Thực trạng và giải pháp trong chăn nuôi bò thịt trang trại tại xã hương bình huyện hương trà tỉnh thừa thiên huế - Pdf 34

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
PHẦN 1.................................................................................................................1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................1
1.2 Mục tiêu của đề tài......................................................................................2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...................................................................3
2.1. Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam...........................................................3
2.1.1 Số lượng đàn.........................................................................................3
2.1.2 Sự phân bố............................................................................................4
2.1. 3. Chất lượng đàn bò và năng suất thịt...................................................5
2.1.3.1. Chất lượng đàn bò........................................................................5
2.1.3.2 Năng suất thịt.................................................................................6
2.1.4 Hướng lai tạo bò thịt hiện nay..............................................................8
2.1.4.1 Dùng tinh đực giống Limousin phối cho bò cái lai Zebu..............8
2.1.4.2 Dùng tinh đực giống Droughtmaster phối cho bò cái lai Zebu.....8
2.1.4.3 Dùng tinh đực giống B.B.B phối cho bò cái lai Zebu...................9
2.2. Nhu cầu thị trường tiêu thụ thịt bò hiện nay...............................................9
2.3. Một số giống bò ngoại quan trọng trong công tác lai tạo giống bò thịt ở
nước ta.............................................................................................................10
2.3.1 Bò Sind(Red Sindhi)...........................................................................10
2.3.2 Bò Brahman........................................................................................11
2.3.3 Bò BBB..............................................................................................11
2.4. Một số giống cỏ trồng phổ biến hiện nay.................................................12
2.4.1 Cỏ Mulato II.......................................................................................12
2.4.2 Cỏ Ghine (cỏ Sả)................................................................................12
2.4.3 Cỏ voi.................................................................................................13


2.5 Một số kỹ thuật chế biến, dự trữ thức ăn...................................................14
2.5.1 Một số phụ phẩm nông nghiệp phổ biến............................................14
2.5.2 Một số phương pháp dữ trữ chế biến..................................................16

2.7.2.3 Giáo dục.......................................................................................27
2.7.2.4. Y tế.............................................................................................27
2.7.2.5. Dân số-KHHGĐ.........................................................................27
2.7.2.6. Văn hóa văn nghệ- thể dục thể thao...........................................28
PHẦN 3...............................................................................................................29
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............29
3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu............................................................29
3.2. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................29
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................29
3.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................29
3.4.1. Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng......................................................29
3.4.1.1. Cỏ Monbasa................................................................................29
3.4.1.2. Cỏ mulato...................................................................................30
3.4.1.3. Cỏ voi.........................................................................................30
3.4.2. Theo dõi năng suất.............................................................................30
PHẦN 4...............................................................................................................31
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...............................................31
4.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở xã Hương Bình..........................................31
4.2 . Tổng quan về trang trại chăn nuôi của ông Võ Đình Cường..................32
4.2.1. Vị trí...................................................................................................32


4.2.3. Tình hình tổ chức sản xuất chăn nuôi bò của trang trại thời gian qua
.....................................................................................................................34
4.2.3.1 Diễn biến số lượng và cơ cấu đàn...............................................34
4.2.3.2 Diễn biến cơ cấu và diện tích cỏ trồng........................................35
4.2.3.3 Giải quyết thức ăn cho bò............................................................35
4.2.3.4 Chuồng trại..................................................................................36
4.2.3.5. Quản lý chăm sóc và bệnh tật.....................................................37
4.2.3.6. Quản lí kinh tế, lao động và vật tư trang trại..............................37

nhiều nơi, nhiều quốc gia. Ngoài ra nó còn là một ngành chiếm vai trò quan
trọng trong nền kinh tế các nước phát triển, đang phát triển cho phép khai thác
những lợi thế về điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia mỗi vùng miền khác nhau.
Hiện nay tồn tại chủ yếu ba phương thức đó là chăn nuôi thâm canh, chăn nuôi
bán thâm canh và chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Nhưng để đẩy nhanh số lượng và
chất lượng đáp ứng đủ nhu cầu thị trường thì đòi hỏi chăn nuôi phải tập trung số
lượng lớn theo hình thức chăn nuôi công nghiệp.
Ở nước ta ngành chăn nuôi bò thịt đã và đang phát triển nhưng chủ yếu quy
mô nhỏ lẻ và phân tán hiệu quả chưa cao vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng
trong nước mà phải nhập khẩu lượng lớn từ nước ngoài.
Trong vòng 10 năm qua, tốc độ tăng đàn bò thịt nước ta đạt trên 3% mỗi
năm. Tuy vậy bình quân số gia súc bao gồm cả trâu và bò trên đầu người vẫn
còn rất thấp, khoảng 0,1 con/người. Số lượng gia súc ít và khối lượng gia súc
nhỏ nên sản lượng thịt trâu bò sản xuất mỗi năm tính trên đầu người cũng rất
thấp, chỉ đạt 2,6kg thịt hơi. Trong khi đó Úc 106,4kg, Argentina 76,9kg Canada
46,7kg, Mông Cổ 32,8kg. Những năm gần đây nước ta nhập mỗi năm hàng chục
ngàn tấn thịt bò từ Úc, Argentina, Mỹ và thịt trâu từ ấn Độ. Giá thịt bò nhập
khẩu bán tại các siêu thị từ 150 ngàn đến 350 ngàn đ/kg. (Đinh Văn Cải, 2007).
Tổng đàn bò trong cả nước hiện chỉ còn hơn 5 triệu con, giảm hơn 1,5 triệu con
so với 5 năm trước. Hiếm có thời điểm nào tổng đàn bò tụt dốc mạnh như vậy,
bình quân mỗi năm giảm hơn 300 ngàn con. Trái lại, bò "ngoại” liên tục tăng
theo chiều hướng năm sau cao hơn năm trước. Thời gian gần đây thịt bò nhập
khẩu vào Việt Nam liên tục tăng. Ông Nguyễn Đăng Vang chủ tịch hiệp hội
chăn nuôi Việt Nam cho rằng, thịt bò nhập khẩu tăng mạnh là bởi nguồn thịt
trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Bảy tháng đầu năm
1


2014, Việt Nam đã nhập 150,5 nghìn con bò, trị giá 130,6 triệu USD. Trong đó,
bò nhập khẩu từ Úc chiếm đến 83,7%, có mặt ở hầu hết các siêu thị Theo Hiệp

Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu của đề tài
-Đánh giá thực trạng chăn nuôi bò thịt của trại, từ đó đưa ra giải pháp khắc
phục khó khăn
-Đánh giá tốc độ sinh trưởng và năng suất một số giống cỏ trồng tại trại.

2


PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam
Ngành chăn nuôi bò ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã có nhiều
bước tiến phát triển, thay đổi rõ nét cả về số lượng và chất lượng. Với truyền
thống trước đây chăn nuôi bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi bò địa
phương kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Ngày nay, trong khi đàn bò cày kéo có xu hướng giảm thì chăn
nuôi bò theo hướng lấy thịt đang ngày càng phát triển mạnh hơn để đáp ứng nhu
cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân.
2.1.1 Số lượng đàn
Số lượng bò năm 1990 là 3,12 triệu con cho đến nay đã tăng đàn lên
5,23triệu con (Tổng cục thống kê 2014). Trong những năm gần đây số lượng bò
có xu hướng giảm nhẹ, nhưng trong năm nay đã bắt đầu tăng trở lại với chất
lượng ngày càng được nâng cao bởi chăn nuôi tập trung, kỹ thuật chăn nuôi
được cải thiện và chất lượng con giống được nâng cao. Bảng 1.1 cho thấy diễn
biến đàn bò qua một số năm gần đây ở nước ta.
Bảng 2.1 Số lượng và tốc độ tăng đàn bò giai đoạn 2005-2014
Năm
Số lượng (triệu con)
Tốc độ tăng đàn (%)
2005

thống kê. />Qua bảng số liệu ta thấy số lượng đàn bò biến động tăng giảm liên tục qua
các năm. Số lượng đàn tăng từ năm 2005 (5,54 triệu con) đến năm 2007 (6,72
triệu con), sau đó giảm mạnh từ năm 2008 đến năm 2013 còn 5,16 triệu con.
Nhưng số lượng gần đây lại cho thấyđàn bò có xu hướng tăng trở lại. Sự suy
giảm về số lượng thời gian qua do chăn nuôi gặp phải nhiều nguyên nhân bất
lợi như quỹ đất thu hẹp, thị trường khó khăn, đầu tư của nông dân ngày càng
3


hạn chế,dịch bệnh xảy ra thường xuyên. Cũng có thể có một nguyên nhân nữa
là do cơ giới hóa khâu làm đất ngày càng mở rộng trong phạm vi cả nước, dẫn
đến một số lượng bò cày kéo không còn vị trí trong sản xuất làm cho tổng đàn
cũng giảm theo (và nếu vậy số đầu con giảm phần lớn là bò chuyên cày kéo).
Song, đâu là lý do thực sự thì hiện nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Trong
đó diện tích đât chăn thả bị thu hẹp để nhường đất cho việc canh tác và triển
khai các chương trình ,dự án lâm nghiệp là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng lớn
đến tốc độ tăng trưởng của đàn. Năm 2014 đàn bò đã có xu hướng tăng trở lại
với tốc độ 1,5% so với năm 2013, riêng chăn nuôi bò sữa tiếp tục tăng nhanh,
tổng đàn bò sữa năm 2014 của cả nước là 227,6 nghìn con, tăng 22,1% so với
năm 2013(tổng cục thống kê 2014). Riêng chăn nuôi bò sữa hơn 10 năm qua đã
có nhiều bước phát triển về số lượng cũng như chất lượng bò sữa Việt Nam đều
có sự tăng trưởng đột phá. Cụ thể, tăng số lượng và chất lượng bò sữa từ 41.240
con năm 2000 lên 128.580 con năm 2010 và 200.000 con vào tháng 4.2014. Sản
lượng sữa cả nước tăng từ 64.700 tấn năm 2001 lên 306.660 tấn năm 2010 và
456.390 tấn năm 2013. Năng suất sữa ở bò lai từ 3,25 tấn/chu kỳ năm 2001 lên 4
tấn/chu kỳ năm 2010 và 4,28 tấn/chu kỳ năm 2013.
2.1.2 Sự phân bố
Bảng 2.2. Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014
Số lượng
Tỷ lệ

trọng chiến lược phát triển chăn nuôi bò và chủ yếu vẫn là trồng rừng và các loại
cây công nghiệp. Vùng có số lượng đàn bò tập trung ít nhất là Đông Nam Bộ chỉ
361,3 nghìn con cũng là vùng có diện tích nhỏ nhất chiếm 7,1 diện tích cả nước
với nhiều thế mạnh phát triển kinh tế công nghiệp.
Các tỉnh có số đàn lên tới 200 nghìn con như Sơn La, Thanh hóa, Nghệ An,
Quãng Ngãi, Bình Định. Trong đó dẫn đầu là tỉnh Nghệ An lên tới 391190 con
đây là một tỉnh có truyền thống chăn nuôi bò từ lâu đời với diện tích chăn thả
lớn và nông nghiệp phát triển.
2.1. 3. Chất lượng đàn bò và năng suất thịt
2.1.3.1. Chất lượng đàn bò
Vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước, được sự hỗ trợ kinh phí của
Ngân hàng Thế giới (WB), nước ta tiến hành “Chương trình cải tạo đàn bò Vàng
Việt Nam” với việc sử dụng tinh các giống bò Zebu (bò U), (các giống Red
Sindhi, Sahiwal và Brahman) để phối cho bò cái Vàng Việt Nam đã qua tuyển
chọn, tạo ra bò lai Zebu. Chương trình được tiếp tục cho đến nay với nguồn kinh
phí của Nhà nước, góp phần làm tăng tỷ lệ bò lai Zebu trên phạm vi toàn quốc.
Hiện nay, đàn bò lai Zebu chiếm khoảng 45– 50% tổng đàn và được phân bố ở
hầu khắp các tỉnh, thành, đặc biệt là ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Ninh
Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Tp. Hồ Chí Minh, An Giang, Long An,…. Nhưng
đàn bò Vàng địa phương vẫn còn đang chiếm số lượng lớn 50-55% tổng đàn.
Bởi chúng có nhiều đặc tính quý như: khỏe mạnh, nhanh nhẹn thích nghi lâu đời
với điều kiện khí hậu nhiệt đới: chịu đựng được các điều kiện kham khổ và thiếu
thốn thức ăn, sức chống chịu bệnh tật tốt, thành thục sinh dục sớm mắn đẻ và
chúng cũng là loài đã gắn bó lâu đời với nghề chăn nuôi bò truyền thống của
người dân. Nhược điểm lớn nhất của bò ta là tầm vóc nhỏ, khối lượng thấp,
thành thục tính dục chậm (khoảng 2.5-3 tuổi mới phối giống lứa đầu), năng suất
sữa và thịt đều rất thấp. Khối lượng bình quân toàn đàn khoảng 160-200kg. Cơ
thể thấp, mình ngắn và lép. Kích thước của đực giống so với kích thước của cái
sinh sản không có sự chênh lệch lớn. Chu kỳ cho sữa khoảng 6-7 tháng. Với sản
lượng từ 300-400kg/chu kỳ. Lượng sữa chỉ đủ cho con bú. Bò Vàng Việt Nam

40 – 42
48 – 50
(Theo Thông tin Khuyến nông Việt Nam, Số 6/2014)
Bảng 2.4. Diễn biến số lượng đàn bò lai qua các năm (2010-2014)
2010
2011
2012
2013
2014
Bò lai (triệu con)
2,20
2,27
2,30
2,46
2,72
Tổng đàn(triệu con
5,81
5,44
5,19
5,16
5,23
Bò lai/tổng đàn(%)
37,87
41,73
44,32
47,67
52,01
(Nguồn />Qua bảng số liệu cho thấy đàn số lượng đàn bò lai liên tục tăng qua các
năm kể từ khi bắt đầu dự án cải tạo chất lượng đàn bò thịt đến nay đàn bò lai đã
chiếm 52,01% tổng đàn. Mặc dù tổng đàn bò có tăng giảm nhưng số lượng đàn



2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014

59,8
64,3
67,3
71,5
79,1
83,6
87,8
88,5
85,4
86,8

142,2
159,5
206,1
226,7
263,4
278,9

3529,2
3906,9
4014,1
4002,4
4271,8
4335,6
4583,5

5,06
5,19
6,26
6,42
6,74
6,95
7,18
6,88
6,58
6,39

Qua kết quả trên cho thấy sản lượng thịt bò tăng đáng kể mặc dù số lượng
đàn lại tăng rất chậm chứng tỏ phần nào năng suất chất lượng đàn bò thịt ngày
càng được cải thiện. Sản lượng cao nhất là vào năm 2011 với tỉ lệ 7,18 % tổng
sản lượng thịt các loại. Nhưng so sánh thịt bò với các loại thịt khác thì sản lượng
thịt bò vẫn chiếm một tỉ lệ quá nhỏ. Còn theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi
(2010): trong cơ cấu sản xuất tiêu thụ thịt ở Việt Nam hiện nay thì thịt lợn chiếm
77,5% lượng thịt tiêu thụ, thịt gia cầm chiếm 15,7% và thịt trâu bò chỉ chiếm
6,6% trong khi tỉ lệ tiêu thụ thịt trên thế giới thông thường là 40-45% thịt
heo,25-30% thịt bò và 30-35% thịt gia cầm. Sự chênh lệch tỉ lệ thịt bò so với các
loại thịt khác giữa Việt Nam và thế giới là khoảng cách quá lớn điều này cho
thấy khả năng sản xuất còn cách xa với nhu cầu và hơn nữa là chi phí sản xuất

44,3
7,45
2010
3,3
46,2
7,14
2011
3,3
47,5
6,95
2012
3,3
48,5
6,80
2013
3,3
49,3
6,69
(Nguồn />Nhìn chung tiêu thụ thịt bò bình quân trên đầu người có tăng nhưng vẫn
còn ở mức thấp. Từ năm 2009 đến nay vẫn giữ ở mức 3,3kg/người/năm chỉ
chiếm 6,69% trong tổng thịt các loại năm 2013. Trong khi tỷ lệ thịt bò trong
khẩu phần ăn trên thế giới là 23%.
2.1.4 Hướng lai tạo bò thịt hiện nay
Các giống bò mới Hướng lai tạo bò chuyên thịt để cải tạo đàn bò Bò lai
Zebu có nhiều đặc tính quý, đã khắc phục được các nhược điểm của bò Vàng.
Tuy nhiên, khả năng cho thịt vẫn còn thấp. Để tạo ra đàn bò theo hướng chuyên
thịt, cần chọn lọc những bò cái lai Zebu đạt tiêu chuẩn giống, khối lượng trên
250 kg, không bệnh tật và cho phối tinh nhân tạo với tinh của các đực giống
chuyên thịt cao sản (đực giống Limousin, Droughtmaster, B.B.B) để tạo ra con
lai ba máu. Những đực giống sinh ra nuôi vỗ béo và giết thịt. Những bò cái đạt

trung bình 25 – 28 kg. Khả năng tăng trọng cao, khối lượng lúc 24 tháng tuổi đạt
500 – 520 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 58 – 60%.(tạp chí khuyến nông số 6/2014)
2.2. Nhu cầu thị trường tiêu thụ thịt bò hiện nay
Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), năm 2014 nhu cầu tiêu thụ thịt bò
của Việt Nam vào khoảng 408 nghìn tấn, tăng 2 nghìn tấn so với năm 2013. Sản
lượng thịt bò của Việt Nam năm 2014 dự kiến ở mức 393 nghìn tấn và để đáp ứng
đủ nhu cầu cần phải nhập khẩu ít nhất 15 nghìn tấn (Tổng cục thống kê 4/2014)
.Tổng lượng trâu, bò thịt sống nhập khẩu trong 10 tháng năm 2014 đạt 202.941
con, kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến so với cùng kỳ, đạt 181,27 triệu USD. Các
sản phẩm khác: Trong 10 tháng năm 2014, tổng sản lượng nhập khẩu thịt trâu bò
không xương là 488 tấn (kim ngạch 5,4 triệu USD), thịt trâu bò có xương là 22.730
tấn (kim ngạch 63,37 triệu USD) Trâu, bò lấy thịt còn sống: Tổng lượng trâu, bò
thịt sống nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2014 đạt 176.603 con (tăng 61,8% so
với cùng kỳ năm 2013); về kim nhgạch nhập khẩu tăng đột biến so với cùng kỳ, đạt
155,7 triệu USD (tăng 233,6%). Trong đó đàn bò thịt thương phẩm chiếm 87,7%
tổng đàn, trâu chiếm 12,3% tổng đàn. Có 2 quốc gia xuất khẩu trâu, bò sang Việ
Nam là Úc (Chiếm 82,2% về kim ngạch và 61,6% về số lượng nhập khẩu) và Thái
Lan (chiếm 17,8% về kim ngạch và 38,4% về lượng nhập). Lượng trâu bò sống
nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu qua 10 tỉnh, thành phố: Quảng Bình (35,9% tổng
đàn), TpHCM (28,8%), Nghệ An (12,3%), Hải Phòng (7,3%), Quảng Ninh (5,7%),
Đồng Nai (4,8%), còn lại qua các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, Long An và Bình
Dương (). Có nhiều lý do để bò Úc tiêu thụ mạnh tại
Việt Nam. Đó là do nhu cầu dùng thịt bò trong dân còn lớn. Yếu tố quan trọng
9


không kém là giá cả và chất lượng thịt. Giá thịt bò tại Úc và nhiều nước rẻ hơn rất
nhiều so với ở Việt Nam. Nuôi công nghiệp có chi phí rẻ nên mặc dù phải chịu
thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển và các chi phí khác nhưng hiện tại giá 1 kg thịt
bò hơi của Úc nhập về Việt Nam vẫn thấp hơn bò trong nước. Cụ thể, giá bò hơi

thả tự do. Bò có màu lông đỏ cánh dán hay nâu thẫm. Bò này có thân hình ngắn
chân cao, mình lép, tai to và rũ xuống, có yếm và nếp gấp da dưới rốn rất phát
triển. Đây là một đặc điểm tốt giúp bò này thích nghi với điều kiện khí hậu nóng
10


nhờ tăng diện tích tỏa nhiệt. Bò đực có u vai rất cao, đầu to, trán gồ, rộng, sừng
ngắn, cổ ngắn, vạm vỡ ngực sâu nhưng không nở. Bò cái có đầu và cổ nhỏ hơn,
phần sau phát triển hơn phần trước, vú phát triển núm vú to, dài, tĩnh mạch nổi
rõ. Đặc biệt da ở âm hộ có rất nhiều nếp nhăn. Khi trưởng thành bò đực có khối
lượng 450-500kg, bò cái 350-380kg. Sản lượng sữa trung bình khoảng 14002100kg/chu kỳ 270-290 ngày. Tỷ lệ mỡ sữa 5-5,5%. Vào năm 1923 bò Sind đã
được nhập vào Việt Nam (80 con). Trong thời gian 1985-1987 nhập tiếp 179
con, trong đó có 30 con đực từ Pakistan. Số bò này được nuôi ở nông trường
Hữu nghị Việt Nam – Mông Cổ và trung tâm tinh dông lạnh Moncada (Ba Vì,
Hà Tây) để tham gia chương trình Sind hóa đàn bò Vàng Việt Nam nhằm tạo ra
đàn bò Lai Sind làm nền cho gây tạo bò sữa và bò thịt tiếp theo
(Giáo trình chăn nuôi trâu bò-Nguyễn Xuân Trạch)
2.3.2 Bò Brahman
Bò Brahman là giống bò thịt nhiệt đới được tạo ra ở Mỹ bằng cách lai 4
giống bò Zebu với nhau. Bò Brahman có màu lông trắng hoặc đỏ. Khi trưởng
thành bò đực nặng khoảng 680-900kg, bò cái nặng 450-630kg. Lúc 1 năm tuổi
con đực nặng khoảng 375kg, con cái nặng 260kg. Tăng trọng của bê đực từ 6-12
tháng tuổi khoảng 900-1000g/ngày. Tỷ lệ thịt xẻ khoảng 52-58%. Việt Nam đã
nhập bò Brahman từ Australia để nhân thuần và cho lai với bò cái Lai Sind để
tạo con lai hướng thịt.
2.3.3 Bò BBB
Bò BBB tên gọi chính thức là Bleu Blanc Belge hoặc Belgian Blue Breed.Bò 3B là giống bò có nguồn gốc ở Bỉ, được lai tạo để phát triển đặc biệt vùng
thịt đùi sau (cullard). – Bò 3B có 3 màu lông chủ yếu là trắng, trắng loang xanh
(xám). Riêng bò lai với Brahman hoặc Droughtmaster thường có màu lông xám
nhạt (xanh), loang trắng đen. – Bò 3B có thân hình đẹp, chắc nịch, thân mình

hiện đang được nhiều địa phương quan tâm mở rộng diện tích với qui mô lớn
phục vụ chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa..
Thu hoạch, chế biến, bảo quản:
- Cỏ Mulato cho thu hoạch lứa đầu khoảng 60 -70 ngày sau khi gieo bằng hạt,
45 - 50 ngày sua khi trồng bằng hom. Dùng dao, liềm cắt sát, chừa lại đoạn gốc dài
10 - 15 cm để cây có thể phát triển tốt các lứa sau. Các lứa tiếp theo khoảng 25 -30
ngày đối với các tháng mùa mưa, 40 - 45 ngày đối với các tháng mùa khô. Mỗi
năm có thể thu hoạch được 9 -10 lứa, sản lượng chất xanh đạt tới 200 - 250
tấn/ha/năm. Với những trang trại lớn, trồng với diện tích tập trung nhiều nên đầu tư
áp dụng máy cắt cỏ để thu hoạch đồng đều, giảm công lao động.
- Sản phẩm có thể dùng cho ăn tươi, phơi khô hoặc ủ chua lên men để làm
thức ăn dự trữ cho các tháng thiếu cỏ tươi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa rất có giá
trị và hiệu quả. Áp dụng công thức ủ chua theo tỉ lệ: 1.000 kg cỏ Mulato + 0,5
kg Silo.
2.4.2 Cỏ Ghine (cỏ Sả)
Cỏ sả có tên khoa học là Panicum maximum, nguồn gốc từ Kenya. Cỏ đã
được giới thiệu vào Việt Nam từ lâu. Ở Việt Nam nó còn được biết đến với tên
là cỏ Ghinê. P. maximum có nhiều giống năng xuất cao như TD-58; Tobiata, Si
12


Muang. Nước ta đang trồng phổ biến giống TD-58 nhập từ Thái Lan. Giống mới
Si Muang có thân màu tía, cây cao, mọc thẳng và sản xuất hạt tốt.
Cỏ sả là giống cỏ thảo, thân bụi như bụi sả. Có giống sả lá lớn và sả lá nhỏ.
Cỏ sả lá lớn năng suất cao trồng để thu cắt, cho ăn tươi hoặc ủ ướp chung với cỏ
voi. Cỏ sả lá nhỏ năng xuất thấp hơn, chịu hạn, chịu dẫm đạp dùng để chăn thả
thích hợp hơn. Cỏ sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng,
chịu bóng cây, chất lượng tốt và dễ trồng. Phù hợp với chân ruộng cao, đất pha
cát, giàu dinh dưỡng, từ trung tính đến độ chua nhẹ. Cỏ không chịu được ngập
úng cũng như mùa khô kéo dài. Có thể nhân giống bằng hạt hoặc bằng bụi. Thu


sương muối. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25-40 0C. Nhiệt độ thấp
nhất cho sự sinh trưởng khoảng 150C. Cỏ voi có thể sinh trưởng ở những vùng
cao tới 2000m so với mực nước biển. Thích hợp nhất với đất giàu dinh dưỡng có
tầng canh tác sâu, pH=6-7, đất không bùn, úng. Thích hợp trong những vùng có
lượng mưa khoảng 1500mm/năm.
- Chất lượng cỏ rất tốt, bò thích ăn vì đường nhiều, ngọt. Tuy nhiên, nếu
không thu cắt kịp thời thân hoá gỗ cứng, giảm độ ngon miệng và tỉ lệ lợi dụng thấp.
Cỏ voi có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào tháng 5 đến
tháng 8 dương lịch, cây mau phục hồi và sinh trưởng mạnh. Khi trồng cỏ vào
mùa khô cần phải đảm bảo tưới nước đủ ẩm để giúp cây cỏ sau khi trồng mau
phát triển.
- Đợt thu hoạch khi cỏ được 50 – 60 ngày tuổi (không thu hoạch non đợt
đầu ảnh hưởng tới khả năng tái sinh của cỏ). Các đợt sau thu hoạch cách nhau
khoảng 40 - 45 ngày. Cắt sát gốc (cách mặt đất 4 – 5 cm). Cắt non quá cỏ nhiều
lá, mềm, bò thích ăn nhưng chất khô của cỏ rất thấp (có thể dưới 10%), vì vậy
bò ăn no bụng nhưng vẫn thiếu chất khô. Cắt già quá phần thân dưới hoá gỗ
cứng, bò ăn không hết trở nên lãng phí. Cỏ voi không được chăm sóc sẽ phát
triển chậm, thân già cứng sớm bò cũng không thích ăn.
- Như vậy mỗi năm tiến hành thu hoạch 8 lần, ước lượng năng suất đạt
khoảng 240 tấn/ha/năm. Trồng một lần khai thác được nhiều năm
2.5 Một số kỹ thuật chế biến, dự trữ thức ăn
2.5.1 Một số phụ phẩm nông nghiệp phổ biến
- Rơm rạ là phụ phẩm của các cây lương thực như lúa nước lúa cạn. Nó là
nguồn thức ăn dữ trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc nhai lại ở nước ta.
Rơm là nguồn thức ăn tiềm năng cho ngành chăn nuôi trâu bò. Cứ ước tính tỉ lệ
thóc /rơm rạ là 1:1 thì hàng năm chúng ta thu được một khối lượng rơm khổng lồ
để phát triển chăn nuôi. So với một số loại thức ăn tươi xanh, rơm là loại thức ăn
có giá trị năng lượng trao đổi cao hơn, nhưng hàm lượng NDF cao lên tới 60-70%
trong chất khô. Hàm lượng protein thấp (3-6%) và rất ít chất béo (1-2%). Ngoài

nhỏ trộn với thân cây chuối, cỏ cho gia súc ăn thêm hoặc làm bánh dinh dưỡng.
Có thể bảo quản thân lá lạc bằng phương pháp ủ chua làm thức ăn cho gia súc.
Thân lâ lạc rất dễ bị mốc, vì vậy khi sử dụng cho gia súc ăn phải cận thận kiểm
tra trước khi cho ăn. Không nên cho trâu bò ăn thân là lạc đơn điệu mà nên cho
ăn cùng với các loại thức ăn khác.
-Ngọn lá sắn: Ước tính hằng năm ở nước ta có hơn 1 triệu tấn ngọn lá sắn
tươi sau khi thu hoạch củ, còn được ít sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Ngọn lá
sắn tuy giàu protein nhưng lại chứa độc tố xyanoglucozit làm gia súc chậm lớn
hoặc có thể gây chết khi sử dụng hàm lượng cao. Nấu chín ngọn lá sắn làm giảm
độc tố nhưng lại tiêu tốn nhiều chất đốt và lao động. Ủ chua ngọn lá sắn có thể
loại bỏ gần như hoàn toàn độc tố, lại dữ trữ được lâu dài cho trâu bò ăn. Có thể
thu ngọn lá sắn (bẻ đến phần còn lá xanh) trước khi thu hoạch củ 20-30 ngày
không hề ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng củ sắn. Một sào sắn có thể thu
được 200-250kg ngọn lá sắn tươi. Đây là nguồn thức ăn có giá trị trong chăn nuôi.
-Phụ phẩm dứa: Bao gồm chồi ngọn quả dứa, vỏ dứa, bã ép, các vụn
thừa sau quá trình chế biến hay toàn bộ cây dứa của những vùng trồng dứa
phá đi sau hai năm thu hoạch trồng mới lại một lần. Một ha dứa phá đi trồng
lại sẽ cho 50 tấn thân lá; mỗi tấn dứa chế biến để lại 750kg phụ phẩm.(Lê
15


đức ngoan-dư thanh hằng).
- Bã sắn là phụ phẩm của quá trình chế biến tinh bột sắn từ củ sắn. Bã sắn
chứa nhiều tinh bột (khoảng 60%) nhưng lại nghèo chất đạm. Do đó, khi sử
dụng bã sắn nên trộn và cho ăn thêm urê hoặc bã đậu nành. Bã sắn có thể dự trữ
được khá lâu do một phần tinh bột trong bã sắn bị lên men và tạo ra pH = 4-5.
Bã sắn tươi có vị hơi chua, gia súc nhai lại thích ăn. Mỗi ngày có thể cho mỗi
con bò ăn khoảng 10-15 kg bã sắn tươi. Cũng có thể phơi, sấy khô bã sắn để làm
nguyên liệu phối chế thức ăn hỗn hợp.
-Bã đậu nành là phụ phẩm của quá trình chế biến hạt đậu nành thành đậu


dụng cụ chứa đựng.
3. Lần lượt rải rơm theo từng lớp (20 cm) vào hố ủ, khuấy đều dung dịch
urê - muối và dùng ôzoa tưới đều lên rơm; lần lượt tiến hành như vậy cho tới khi
hết lượng rơm cần ủ.
4. Dùng vật liệu đệm lót phủ kín lại, có thể dùng gạch, ngói, củi khô chặn
lên để đống rơm ủ luôn kín trong suốt thời gian ủ.
Lưu ý: Nơi ủ phải chọn nơi khô ráo, tránh nước mưa và nước từ nơi khác
thấm vào.
Cách sử dụng:
+ Rơm ủ kín trong thời gian 10-20 ngày bắt đầu lấy ra cho gia súc ăn.
+ Rơm ủ đạt chất lượng chế biến tốt sẽ có màu vàng đậm, mùi urê, không
có mùi nấm mốc, rơm ẩm và mềm đều.
+ Khi lấy rơm ủ cho gia súc ăn chỉ nên lấy ra ở một góc (không lật toàn bộ
lớp đệm lót che phủ) lấy rơm xong lại lấp lớp đệm lót che phủ lên cho kín.
+ Cho gia súc ăn tự do tuỳ khả năng của chúng. Đối với một số con biếng
ăn, có thể phơi rơm đã chế biến trong bóng mát 30-45 phút để bay bớt mùi urê,
trước khi cho ăn hoặc rắc lên một chút cỏ xanh để chúng quen dần với mùi urê
trong rơm ủ.
2.5.2.2 .Ủ chua thức ăn
- Ủ chua ( còn gọi ủ silô hay ủ xanh) là đem thức ăn xanh xếp chặt vào hố
ủ, trong quá trình ủ nhờ hoạt động của vi sinh vật, axit hữu cơ, đặc biệt là axit
lactic sẽ hình thành, làm giảm độ pH của khối ủ nhờ vậy thức ăn được bảo quản
trong một thời gian dài mà không bị hư hỏng. Có hai phương pháp ủ chua là ủ
chua axit và ủ chua vi sinh vật. Ủ chua axit là quá trình làm giảm độ pH nhờ
thêm vào trong thức ăn một số axit vô cơ, hữu cơ. Trong khi đó, ủ chua vi sinh
vật là quá trình làm giảm độ pH khối ủ nhờ vi sinh vật có sẵn trong thức ăn
- Kỹ thuật ủ chua có thể áp dụng cho tất cả các loại cây thức ăn xanh. Chất
lượng thức ăn ủ chua không chỉ phụ thuộc vào nguyên liệu ủ( loại cây cỏ, giai
đoạn thu cắt, độ ẩm, hàm lượng đường...) mà còn phụ thuộc vào kĩ thuật ủ.

- Sử dụng thức ăn ủ xanh: thức ăn ủ sau 3 tuần có thể lấy ra sử dụng, tuy
nhiên cũng có thể dữ trữ trong thời gian dài 3-6 tháng. Khi đã lấy ra sử dụng thì
lấy liên tục cho đến hết, không lấy dở ròi lấp đi. Hằng ngày cho ăn bao nhiêu thì
lấy bấy nhiêu không thừa lại bữa sau. Lúc đầu gia súc chưa quen thì luyện cho
quen dần, ăn từ ít đến nhiều trong vòng 5-7 ngày. Nếu thức ăn ủ chua chất lương
tốt có thể cho ăn 5-7kg/100kg thể trọng. Gia súc có thai kỳ cuối, gia súc nuôi
con, gia súc non không nên cho ăn nhiều thức ăn ủ xanh.
2.6 Tình hình trang trại chăn nuôi bò hiện nay ở Việt nam
2.6.1 Khái niệm về trang trại
- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại
trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá
- Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp
lý có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội.
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, có
tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán
kinh tế).
+ Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
18


- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản
lý khác nhau.
- Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song
tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại
thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong
và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên
môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau.
2.6.2 Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tế

trồng thuỷ sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất đai để
mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương
còn được uỷ ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại.
- Hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng và khả năng tạo dựng cơ
nghiệp lâu dài từ sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản được uỷ ban
nhân dân xã cho thuê đất để làm kinh tế trang trại.
- Hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác nếu có nguyện vọng lập nghiệp
lâu dài,có vốn đầu tư để phát triển trang trại được uỷ ban nhân dân xã sở tại cho
thuê đất để phát triển trang trại.
Diện tích đất được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương
và khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang traị.
- Hộ gia đình, cá nhân được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê hoặc
thuê lại quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để phát
triển trang trại theo quy định của pháp luật. Người nhận quyền chuyển nhượng
hoặc thuê quyền sử dụng đất hợp pháp có các quyền và nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nhưng chưa được giao, chưa được thuê
hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy
chứng nhận trước ngày ban hành nghị quyết nếu không có tranh chấp sử dụng
đất đúng mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê đất và được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách
nhiệm chỉ đạo cơ quan địa chính khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, để các chủ trang trại yên tâm đầu t phát triển sản xuất.
2.6.4.2 Chính sách thuế
- Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển
kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá
ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho các trang trại với thời gian tối đa
theo nghị định số 51/2004/NĐ-CP ngày 08/07/2004 của Chính Phủ về quy định
chi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi)số 03/2003/.

tiền vay theo quy định tại nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 29/12/2004 của
Chính Phủ về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng.
2.6.4.4 Chính sách lao động:
- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho người lao động ở
nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản
xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm. Chủ trang trại đợc thuê lao động
không hạn chế về số lượng trả công trên cơ sở thoả thuận với ngời lao động theo
quy định của pháp luật về lao động. Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ
lao động theo từng loại nghề cho ngời lao động và có trách nhiệm đối với ngời
lao động khi gặp rủi do,tai nạn,ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng
lao động.
- Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn chủ trang
trại đợc ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm xoá đói giảm
nghèo để tạo việc làm cho người lao động tại chỗ thu hút lao động ở các vùng
đông dân cư đến phát triển sản xuất.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status