ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- LUẬT
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------
BÀI TIỂU LUẬN
NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG VĂN
HÓA KINH DOANH CỦA NHẬT BẢN
Môn học: VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
GVHD: TS. Phan Đình Quyền
Lớp: K12407B
Thực hiện đề tài: Nhóm 1
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2015
DANH SÁCH NHÓM
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1.
KHÁI QUÁT NỀN VĂN HÓA NHẬT BẢN
1.1 Lịch sử
Hình tượng nổi bật trong quá trình hình thành và phát triển của Nhật Bản là “Samurai”
- Võ sĩ đạo.
gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Cạnh tranh
và hiệp tác được thúc đẩy song hành. Hàng chục năm qua đi, những phẩm chất đó đã trở
thành những nét mới, bền chắc và định hình thành Văn hóa Doanh nghiệp Nhật Bản. Không
ai nghi ngờ gì nét văn hóa đó đã giúp nhiều doanh nhân Nhật Bản gặt hái được nhiều thành
công, Nhật Bản trở thành cường quốc thứ II trong nền kinh tế thế giới.
1.2 Địa lý
Nhật Bản là một nước nằm ngoài khơi bờ phía đông lục địa châu Á, gồm bốn đảo lớn
là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku, cùng 4000 đảo nhỏ với tổng diện tích là 377.829
km2, ngang với diện tích của bang California của Mĩ. Quần đảo Nhật Bản được tạo thành từ
các ngọn núi cao nổi lên từ một dãy núi nằm sâu dưới biển Thái Bình Dương, vì vậy 80%
diện tích đất nước là vùng núi trong khi vùng bình nguyên thường nhỏ và hẹp, đất dành cho
trồng trọt là rất ít. Các dãy nũi chạy dọc suốt đất nước, mà đa phần là núi lửa, hiện nay có
khoảng hơn 80 ngọn núi lửa đang hoạt động, đi theo đó là những trận động đất được đánh
giá là xảy ra nhiều hơn bất cứ nước nào trên thế giới.
Khí hậu đất nước tương đối ôn hòa, nhìn chung có thể phân biệt ra bốn mùa khá rõ rệt,
và bốn vùng khí hậu – vùng duyên hải Nhật Bản có nhiều tuyết về mùa đông, vùng duyên
hải Thái Bình Dương có nhiều mưa trong mùa hè, vùng sâu trong lục địa có lượng mưa ít
hơn và vùng các đảo phía Nam trời ấm quanh năm. Sự khác biệt về khí hậu được phản ảnh
trong nếp sống của người dân ở những vùng khác nhau.
Các đặc điểm trên đã tạo nên một nước Nhật có rất ít tài nguyên, nguyên liệu, lượng
mưa tuy nhiều song lại tập trung ở những thời gian ngắn trong năm, độ dốc của địa hình lại
lớn nên hầu như lượng mưa này đổ ra biển, nên không được sử dụng vào thủy điện. Một đất
nước vốn dĩ nghèo nàn về tài nguyên, có nhiều thiên tai, kinh tế chủ yếu là nông - ngư
nghiệp và sự ảnh hưởng của Tam Giáo Đồng Nguyên du nhập nên người Nhật Bản coi
trọng: Tinh thần tập thể - Hài hòa Thiên Nhân Địa - Đề cao sự hợp lí - Sự ứng xử theo thứ
tự coi trọng Lễ, Tín, Nghĩa, Trí, Nhân. Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các
6
điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những
Ngôn ngữ Nhật Bản có nhiều mặt hạn chế (rất ít các nguyên âm, phụ âm luôn đặt trước
nguyên âm, một tỉ trọng lớn từ ngữ gốc ngoại nhập được thể hiện dưới dạng chữ Kanji và
chữ Katakana) góp phần khiến người Nhật Bản rất cẩn trọng khi phát biểu, thể hiện chính
kiến, và thường thông qua thái độ ngầm định, những yếu tố phi ngôn ngữ, sự nỗ lực thể hiện
của bản thân để điền vào chỗ trống của ngôn từ. Bởi vậy để hiểu họ thường phải kết hợp
nghe họ nói, quan sát những gì họ thể hiện và thấu hiểu tính cách của họ.
1.4 Tôn giáo
Theo truyền thống Nhật Bản, tôn giáo không phải là một tổ chức tách biệt với cuộc
sống hàng ngày mà gắn liền với mọi khía cạnh trong cuộc sống kinh tế và xã hội. Các lễ
nghi theo suốt cuộc đời một con người, từ lúc sinh ra đến lúc lập gia đình và xuống cõi âm.
Tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực như tư tưởng, kiến trúc, văn hóa-nghệ
thuật của người Nhật.
Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn
giáo. Ba tôn giáo lớn của Nhật Bản là Thần đạo (Shinto), Phật giáo và Cơ đốc giáo (bao
gồm tin lành và thiên chúa giáo). Nét đặc biệt ở tôn giáo Nhật là có những người một lúc
theo hai hoặc ba đạo. Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm
mới, đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào mùa xuân nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà
nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên chúa. Các đám cưới thường được tổ chức
theo nghi lễ của thần đạo hoặc đạo thiên chúa. Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hàng theo
nghi lễ của đạo phật.
Thần đạo có nguồn gốc từ thuyết vật linh của người Nhật cổ. Thần đạo cho rằng cây
cối, loài vật trong thiên nhiên đều có quỉ thần nên phải được thờ cúng, dạy người ta phải tôn
trọng thiên nhiên, khuyên bảo con người sống hài hòa với thiên nhiên. Các vị thần Shinto
(kami) được thờ cúng trong các ngôi đền đặc trưng bởi những chiếc cổng và hành lang bằng
gỗ sơn đỏ. Mọi vật mọi hiện tượng đều được coi là có kami và như vậy có nhiều vị thần
Shinto. Tư tưởng của đạo Shinto đi sâu vào đời sống của người dân nước này. Đó là sự hài
hòa trong nếp sống đã tạo nên những nét đặc biệt trong giao thiệp của con người Nhật Bản.
Biểu hiện thường thấy rõ nhất là cách cúi chào của họ, bằng cách gập người xuống và hạ độ
thấp tùy thuộc vào địa vị xã hội của hai người. Đây là một dấu hiệu quan trọng để bày tỏ sự
chính trị - xã hội đã tạo ra cho VHDN Nhật Bản những nét đặc trưng riêng, phân biệt
với VHDN của các quốc gia khác. VHDN Nhật Bản có 4 đặc trưng chủ yếu nhất đựợc
coi là những nhân tố làm nên sự thần kỳ cho các doanh nghiệp Nhật Bản đó là: Quản lý
10
theo chủ nghĩa tập thể, chế độ tuyển dụng suốt đời, chế độ đãi ngộ theo thâm niên công
tác và tổ chức công hội. Bên cạnh các giá trị chủ yếu đó, VHDN Nhật Bản ngày nay
còn được biết đến với đặc trưng về tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, chất
lượng đã góp phần đáng kể vào sự thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản ngày
nay.
•
Quản lý theo chủa nghĩa tập thể- tính trọng tập thể
Phương thức quản lý lấy chữ “hòa” làm tư tưởng chủ đạo trong xây dựng doanh
nghiệp. Mỗi người đều phải đặt “hòa” của tập thể ở vị trí thứ nhất, dung hợp chủ trương
của cá nhân và lợi ích của cá nhân. Tập thể có thể từ một gia đình mở rộng tới thôn
trang, sau đó mở rộng tới quy mô doanh nghiệp và thậm chí là phạm vi một quốc gia.
Doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng doanh nghiệp là người và người lại là chủ thể của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp Nhật Bản chủ trương, doanh nghiệp là cộng đồng có tổ
chức, mỗi thành viên của nội bộ phải cùng tham gia với doanh nghiệp về các quyết sách
kinh doanh. Trên thực tế, kinh doanh là từ trên cơ sở “kinh doanh theo chủ nghĩa dân
tộc” mà tiến hóa nên. Kinh doanh theo chủ nghĩa tập thể dùng “quản lý tình cảm” với
thống nhất và hòa hữu thay cho “quản lý hợp đồng” kiểu Mỹ, làm cơ sở cho mối liên hệ
giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp.
Kinh doanh theo chủ nghĩa tập thể biểu hiện ở việc toàn thể mọi nhân viên đều tham
gia quản lý. Ví dụ quyết sách tập thể, quản lý chất lượng toàn diện... Trong phương thức
ấy mọi quyết sách trọng đại đều cần có các nhân viên của các bộ phận thảo luận đầy đủ
sau đó lãnh đạo cấp cao đưa ra quyết định cuối cùng, bởi từ dưới lên trên các tầng lớp
Do sự khác biệt về triết học quản lý, nếu như ở các quốc gia phương Tây, thực hiện
chế độ trả lương theo năng lực làm việc thì ở Nhật Bản thâm niên công tác được lấy làm
thước đo đánh giá.
Theo chế độ này, căn cứ theo quá trình độ, tuổi tác, thâm niên, năng lực, hiệu quả...
mà xác định hình thức đãi ngộ cho nhân viên. Chế độ này có tác dụng rất lớn đối với
việc kích thích tính tích cực, củng cố lòng trung thành, ngăn ngừa việc nhân viên bỏ
việc, dung hòa những mẫu thuẫn xảy ra giữa doanh nghiệp và nhân viên. Chế độ này
hiện vẫn đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp Nhật Bản.
•
Triết lý kinh doanh- Triết lý 5S
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, áp dụng triết lý 5S, từ một đất nước nghèo nàn, bị
tàn phá nặng nề sau chiến tranh, sau 30 năm Nhật bản đã trở thành một cường quốc
đứng thứ hai thế giới.
5S là chữ cái đầu của các từ theo tiếng Nhật là: “Seri”, “Seiton”, “Seiso”, “Seiketsu”
và “Shitsuke”. Theo tiếng Việt là: “sàng lọc”, “sắp xếp”, “sạch sẽ”, “săn sóc” và “sẵn
12
sàng”. Theo tiếng Anh là: “Sort”, “Set in order”, “Standardize”, “Sustaint” và “Selfdiscipline” (Hình 2.1).
-
Seri (Sàng lọc): Là xem xét, phân loại, chọn lựa và loại bỏ những thứ không
cần thiết tại nơi làm việc.
Seiton (Sắp xếp): Là bố trí, sắp đặt mọi thứ ngăn nắp theo trật tự hợp lý để dễ
-
những cải tiến hàng ngày được thực hiện liên tục và đòi hỏi ý thức tham gia của mọi
thành viên trong doanh nghiệp từ lãnh đạo cho tới nhân viên cấp thấp nhất. Khi không
có sự nỗ lực cải tiến liên tục thì sự xuống cấp là không tránh khỏi. Do đó, thậm chí khi
đổi mới tạo ra một chuẩn mực hoạt động mới tồn tại thì mức hoạt động mới cũng sẽ suy
giảm nếu như chuẩn mực này không được bổ sung và cải tiến liên tục. Do vậy, bất cứ
khi nào đổi mới đạt được thì nó phải được tiếp nối với các hoạt động của Kaizen để duy
trì và cải tiến nó. Thông thường, có hai cách tiếp cận để nâng cao năng suất trong các
công ty:
Cách tiếp cận từng bước – Kaizen và cách tiếp cận mang tính đột phá - Đổi mới.
Trên thực tế, các công ty Nhật thường chú trọng thực hiện Kaizen hoặc chương trình có
sự tham gia của nhân viên vì các chương trình này nằm trong tầm kiểm soát của các cán
bộ quản lý, ít tốn kém và nó giúp nâng cao chất lượng công việc, ghi nhận sự tham gia
của nhà quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và giảm chi phí hoạt động.
Thiên hướng của Kaizen là luôn hướng đến các giá trị tinh thần mang lại cho bản thân
doanh nghiệp và các nhân viên của doanh nghiệp, tạo ra các giá trị tiềm năng về tiến bộ
và phát triển. Trong khi Kaizen là một quá trình liên tục thì đổi mới thường là hiện tượng
tức thời, mang tính đột phá và gây ra những tác động mạnh cho doanh nghiệp.
-
So sánh Kaizen và đổi mới
Nội dung
Kaizen
Dài hạn nhưng không gây
Tính hiệu quả
ấn tượng
Nhịp độ
Các bước nhỏ
Khung thời gian Liên tục và gia tăng
Thay đổi
Đầu tư lớn
Định hướng
Đánh giá
Con người
Quá trình và nỗ lực
Công nghệ
Kết quả đối với lợi nhuận
2.1.3 Thực trạng
VHDN Nhật Bản ngày nay có thể coi là sự pha trộn giữa văn hóa truyền thống
dân tộc và pha trộn có chọn lọc những kinh nghiệm của các quốc gia châu Âu, người Mỹ
và một phần khá lớn nguyên nhân của những thành công là nhờ thích ứng và cải tiến
trong nước. Chiến lược tối ưu đã được đưa ra là sưu tầm và cóp nhặt những công nghệ
được coi là tốt nhất, có đặc trưng chất lượng cao nhất, thiết kế hoàn hảo nhất sau đó
chạy đua để chiếm lĩnh thị trường thế giới. Trên thực tế, Nhật Bản đã làm được điều đó
và khiến cả thế giới phải kinh ngạc.
2.1.3.1 Cấp độ thực tế hữu hình
•
Kiến trúc trụ sở- Quan niệm ẩn về không gian
Kiến trúc trụ sở của các doanh nghiệp luôn được quan tâm vì đó là môi trường để
nhân viên làm việc và sáng tạo. Các xí nghiệp, văn phòng làm việc của Nhật Bản bao
giờ cũng được giữ sạch sẽ, gọn gàng.
•
2.1.3.2 Cấp độ các giá trị và nguyên tắc
•
Triết lí kinh doanh
Có thể nói rất hiếm các doanh nghiệp Nhật Bản không có triết lí kinh doanh. Điều
này có ý nghĩa như mục tiêu xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng lâu dài. Thông qua
triết lý kinh doanh, doanh nghiệp tôn vinh một hệ giá trị chủ đạo xác định nền tảng
cho sự phát triển. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Nhật Bản sớm ý thức được tính xã
hội hóa ngày càng tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh , nên triết lí kinh doanh
còn có ý nghĩa như một thương hiệu, cái bản sắc của doanh nghiệp.
Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo Các doanh nhân Nhật Bản
luôn đề cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, các cam kết kinh doanh , đi
trước thị trường và kết hợp hài hòa các lợi ích. Cải tiến liên tục, ở từng người, từng
bộ phận trong các doanh nhân Nhật Bản để tăng tính cạnh tranh của doanh nhân và
thỏa mãn khách hàng tốt hơn.
Một ví dụ điển hình có thể kể đến đó là hệ thống sản xuất Toyota nổi tiếng cho tới
nay vẫn còn được áp dụng một cách rộng rãi, được biết đến nhiều hơn với cái tên
Just In Time – J.I.T (thường được dịch là sản xuất tức thời hay hệ thống vừa đủ). Kết
quả mà J.I.T đưa lại là sự cắt giảm mạnh mẽ đầu tư trong các bảng kiểm kê, tất cả
hầu như tụt xuống dưới mức giới hạn dưới. Các nhà cung cấp giao hàng đúng thời
hạn để đáp ứng nhu cầu hiện thời về vật liệu và phụ tùng. Chính ưu điểm mà người ta
dễ nhận thấy nhất của quá trình này, sẽ đưa J.I.T trở thành yếu tố góp phần chính cho
việc giảm giá thành, mang lại hiệu quả trong sản xuất.
16
•
Sáng kiến và cải tiến trong các doanh nghiệp - Trọng động
Tinh thần không ngừng học hỏicông nghệ từ các quốc gia khác - Sự kết hợp văn
hóa Đông- Tây
Lịch sử ghi nhận Nhật Bản là một quốc gia không ngừng học hỏi những công
nghệ tiến bộ của các quốc gia khác. Quá trình phát triển công nghệ của Nhật Bản như
17
lịch sử chạy đua không ngừng cùng sự phát triển của loài người. Từ những năm 50
sự phát triển công nghệ luôn song hành với sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Dù
có những quan điểm cho rằng các doanh nghiệp Nhật Bản đã không sáng tạo mà là
sao chép, bởi trước đây khuynh hướng chính trong phát triển kỹ thuật của các doanh
nghiệp Nhật Bản là áp dụng, sàng lọc và nâng cấp công nghệ nước ngoài. Tuy nhiên,
không ai có thể phủ nhận rằng Nhật Bản đã sao chép một cách “quá tài tình” những
công nghệ ấy, biến những công nghệ tưởng chừng như chỉ phát triển ở một quy mô
nhỏ trở thành những triết lý, để rồi cả thế giới khi nhắc đến đều coi Nhật Bản mới là
quốc gia đã thực sự sinh ra những triết lý đó.
2.1.3.3 Các quan niệm và giả định cơ bản
Khi so sánh giữa VHDN các nước có thể dễ dàng nhận thấy không VHDNcủa
quốc gia nào có thể mạnh mẽ như ở Nhật Bản do Nhật Bản là một quốc gia coi trọng
văn hóa truyền thống và những quan niệm ngầm định này lại thường xuất phát từ văn
hóa dân tộc. Những quan niệm này rất khó thay đổi bởi đây là một phần trong tính
cách, lối sống của tập thể.
•
Chủ nghĩa tập thể - Quan niệm về mối quan hệ giữa người với người
Đơn độc, xa lạ và tách biệt với nhóm người là nỗi sợ hãi của người Nhật Bản. Vì
vậy, chủ nghĩa tập thể với nghĩa tận tụy và đồng hóa hoàn toàn với một nhóm người
trở thành một giá trị văn hóa. Chủ nghĩa tập thể bắt đầu từ thời trước với những quan
Sự tuân phục - Quan niệm về mối quan hệ giữa người với người
Hiếm có ở một quốc gia nào mà sự tuân phục của nhân viên đối với nhà lãnh đạo
lại mạnh mẽ như ở Nhật Bản. Các nhân viên thể hiện một sự tuân phục tuyệt đối với
cấp trên, sự tôn trọng với những người có kinh nghiệm trong doanh nghiệp. Điều này
được lý giải từ những quan niệm đặc trưng trong VHDN Nhật Bản, nhân viên phải có
sự biết ơn, tôn kính với những người đã cho mình việc làm, tạo cho mình nguồn thu
nhập để nuôi sống gia đình.
•
Đối nhân xử thế khéo léo - Quan niệm về mối quan hệ giữa người với người
Trong quan hệ, người Nhật Bản chấp nhận những sai lầm, nhưng không cho phép
lặp lại và tinh thần sửa chữa luôn thể hiện ở kết quả cuối cùng. Người Nhật Bản có
qui tắc bất thành văn trong khiển trách và phê bình như sau: Người khiển trách là
người có uy tín, được mọi người kính trọng và chính danh " Không phê bình khiển
trách tùy tiện, vụn vặt, chỉ áp dụng khi sai sót có tính hệ thống, gây lây lan, có hậu
quả rõ ràng ". Phê bình khiển trách trong bầu không khí hòa hợp, không đối đầu.
•
Làm việc nhóm
Trong các doanh nghiệp Nhật Bản làm việc nhóm trở nên rất điển hình, nói rằng
người Nhật Bản dường như ở một mình thì họ không chịu được nhưng nếu tập trung
quá đông thì họ cũng không chịu được. Một nhà văn hóa nhân loại học của Nhật Bản
có nói rằng: “Ở Nhật Bản không có những bữa tiệc lớn, chỉ có nhiều những tập hợp
có tính cá nhân, tập hợp của những quan hệ có thể sưởi ấm nhau bằng da thịt mà
19
huấn luyện đội ngũ bán hàng.
20
2.2.2 Đánh giá cao lòng trung thành- Quan niệm về bản chất của sự thật và chân lý
Những người lao động Nhật thường làm việc cho một công ty, công sở suốt đời.
Họ được xếp hạng theo bề dày công tác. Trong các công ty của Nhật luôn có tổ chức
công đoàn. Lòng trung thành đối với công ty và cấp trên được xem như một phẩm chất
đạo đức cao quý. Vì vậy mà luôn cố gắng tạo được một niềm tin cho nhân viên đối với
một doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật đã tạo cho công ty một không khí
làm việc như một gia đình, các thành viên gắn bó với nhau chặt chẽ và được sự quan
tâm của lãnh đạo. Doanh nghiệp là một chủ thể thống nhất. Người Nhật quan tâm đến
lợi ích doanh nghiệp và người làm trong doanh nghiệp, thay vì chỉ quan tâm đến lợi
nhuận như ở phương Tây. Sự thống nhất giữa doanh nghiệp và người làm trong doanh
nghiệp đã tạo cho nhận viên lòng trung thành cao, nó ảnh hưởng đến quá trình quản trị
doanh nghiệp.
2.2.3 Coi trọng sự hòa thuận- Trọng giá trị chung
Đối với người Nhật, tỏ thái độ bất đồng được xem là thô thiển, họ thích nói nhẹ
nhàng, lịch sự. Có quan niệm cho rằng giá trị quan trọng nhất với người Nhật là chữ
“hòa”, “hòa” tức là cùng chung sống yện ổn, không xích mích với nhau. Tránh tiếp xúc
một cách trực tiếp với nhau ngay từ đầu để tránh xung đột và gia tranh trở thành tư
tường cơ bản của người Nhật, thấm thuần trong từng hành động và tập quán của họ.
Khi giao tiếp với người Nhật cần chú ý tới hành động và cảm xúc của họ hơn lời nói.
Trong giao tiếp người Nhật không muốn có sự đối đầu, họ tin tưởng vào sự thỏa
hiệp và hòa giải. Họ sẽ nói ra cảm xúc thật của họ vì muốn duy trì mối quan hệ hòa
thuận. Trong giao dịch làm ăn luôn mong có sự hợp tác lâu dài bền vững nên họ tìm
hiểu rất kỹ về đối tác. Người Nhật không quen với việc tranh luận vì họ không muốn
tách mình ra khỏi tập thể.
Khi hợp tác với Nhật, chúng ta cần cung cấp đầy đủ thông tin về doanh nghiệp cũng
Luôn mang theo danh thiếp.
Không được cất danh thiếp trong túi quần.
2.2.4.2 Về giờ giấc - Quan niệm ẩn về thời gian
Với quỹ thời gian eo hẹp của cuộc sống công nghiệp, công chức Nhật rất quan
tâm tới vấn đề thời gian nếu có cuộc hẹn. Họ tỏ ra khó chịu khi phải đợi và rất mất
cảm tình với người sai hẹn. Bạn có thể đánh mất cơ hội khi trễ hẹn với người Nhật.
Đúng giờ thể hiện tinh thần trách nhiệm, lối sống khoa học và sự chuyên nghiệp
trong công việc của một người.
Một số quy tắc đúng giờ của người Nhật:
-
Nhân viên trong công ty Nhật luôn được yêu cầu phải giữ đúng hẹn, không
được để khách hàng chờ.
22
-
Việc đến trước giờ hẹn 5 phút được xem là văn hóa tối thiểu của người đi
-
làm.
Hẹn qua điện thoại trước khi đến công ty được xem như một phép lịch sự.
Nếu vì một lí do nào đó bạn không thể đến công ty đúng giờ thì bạn cần
-
thông báo qua điện thoại.
Tinh thần làm việc chăm chỉ, hiệu quả, tính kỷ luật cao- Bản chất con người
Nền kinh tế Nhật Bản phát triển vượt trội và hùng mạnh không phải nhờ vào sự
may mắn hay ngẫu nhiên, Để tạo được các thành quả đó, đương nhiên phải xuất phát từ
những ý kiến mới, những tư duy mới, sáng tạo . Đặc biệt đó chính là nhờ vào tinh thần
đoàn kết và phong cách làm việc của người Nhật.
Phong cách làm việc của người Nhật còn gắn liền với tính nguyên tắc, kỉ luật
được thể hiện mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt là trong công việc. Khi làm việc. Cái gì đã là
nguyên tắc thì cứ thế mà làm, không có ngoại lệ. Nếu bạn có phải giải quyết một thủ tục
nào đó mà bị thiếu một thứ giấy tờ, tốt nhất đừng trình bày, kể lể dài dòng mất thời giờ
mà nên quay về hoàn thành đầy đủ những thứ theo quy định, chắc chắn sẽ được giải
quyết.
Tính nguyên tắc của người Nhật còn thể hiện ở sự tuân thủ pháp luật một cách tự
giác. Ví dụ việc chấp hành tín hiệu giao thông chẳng hạn. Cho dù đêm khuya thanh
vắng, không một bóng người, đèn đỏ vẫn là đèn đỏ, phải đỗ lại. Kể cả ô tô, xe máy,
người đi bộ đều chấp hành nghiêm chỉnh.
Thái độ làm việc theo tác phong công nghiệp là đặc điểm nổi bật và được đánh
giá cao của người Nhật. Họ đặt công việc lên hàng đầu, trong các doanh nghiệp hay
công sở ý thức chấp hành kỷ luật rất nghiêm túc.
Cần cù cũng là một yếu tố để chọn lựa lao động nước ngoài, Việt Nam lại là một
trong những nước đáp ứng được yêu cầu này nên rất thuận lợi trong việc xuất khẩu lao
động sang Nhật.
2.2.6 Trọng nam khinh nữ
Cho dù chính phủ đã cố gắng ban hành nhiều điều luật để làm giảm sự phân biệt
nam nữ nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn khá phổ biến trong xã hội, tỷ lệ phụ
nữ nghỉ việc sau khi kết hôn là khá lớn, vai trò đi làm đa số vẫn là nam giới, nên chúng
ta rất ít gặp những đối tác kinh doanh là nữ. Điều này cũng ảnh hưởng đến một số mặt
trong giao tiếp kinh doanh.
một, hai tiếng chuông và xưng tên công ty, không được để khách chờ. Trường hợp nếu
bận công việc mà sau ba tiếng chuông mới nhấc máy thì câu nói đầu tiên là xin lỗi. Khi
gọi điện thoại phải cố gắng nói ngắn gọn nội dung công việc để không làm mất thời gian
của người nghe, thậm chí cần phải ghi những điều cần nói trước khi bấm số.
25