên khác trong chuỗi cung ứng
Tác nhân người thu gom
Là những cá nhân mua nông sản từ người sản xuất. Họ có thể là người ở
địa phương hoặc từ các nơi khác đến để thu gom, mua nông sản của người dân.
Người thu gom cá thể cũng có thể đồng thời là người sản xuất, họ thu gom từ
những người sản xuất khác với mức giá thường thấp hơn so với mức giá mà các
doanh nghiệp thu mua trả
Tác nhân doanh nghiệp
Trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu không giống như sản phẩm
nông nghiệp khác (lúa, rau màu.), các doanh nghiệp muốn bao tiêu sản phẩm
20
cho người nông dân một cách bền vững, họ phải thực hiện cung cấp vật tư đầu
lợi, các loại cây trồng phát triển phụ thuộc vào thời tiết nên toàn bộ diện tích
toàn xã chỉ sản xuất cây hàng năm và trồng rừng. Hiện trạng đường giao thông
đến trung tâm xã chưa được cứng hóa nên thường lầy lội vào mùa mưa.
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
a. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Tổng diện tích đất 17.179,57 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ
lệ 69,16 trên tổng diện tích của xã, đất đai chia thành hai vùng đất rõ rệt, đất cát
và đất đất xám bạc màu…, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hộ gia đình sử
dụng manh mún chưa dồn điền đổi thửa nên khó đầu tư sản xuất, năng suất cây
trồng còn thấp, hiện trạng sử dụng đất gồm các loại đất sau:
22
Bảng 4.1:Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Sơn Hội
trong 3 năm 2012 - 2014
Năm
Năm
Năm
2012
2013
2014
Loại đất
Diện
Diện
Diện
tích Tỷ lệ tích Tỷ lệ tích Tỷ lệ
(ha)
%
(ha)
nông nghiệp qua 3 năm có sự thay đổi rõ rệt:
Tính từ năm 2012 thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã khai thác đưa
vào sử dụng là 2,420 ha nhưng đến năm 2014 thì diện tích sản xuất nông nghiệp
tăng lên 3,053 ha điều đó cho thấy việc sử dụng đất nông nghiệp cơ bản là đúng
mục đích, hiệu quả sử dụng đất cao
Nhìn chung tình hình sử dụng đất nông nghiệp qua 3 năm đã có chuyển
biến tích cực, sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng đã và đang hình thành, củng cố
và mở rộng nhiều vùng sản xuất chuyên canh tập trung, là cơ sở đảm bảo khả
năng phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như trong tương lai hướng tới phát
triển các cơ sở chế biến đang trở thành một trong các chủ trương chính của
chính quyền địa phương
23
b. Tình hình dân số và lao động xã Sơn Hội qua 3 năm 2012 -2014
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động Xã Sơn Hội qua 3 năm 2012 – 2014
Chỉ tiêu
Tổng số hộ
Hộ nông nghiệp
2012
2013
2014
So sánh %
Cơ
Số Cơ
Cơ
Số
88
920
86
989
108
105
139
130
103 102,5
84 3,786 84 102 103 102,5
16,
Người 677
16 702 19 739
104 105,2 105
3
LĐ 2,500 100 2,576 100 2,621 100 103 102 102,5
Lao động nông nghiệp
LĐ
24
Do nhận thức tốt về ý nghĩa và tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật,
xã Sơn Hội luôn quan tâm đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ đời
sống và sản xuất. Cơ sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ thì hoạt động sản xuất
càng phát triển, năng suất lao động càng tăng và kinh tế xã hội của địa phương
càng phát triển.
Bảng 4.3 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn so sánh năm 2012-2014
TT
1
1.1
1.2
1.3
2
2.1
3
Chỉ tiêu
ĐVT
Giao thông
Đường nhựa
Km
Đường bê thông hóa
Km
Đường bê tông nội đồng
Km
100
100
(Nguồn: Số liệu thống kê xã Sơn Hội,2012-2014)
Từ năm 2012, khi bắt đầu triển khai thực hiện nông thôn mới đến nay tình
hình cơ sở hạ tầng nông thôn của xã đã có những thay đổi rõ rệt. Có một số nhận
xét như sau:
Hệ thống giao thông:
Hệ thống giao thông của xã trở nên đồng bộ, khang trang hơn. Nhiều tuyến
đường được nâng cấp và mở mới. Nổi bật các đường nối các thôn xóm đã được
bê tông hóa kiên cố mà các loại xe trọng tải có thể lưu thông tốt. Năm 2012,
năm sau khi thực hiện nông thôn mới xã chỉ có 3 km đường bê tông hóa thì sang
đến năm 2014 là 7,65 km tăng 1,55%. Đặc biệt, với thêm 18 km đường bê tông
nội đồng tăng 66,7% tạo điều kiện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt
vào mùa thu hoạch thuận tiện hơn cho việc thu mua mía, sắn tại đồng, giảm bớt
sự vất vả cho bà con nông dân.
Hệ thống thủy lợi:
Nằm ngay sát con suối như suối Cà Crum, hồ suối Sậy, suối Vỹ, suối Ca
La, suối Trà Kê, Suối Chó. Nên xã có lượng nước khá dồi dào phục vụ cho sinh
hoạt của người dân cũng như phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp. Với 3 trạm
bơm hoạt động đảm bảo cung cấp đủ nước cho từng cánh đồng khi vào vụ sản
xuất. Hệ thống thoát nước hiện tại được xây dựng dài khoảng 1,5km. Tuy nhiên,
25