TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHỮNG NÉT ĐẶC TRƢNG TRONG VĂN HOÁ
KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MỸ
2. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VHKD 8
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA KINH DOANH 10
4. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NÊN VHKD 11
5. VAI TRÒ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA KINH DOANH 18
5.1. ẢNH HƯỞNG CỦA VHKD 18
5.2. VAI TRÒ CỦA VHKD 22
5.2.1. VĂN HÓA KINH DOANH LÀ NGUỒN LỰC TẠO RA LỢI
THẾ CẠNH TRANH 22
5.2.1.1. VĂN HÓA KINH DOANH TẠO NÊN PHONG THÁI CỦA
DOANH NGHIỆP 22
5.2.1.2. VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠO NÊN LỰC HƯỚNG TÂM
CHUNG CHO DOANH NGHIỆP 23
5.2.2. VĂN HÓA DOANH NGHIỆP “TIÊU CỰC” LÀ YẾU TỐ KÌM
HÃM SỰ PHÁT TRIỂN 24
6. TÍNH CHẤT MẠNH – YẾU CỦA DOANH NGHIỆP 26
CHƢƠNG II: NHỮNG NÉT ĐẶC TRƢNG TRONG VĂN HÓA KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MỸ 30
1. GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƢỚC VÀ CON NGƢỜI MỸ 30
1.1. ĐẤT NƯỚC MỸ 30
1.1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 30
1.1.2. LỊCH SỬ 30
1.1.3. CHÍNH TRỊ 31 1.1.4. KINH TẾ 33
1.1.4.1. NỀN KINH TẾ DỊCH VỤ 35
1.1.4.2. DOANH NGHIỆP MỸ 36
1.1.4.3. ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 39
1.2. CON NGƯỜI MỸ 40
2. NHỮNG YẾU TỐ LÀM NÊN VĂN HÓA KINH DOANH MỸ 42
3.2.2.6. NỀN VĂN HÓA MANG TÍNH HỌC HỎI 78
3.2.2.7. NỀN VĂN HÓA CỦA NHỮNG NHÓM NHỎ 79
CHƢƠNG III: BÀI HỌC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM 80
1. THỰC TRẠNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM 80
1.1. VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 80
1.1.1. PHÂN CẤP QUYỀN LỰC 80
1.1.2. MỨC ĐỘ NÉ TRÁNH RỦI RO 81
1.1.3. CHỦ NGHĨA TẬP THỂ VÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN 82
1.1.4. TÍNH ĐỐI LẬP GIỮA NAM VÀ NỮ 83
1.2. ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU 84
1.2.1. ĐIỂM MẠNH 84
1.2.2. ĐIỂM YẾU 85
2. BÀI HỌC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 86
2.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU, HỌC HỎI TỪ VHKD
CỦA CÁC DN MỸ 86
2.2. BÀI HỌC CHO DN VIỆT NAM TỪ VĂN HÓA KINH DOANH
MỸ 87
2.2.1. XÁC ĐỊNH MỤC ĐÍCH VÀ PHƢƠNG HƢỚNG KINH
DOANH ĐÚNG ĐẮN 87
2.2.2. XÂY DỰNG MỘT MÔ HÌNH KINH DOANH LÝ TƢỞNG,
NĂNG ĐỘNG VÀ TIẾN BỘ 89
2.2.3. XÂY DỰNG HÌNH ẢNH DOANH NGHIỆP TRONG CỘNG
ĐỒNG 89
3. ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG CÁC BÀI HỌC TỪ
VHKD CỦA CÁC DN MỸ VÀO CÁC DN VIỆT NAM 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
không biên giới, sự di chuyển dòng ngƣời từ quốc gia này sang quốc gia khác
cũng không còn là điều mới mẻ. Những nhân viên từ các quốc gia khác đến
mang trong mình nền văn hóa của đất nƣớc mình phải hòa nhập với nền văn
hóa của quốc gia cũng nhƣ của doanh nghiệp nƣớc ngoài mà mình làm việc.
Việt Nam cùng với sự phát triển của mình đang ngày càng có nhiều
doanh nghiệp nƣớc ngoài vào hợp tác đầu tƣ, đặc biệt là các tập đoàn Mỹ và
đã thu hút đƣợc nhiều nhân viên Việt Nam vào làm việc. Do vậy, việc hiểu
đƣợc văn hóa kinh doanh của các của các doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp
Mỹ là điều cần thiết.
2
Trong khuôn khổ những kiến thức đã đƣợc học và tiếp thu, em xin
mạnh dạn thử sức mình với một đề tài tuy không mới nhƣng có lẽ vẫn còn
thiết thực và quan trọng trong đời sống kinh doanh ngày nay. Đó là: “Những
nét đặc trƣng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ”.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của đề tài
Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề về văn hóa kinh doanh nói
chung và những nét đặc trƣng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp
Mỹ từ đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Em hy vọng khóa luận này phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam
có đƣợc những thông tin cần thiết về đất nƣớc, con ngƣời và đặc biệt là văn
hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp Mỹ. Từ đó rút ra bài học cho các
doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng giao thƣơng với các doang nghiệp
Mỹ cũng nhƣ xây dựng cho mình một nền văn hóa kinh doanh của doanh
nghiệp vững mạnh.
3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về những nét đặc trƣng trong VHKD của các DN
Mỹ, đƣa ra những khái niệm về VHKD, VHDN, những nét đặc trƣng đồng
4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1. KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1.1. Khái niệm chung về văn hóa
Ngày nay, hai chữ “văn hóa” đã không còn xa lạ với hầu hết mọi
ngƣời, tuy nhiên, có mấy ai biết đƣợc rằng bản thân từ “văn hóa” lại mang rất
nhiều nghĩa. Bản thân các vấn đề văn hóa rất đa dạng, phức tạp, do đó có
nhiều cách hiểu và nhiều cách tiếp cận nội dung thuật ngữ này.
Định nghĩa về văn hóa đầu tiên đƣợc chấp nhận rộng rãi là: “Văn hóa là
một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo
đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen mà con người đạt
được với tư cách là thành viên của một xã hội”
1
.
Đứng từ góc độ kinh tế, một chuyên gia trong lĩnh vực giao lƣu văn hóa
và quản lý – Geert Hofstede đã định nghĩa: “Văn hóa là sự chương trình hóa
chung của tinh thần giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với
thành viên của nhóm người khác, theo nghĩa này văn hóa bao gồm hệ thống
các chuẩn mực và các chuẩn mực là một trong số các nền tảng của văn hóa.”
4
Từ những định nghĩa trên của nhiều tác giả khác nhau, nhìn từ nhiều
góc độ khác nhau có thể thấy đƣợc những đặc điểm chung nhất về văn hóa.
Đó là: văn hóa là sản phẩm của xã hội loài ngƣời, đƣợc hình thành và đƣợc
đúc kết cũng nhƣ đƣợc truyền từ đời này sang đời khác trong cuộc sống xã
hội. Văn hóa có nhiều khía cạnh, lĩnh vực và giữa chúng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau.
Khái niệm về văn hóa là rất đa dạng và linh hoạt giữa các lãnh thổ và
tộc ngƣời khác nhau, vì vậy, trong khuôn khổ của khóa luận này, em sử dụng
khái niệm về văn hóa của tổng giám đốc Unesco – Frederico Mayor làm
chuẩn mực xuyên suốt cả đề tài của mình.
“Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân
tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất, cho đến những tín
ngƣỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”
5
.
1.2. Khái niệm về văn hóa kinh doanh
Cũng nhƣ khái niệm về văn hóa, văn hóa kinh doanh rất rộng và phức
tạp, hoàn toàn không có một định nghĩa chính xác nào về nó.
“Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa trong hoạt
động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo 3
nghiệp đó sáng tạo và tích lũy trong quá trình tương tác với môi trường bên
ngoài và hội nhập bên trong tổ chức. Văn hóa này sẽ được dùng để đánh giá
các hành vi, do đó được chia sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành
viên như một chuẩn mực để nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ
với cá vấn đề mà họ luôn đối mặt”
7
.
1.3. Văn hóa kinh doanh – Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp giống hay khác nhau,
điều này phụ thuộc vào quan niệm của từng ngƣời. Thực chất, giữa văn hóa 6
TS. Đỗ Minh Cƣơng (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc gia, tr70
7
Ngô Quý Nhâm, Những thách thức lớn trong quá trình hội nhập
7
kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp có sự tƣơng đồng nhƣng đồng thời cũng
có sự khác nhau về mức độ. Hiện nay, có hai quan điểm về mối quan hệ giữa
văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp.
Quan điểm thứ nhất cho rằng văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận của
văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh chính là nền tảng tinh thần, là linh
hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia, nó đƣợc hình thành ngay từ
khi xuất hiện các hoạt động kinh doanh trong đời sống xã hội của dân tộc đó
và nó thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Ví dụ: ngƣời Trung
Quốc nổi tiếng với tính cộng đồng cao trong khi ngƣời Nhật Bản lại nổi tiếng
về sự giữ chữ tín trong kinh doanh. Tất cả những điều này đã làm nổi bật lên
quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.
Nhƣ vậy, chủ thể của VHKD chính là doanh nghiệp. Doanh nghiệp là
chủ thể chính, mang tính quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
bên cạnh các nhân tố khác nhƣ nhà nƣớc, tầng lớp xã hội … Trong khuôn khổ
của bài khóa luận, em dùng cách hiểu thứ hai.
Có nhiều quan niệm khác nhau về VHDN. Theo phép ẩn dụ so sánh, có
ngƣời cho rằng VHDN là tính cách của DN. “Tính cách” này thể hiện ở mức
độ nhân viên đƣợc khuyến khích đổi mới và mạo hiểm bao nhiêu?
Hay VHDN là “bộ gen” của doanh nghiệp. “Bộ gen” đó bao gồm
quyền ra quyết định, thông tin, công cụ động viên và cấu trúc. Trong đó
quyền ra quyết định thể hiện rằng ai quyết định cái gì, thực sự quyết định nhƣ
thế nào và bao nhiêu ngƣời tham gia ra quyết định, phạm vi quyết định là bao
nhiêu? Trong các yếu tố thông tin đƣợc thể hiện trong thành tích công tác
đƣợc đo lƣờng nhƣ thế nào, kiến thức đƣợc chia sẻ bao nhiêu? Nhân viên
đƣợc khuyến khích quan tâm bằng cái gì, bằng cách nào?
TS. Phan Quốc Việt, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tâm Việt Group
định nghĩa: “Nếu doanh nghiệp là chiếc máy tính thì văn hóa doanh nghiệp
chính là hệ điều hành”.
Việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ bộ gen hay hệ điều hành máy tính tuy
chƣa đƣa ra đƣợc cái nhìn tổng thể về VHDN nhƣng cũng đã chỉ ra tầm quan
trọng của VHDN. VHDN chính là xƣơng sống của doanh nghiệp, quyết định
đến sự thành bại của DN đó.
2. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VHKD
9
Cụm từ “văn hóa kinh doanh” cho đến nay không còn xa lạ đối với mỗi
ngƣời mà đặc biệt là đối với mỗi doanh nhân, những ngƣời làm kinh doanh.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của cụm từ đó vào thời điểm nào thì cũng chƣa ai xác
Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
của một xã hội, một quốc gia thì VHKD chính là nền tảng tinh thần, là linh
hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia.
Mỗi một doanh nghiệp đều có VHKD riêng, đặc trƣng nhƣng tựu
chung lại, tất cả đều đƣợc hình thành trên nền tảng của văn hóa và chịu ảnh
hƣởng lớn từ văn hóa nói chung.Vì văn hóa kinh doanh là một bộ phận của
văn hóa, là sản phẩm của nền văn hóa nên nó mang những đặc điểm của văn
hóa nói chung đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng của VHKD.
Đầu tiên, VHKD mang những đặc điểm của văn hóa. Đó là:
- Văn hóa tập quán
- Văn hóa cộng đồng
- Văn hóa dân tộc
- Văn hóa có thể học hỏi đƣợc
- Văn hóa mang tính chủ quan
- Văn hóa mang tính khách quan
- Văn hóa mang tính lịch sử
- Văn hóa mang tính kế thừa
- Văn hóa mang tính năng động
Ngoài ra, đặc điểm riêng của VHKD là:
VHKD xuất hiện cùng với sự xuất hiện của hàng hóa và thị trƣờng.
Khi xã hội loài ngƣời xuất hiện thì văn hóa nói chung cũng xuất hiện,
còn VHKD xuất hiện khi nền sản xuất kinh doanh đã tiến đến một mức độ
phát triển nhất định. Khi đó, DN mới có đủ thời gian để kiểm chứng lại và xác
định đúng đắn hơn con đƣờng kinh doanh nào nên đi chứ không đơn thuần vì
mục tiêu lợi nhuận nhƣ ban đầu.
VHKD mang tính chất quản trị.
11
12
Văn hóa doanh nghiệp: Đây là bộ phận có vai trò, vị trí quan trọng
mang tính quyết định đến VHKD. DN là nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực
con người (đội ngũ doanh nhân các loại), là nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo
ra lực điều tiết, tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với tất cả các yếu tố chủ
quan, khách quan khác nhau nhằm góp phần hình thành nên một môi trường
sản xuất kinh doanh phát triển theo một chiều hướng nào đó. VHDN chính là
văn hóa tập trung và tỏa sáng trong các thiết kế, các đơn vị tổ chức sản xuất
kinh doanh thể hiện qua những biểu trưng (symbol) chung thuộc về hình thức
(logo, đồng phục…) cùng các yếu tố tạo nên thương hiệu của DN, qua năng
lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản
phẩm và những thành tích, truyền thống, qua phong cách giao tiếp, ứng xử
thống nhất của toàn đơn vị (đối với nội bộ, đối với khách hàng) trong mọi quá
trình sản xuất kinh doanh
9
.
VHKD chia thành các “lớp” khác nhau. Các “lớp” này thể hiện mức độ
có thể cảm nhận đƣợc của các giá trị văn hóa trong doanh nghiệp hay tính hữu
hình của các giá trị văn hóa đó
10
.
Mô hình 1: Các lớp của văn hóa doanh nghiệp
Ví dụ về một số khẩu hiệu của các doanh nghiệp:
Texas Instrument: “Nhân viên không chỉ thêm đôi bàn tay mà cả khối óc”
British Petroleum: “Liên tục phát triển”
British Airway: “Hãng hàng không cả thế giới yêu thích”
Lớp thứ hai (2): Những hành vi và thói quen (Behavios and Habits)
“Cách mà mọi người ở đây làm”
Những hành vi và thói quen của những ngƣời làm việc trong DN tạo
nên lớp thứ hai của VHDN. Lớp này đƣợc miêu tả bằng câu nói: “đó là cách
mà ở đây chúng tôi làm”. Về mặt khoa học xã hội lớp thứ hai này đƣợc gọi là
“các quy tắc, tiêu chuẩn”. Tất cả những hành vi, thói quen cũng nhƣ mục tiêu
mà các thành viên trong doanh nghiệp cùng hƣớng tới không phải hình thành
14
một cách ngẫu nhiên hay qua thỏa thuận, mà nó đƣợc dẫn đạo bởi những
nguyên tắc quản lý, những triết lý kinh doanh của doanh nghiệp đó. Những
giá trị này thƣờng đƣợc tuyên bố ra công chúng, đƣợc phổ biến rộng rãi cho
mọi thành viên trong doanh nghiệp cũng nhƣ các bên đối tác. Lớp này còn
đƣợc gọi là những giá trị đƣợc thể hiện vì nó đƣợc thể hiện qua từng hành vi,
cách ứng xử của mỗi thành viên. Giá trị này gồm hai loại: loại thứ nhất là các
giá trị tồn tại khách quan và hình thành tự phát, loại thứ hai là các giá trị mà
lãnh đạo mong muốn và phải xây dựng từng bƣớc.
Ví dụ nhƣ một doanh nghiệp muốn tất cả các nhân viên của mình khóac
áo đồng phục khi làm việc. Ban đầu có thể sẽ có một số ngƣời phản đối. Lúc
này các biện pháp khuyến khích, ép buộc đƣợc thực hiện một cách thích hợp
sẽ giúp tạo ra một nề nếp (mặc dù có thể sẽ có đôi chút ép buộc). Theo thời
gian, việc khoác áo đồng phục dần dần trở thành thói quen. Cho đến khi nó
trở thành phản xạ tự nhiên và mọi ngƣời cảm thấy hãnh diện khi khoác áo
đồng phục. Và các nhân viên mới vào DN cũng thấy ngay đƣợc việc khoác áo
“Có thể hiểu: văn hóa doanh nghiệp là một dạng văn hóa tổ chức. Nó
bao gồm: môi trường văn hóa bên trong và bên ngoài ta quen gọi là môi
trường nhân văn.
Mục tiêu của môi trường nhân văn bên trong chính là các hành vi, cách
ứng xử giữa chủ thể quản lý và khách thể (người bị quản lý) và giữa các
thành viên với nhau. Thước đo của nó chính là tạo ra sự đồng thuận, nhất trí
cao trong một doanh nghiệp đến độ mọi người đều có quan niệm: mọi thành
đạt cũng như thất bại đều có mình đóng góp hoặc có lỗi (trách nhiệm).
Còn môi trường nhân văn bên ngoài chính là hành vi, cách ứng xử của
chủ thể quản lý doanh nghiệp (giám đốc) đối với khách hàng, đối tác, đối thủ
cạnh tranh, thị trường, luật pháp, môi trường và yếu tố văn hóa dân tộc. Với
mỗi hành vi, cách ứng xử khác nhau sẽ có kết quả khác nhau.
Ngoài môi trường nhân văn, văn hóa doanh nghiệp còn bao gồm các
thành tố: phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý chung của doanh nghiệp, các 11
Phó giám đốc công ty Tâm Việt, ThS. Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa doanh nghiệp hình thành theo thời
gian ()
12
Giám đốc chiến lƣợc phát triển Trung tâm năng suất Việt Nam - Phạm Thanh Hƣng, Văn hóa doanh
nghiệp – từ nhận thức tới hành động ()
16
huyền thoại, các truyền thuyết hoặc tín ngưỡng chung của doanh nghiệp, các
triết lý, hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp, hệ thống các giá trị về: chân,
thiện, mỹ của doanh nghiệp”
13
17
quay trở lại, Stew Leonard’s đã tạo ra những gì mà thời báo New York đặt
biệt danh là “Disneyland của các cửa hàng bơ sữa”, hoàn chỉnh với các nhân
vật có mặc trang phục, những buổi giải trí theo lịch biểu, một vƣờn thú kiểng,
và công nghệ sử dụng hệ thống điện tử để vận hành các con rối khắp cửa
hàng. Từ những cửa hàng bơ sữa nhỏ, Stew Leonard’s đã tăng trƣởng với tốc
độ kinh hoàng, xây dựng thêm 29 phần mở rộng vào cửa hàng ban đầu, mà
hiện nay phục vụ trên 250.000 khách hàng mỗi tuần. Đông đảo những ngƣời
đi mua sắm trung thành này phần lớn là kết quả của cách tiếp cận nhiệt tình
đối với dịch vụ khách hàng của cửa hàng
14
.
Stew Leonard nổi tiếng với “tìm mọi cách làm hài lòng khách hàng”.
Đây là một bản sắc văn hóa mạnh với hai phƣơng châm:
Thứ nhất, khách hàng không đến với chúng ta để hỏi: hôm nay tôi có
thể làm gì cho ngài, Stew Leonard? Mà chính chúng ta phải đến với họ và hỏi
họ xem chúng ta có thể làm gì cho họ.
Thứ hai, ông đƣa ra 2 qui tắc ở Stew Leonard’s. Điều 1: Khách hàng luôn
đúng. Và điều 2: Nếu lúc nào đó khách hàng sai, thì hãy đọc lại điều một.
Hay một ví dụ khác về phong cách lãnh đạo. Tổng giám đốc mới của
Ford – Alan Mulally đã thay đổi cả VHKD trăm năm của Ford Motor Co.
Mulally đã mang lại không khí làm việc và ý thức tổ chức kỷ luật hoàn toàn
mới mẻ, qua đó làm thay đổi bộ mặt và diện mạo của Ford cũng nhƣ văn hóa
kinh doanh tại đây. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là văn hóa lâu đời của
Ford bị thay đổi mà nó đƣợc cải tiến và tiến bộ hơn dƣới thời của Alan
Mulally. Alan Mulally là một ngƣời biết hoạt động theo nhóm, một nhà lãnh
đạo biết truyền cảm hứng đồng thời ông còn đƣợc coi là kiến trúc sƣ của các
kiến trúc sƣ bởi ông dựa chủ yếu vào các thông số để đƣa ra quyết định.
mà còn là nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế. Với mối quan hệ đó, sự
phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc chỉ có thể năng động, hiệu quả, có
tốc độ cao, chừng nào mà quốc gia đó đạt đƣợc sự phát triển kết hợp hài hòa
giữa văn hóa và kinh doanh.
Bản thân hoạt động kinh doanh dƣới mọi hình thức là một hoạt động
văn hóa, bởi nó đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ hay thƣởng thức của con ngƣời,
19
làm đẹp mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời và môi trƣờng sống của nó. Yêu
cầu ngày càng cao về chất lƣợng, ngày càng nhiều về số lƣợng của ngƣời tiêu
dùng đã kích thích sáng tạo vô biên, sự cố gắng không mệt mỏi của các thành
viên tham gia hoạt động kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh ảnh hƣởng đến đàm phán thƣơng mại.
Việc hiểu biết chung về nét đặc trƣng của VHKD của từng quốc gia nói
chung và của từng doanh nghiệp nói riêng là vô cùng quan trọng. Việc hiểu
biết về VHKD sẽ bƣớc đầu giúp cho việc đàm phán hay ký kết hợp đồng
thƣơng mại đƣợc thuận lợi, dễ dàng hơn, đặc biệt khi đàm phán với những
DN nƣớc ngoài. Hơn nữa, hiểu biết VHKD và biết cách giao tiếp với đối tác
giúp DN chủ động trên bàn đàm phán, giúp cuộc đàm phán đi đến thành công và
từ đó thiết lập đƣợc mối quan hệ làm ăn với đối tác, đạt đƣợc kết quả ngoài
mong đợi.
Trong đàm phán, yếu tố thời gian đóng một vai trò chủ đạo. Tuy nhiên,
đối với các nền văn hóa khác nhau thì ý nghĩa cũng nhƣ tầm quan trọng của
thời gian cũng khác nhau. Ở những nƣớc phƣơng Tây thì “thời gian là tiền
bạc”, còn những nƣớc Châu Á, Châu Mỹ – Latin hay Châu Phi thì thời gian
không có giá trị đến nhƣ vậy. Điều này ảnh hƣởng rất nhiều đến tốc độ đàm
phán và thời gian bắt đầu các cuộc gặp mặt.
Ngoài yếu tố thời gian thì yếu tố ngôn ngữ cũng là một trong những