Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐAI HOC Y TÉ CỒNG CÕNG
TRẦN NGỌC LUÂN
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TÂM TRÍ ĐỒNG THÁP, NĂM 2015
Hà Nội, 2015
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 60.72.07.01
TRẦN NGỌC LUÂN
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 60.72.07.01
PGS. TS NGUYỄN VĂN QUI
THS. NGUYỄN TRUNG KIÊN
3
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ quản lý bệnh viện được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin
trân trọng tri ân đến:
1.7.3
1.7.4
GĐ
1.7.6
HYT
1.7.8
YT
1.7.10
VĐK
1.7.12
ĐHA
1.7.14
LS
1.7.16
NTT
1.7.18
ICOM
B
1.7.5
Ban giám đốc
B
1.7.7
Bảo hiểm y tế
MHS
1.7.22
SBA
1.7.24
HTH
1.7.26
AN
1.7.28
AN
1.7.30
ACS
G
Medicine Chuẩn trao đổi dữ liệu hình ảnh
1.7.21
Gây mê hồi sức
H
1.7.23
Hồ sơ bệnh án
K
1.7.25
Ke hoạch tổng họp
TBYT
1.7.36
V
1.7.37
Vật tư tiêu hao
TTH
1.7.38
W
1.7.39
Wide Area Network - Mạng diện rộng
AN
1.7.40
X
1.7.41
XQuang
Q
1.7.42
W
1.7.43
World Health Organization - Tổ chức y
HO
tế thế giới
1.7.45.......................................................................................................................
1.7.1
1.7.44
1.7.46 TÓM TẮT NGHIÊN cứu
1.7.47 Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp được thành lập từ năm 2007 là bệnh viện tư nhân đầu tiên trên địa bàn tỉnh Đồng
giúp kiểm soát và quản lý thông tin hành chính bệnh nhân đạt tỷ lệ 98,7%, công tác thống
kê báo cáo được nhanh chóng và chính xác đạt 84%, việc hội chẩn và phục vụ chẩn đoán
tốt hơn trên hệ thống PACS đạt 65,4%, công khai minh bạch hóa tài chính, thuốc rõ ràng
đạt tỷ lệ trên 94%. Tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn như: thiếu văn bản quy định về
ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện, thiếu quy chế thưởng phạt và đặt biệt là tính kết
nối hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện hiện nay rời rạc không đồng bộ gây khó khăn
trong công tác quản lý thống kê báo cáo tại tất cả các bệnh viện... Các phần mềm bệnh
viện không kết nối được với nhau khiến Bộ Y tế không thể quản lý tập trung về các thông
tin đầu ra phục vụ cho việc lập chính sách y tế.
8
1.7.51
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho lãnh đạo
bệnh viện và cơ quan quản lý các cấp về kiện toàn hoạt động CNTT bệnh viện và
có giải pháp xây dựng một hệ thống phần mềm quản lý bệnh nhân tổng thể theo
chuẩn BYT nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng lớn của người
dân.ĐẶT VẤN ĐỀ
1.7.52 Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật công
nghệ thông tin đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng công nghệ thông tin ngày càng đóng
vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công
tác quản lý, điều hành mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các
kỹ thuật cao trong công tác khám chữa bệnh như chụp MRI, MSCT, Siêu âm, XQ, mổ nội
soi... thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử.
1.7.53 Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã cho thấy vai trò quan trọng của
CNTT trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc, mặc dù còn có khó khăn về tài chính và
những thách thức trong việc triển khai CNTT tuy nhiên việc triển khai và tăng cường áp
dụng CNTT trong bệnh viện nói riêng và chăm sóc sức khỏe nói chung ngày càng phát
[2]
1.7.57 Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số khó khăn như: khả năng tiếp cận
công nghệ thông tin của cán bộ nhân viên y tế còn hạn chế, các quy trình làm việc chưa
thực sự rõ ràng, kết nối thông tin quản lý bệnh nhân giữa các bệnh viện trong cùng hệ
thống tập đoàn và các bệnh viện khác chưa được đáp ứng. Công tác thống kê báo cáo theo
yêu cầu Sở Y tế, BHYT, Bộ Y tế vẫn chưa được đáp ứng. Vậy câu hỏi đặt ra là: Việc triển
khai ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện hiện nay như thế nào? Đáp ứng nhu cầu
phục vụ khám chữa bệnh ra sao? Việc ứng dụng CNTT hiện nay đem lại lợi ích gi đối với
Ban Giám đốc, cán bộ y tế và bệnh nhân? Có những khó khăn và thuận lọi nào khi triển
khai ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện?
1.7.58 Với lý do đó, tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp, năm 2015”.
Nghiên cứu này nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về thực trạng công tác ứng dụng
CNTT trong quản lý bệnh viện ở các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng thiết bị, trình độ, kinh
phí, nhân lực, phần mềm quản lý. Từ đó nghiên cứu sẽ đánh giá lợi ích và những thuận lợi
khó khăn trong việc ứng dụng CNTT tại bệnh viện để tìm ra những nguyên nhân tồn tại
và đề xuất giải pháp khắc phục. Ket quả nghiên cứu sẽ giúp lãnh đạo bệnh viện xây dựng
chiến lược phát triển tổng thể ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện.
1.7.59
MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
1
1. Mô tả thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại Bệnh
viện đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp, năm 2015.
2. Tìm hiểu những lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh
viện tại Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp.
Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện
1.7.64 Bệnh viện có 07 chức năng và nhiệm vụ chính: cấp cứu-khám bệnh-chữa
bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Họp tác quốc tế
và Quản lý kinh tế trong bệnh viện[3].
1.7.65 Nhà nước khuyến khích các bệnh viện thực hiện công tác xã hội hóa y tế
theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch
vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự
nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách Nhà nước. Đe thực hiện những nhiệm
vụ trên Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp tiên phong đi đầu trong lĩnh vực y tế tư
nhân trên địa bàn tỉnh, bước đầu bệnh viện cũng đã áp dụng thành công các chức năng
chính của bệnh viện [23].
(1) Cấp cứu - khám bệnh - Chữa bệnh:
1.7.66
Bệnh viện là noi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám
bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định. Tổ chức
khám sức khỏe, chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước.
(2) Đào tạo cán bộ y tế:
1.7.67
Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc trên đại
học, đại học và trung học. Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và
tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn.
(3) Nghiên cứu khoa học về y học:
1.7.68
(7) Quản lý kinh tế y tế:
1.7.72
Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao Ngân sách nhà nước cấp.
Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về thu, chi tài chính, từng bước thực
hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y
tế: viện phí, BHYT, đầu tư nước ngoài và của các tổ chức kinh tế khác[3].
1.7.73 Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện đã và đang thực
hiện áp dụng 07 chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện tại đơn vị. Nhờ vào việc ứng dụng
này đã đem lại nhiều thuận lợi trong công tác quản lý điều hành của BGĐ. Ưu điểm nổi
bật nhất là việc quản lý thông tin hành chính bệnh nhân, tiền sử bệnh, tài chính viện phí
rất thuận tiện và truy xuất nhanh chóng. Nhờ vào viêc ứng dụng CNTT nên việc lưu trữ
dữ liệu được đảm bảo nhằm phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học cho lực
lượng y bác sĩ trẻ. Công tác phòng bệnh và họp tác quốc tế cũng được hưởng lọi rất nhiều
từ công nghệ thông tin trong y tế. Ngoài ra vấn đề tài chính của bệnh viện tư nhân là yếu
tố quan trọng của đơn vị nên khi áp dụng CNTT vào quản lý giúp ích rất nhiều trong công
tác thống kê, báo cáo nhằm giảm thời gian và nguồn nhân lực đáng kể của đơn vị. Ngoài
những ưu điểm thì việc ứng dụng CNTT cũng bộc lộ những nhược điểm như nhân viên
chưa quen các thao tác trên phần mềm quản lý, tuổi tác nhân viên ảnh hưởng rất lớn cho
việc triển khai. Thực tế áp dụng tại đơn vị những nhân viên lớn tuổi rất khó khăn trong
việc thực hiện các thao tác trên hệ thống phần mềm. Hiện nay các phần mềm QLBV tự
phát, không được sự quản lý tập trung từ các cơ quan chức năng như BYT hay BHYT...
1.7.74 Trong phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung vào chức năng chính của
việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là chức năng : cấp cứu-khám chữa bệnh,
quản lý kinh tế trong bệnh viện. Việc tập trung vào 2 chức năng chính này là do đặc thù là
bệnh viện tư nhân nên việc quản lý khám chữa bệnh cần được kiểm soát thông tin bệnh
nhân chặt chẽ để phát ữiển thêm và tăng thêm chất lượng của bệnh viện. Ngoài tra chức
năng quản lý tài chính kinh tế bệnh viện là giá trị sống còn của một doanh nghiệp nên
việc quản lý cần được chú trọng và triển khai.
của Mỹ (ITAA), CNTT là việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, triển khai thực hiện, hồ trợ
hoặc quản lý các hệ thống thông tin điện tử, chủ yếu là các phần mềm máy tính và phần
cứng máy tính. CNTT bao hàm việc sử dụng các máy tính điện tử và phần mềm máy tính
để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và nhận thông tin an toàn[32].
1.7.78 Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết
chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp
khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và
viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả có nguồn tài nguyên thông tin
rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [9]
1.7.79 Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong nhiều khái niệm
khác nhau. Ta có thể chia sự hình thành khái niệm CNTT thành 3 giai đoạn phát triển:
1.7.80 Giai đoạn 1 (1943-1980): Từ khi máy tính điện tử đầu tiên ra đời cho đến
trước khi máy tính cá nhân (Personal Computer - PC) xuất hiện. Giai đoạn này, ngành
Khoa học máy tính có đối tượng nghiên cứu là máy tính điện tử nhiệm vụ hiện giờ chỉ
giải quyết các vấn đề mang tính toán học.
1.7.81 Giai đoạn 2 (1981-1989): Đây là giai đoạn máy tính cá nhân có giao diện
đồ họa xuất hiện và được phổ biến trong xã hội. Cùng với sự phát triển của các ngành
khoa học kỹ thuật khác, máy tính khả năng lưu trữ và xử lý. Nhiệm vụ của tin học lúc này
là nghiên cứu việc lưu trữ và xử lý thông tin một cách tự động.
1.7.82 Giai đoạn 3 (cuối năm 1989 đến nay): Sự phát triển của các công nghệ về
máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng đó đạt đến đỉnh cao. Cùng với sự
hình thành và phát triển của hệ thống mạng máy tính dùng chung cho toàn thế giới
(Internet), khả năng ứng dụng của máy tính và mạng máy tính đó gần như không có giói
hạn. Chúng đã trở thành phương tiện, công cụ không thể thiếu của các hệ thống thông tin,
hệ thống tổ chức. CNTT đó ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại.
1.4.2
Công nghệ thông tin trong y tế
1.7.83 Khái niệm về công nghệ thông tin trong y tế:
đã được chứng minh trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ
quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hồ trợ y tế từ xa (telemedicine), lưu trữ và
phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học... Tăng cường chức năng quản lý bệnh viện:
Toàn bộ thông tin bệnh viện được sắp xếp, tổ chức một cách khoa học, làm cơ sở cho
công tác quản lý bệnh viện một cách hiệu quả [29]
1.7.87 Một số thuật ngữ công nghệ thông tin y tế:
1.7.88 HIS - Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital information system) là hệ
thống thông tin quản lý, điều hành công việc tại bệnh viện vói các chức năng chính: quản
lý bệnh nhân, bệnh án, dược, tài chính, trang thiết bị vật tư y tế, nhân sự. Ngày nay, HIS
là công cụ tối ưu hóa hệ thống trong quản lý điều hành; phục vụ nghiên cứu - đào tạo;
thống kê, dự báo, dự phòng,., tại bệnh viện [8]
1.7.89 Đơn thuốc điện tử (E-presription): Đơn thuốc điện tử có chức năng kiểm
tra việc kê đơn thuốc dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn và các thuật toán cảnh báo về tương tác
thuốc và lượng còn trong kho.
Y tế từ xa (Telemedicine) cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa của hệ
thống y tế bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để trao đổi thông tin
trong điều trị, chẩn đoán, phòng ngừa bệnh tật và thương tích, phục vụ cho công tác
nghiên cứu, đánh giá, và giáo dục thường xuyên của các nhà cung cấp dịch vụ y tế. Trong
những trường hợp khẩn cấp đối với các bệnh nhân có bệnh nguy hiểm cần theo dõi như
cao huyết áp, bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, tiểu đường.. .cần có một sự giám sát
và xử lý tức thời thì telemedicine có thể giúp ích.
Y tế điện tử (E-health): Là một khái niệm mới được hình thành gần đây và nó đề
cập đến tất cả các hoạt động chăm sóc sức khỏe được triển khai với sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin. Trong mô hình này tất cả các vấn đề thuộc về y tế được điện tử hóa bao
gồm: quản lý bệnh viện, quản lý hồ sơ bệnh nhân, quản lý hình ảnh, quản lý dịch bệnh,
quản lý bệnh mạn tính. Một mô hình triển khai áp dụng CNTT mang tính toàn diện cho
các quốc gia và hiện tại đang được tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo áp dụng trên toàn
cầu.
chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà
nước giai đoạn 2011-2015”.
- Quyết định 2035/QĐ-BYT ngày 12 tháng 06 năm 2013 về việc “Công bổ danh
mục kỹ thuật về ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vựcy tế”.
- Quyết định số 2824/2004/QĐ-BYT ngày 19/8/2004 của Bộ Y tế về “Ban hành
phần mềm ứng dụng tin học trong quản lý bảo cáo thống kê bệnh viện và hồ sơ bệnh án
(Medisoft 2003) ”.
-
Quyết định số 5573/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ Y tế về “Ban
hành tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý bệnh viện
1.7.95 - Quyết định số 5574/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ Y tế về “Hướng
dẫn xây dựng dự án ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện
1.7.96 Với phần mềm quản lý bệnh viện Bộ Y Tế đã ban hành quyết định số
5573/QĐ-BYT về “ Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học
quản lý bệnh viện”. Quyêt định này quy định về các tiêu chí của phần mềm quản lý bệnh
viện với 8 phân hệ cơ bản: Phân hệ quản lý khoa khám bệnh, phân hệ quản lý khoa lâm
sàng/ người bệnh nội trú, phân hệ quản lý cận lâm sàng, phân hệ quản lý dược bệnh viện,
phân hệ quản lý viện phí và thanh toán bảo hiểm y tế, phân hệ nhân sự tiền lương, phân hệ
chỉ đạo tuyến, phân hệ quản lý trang thiết bị [4],
1.7.97 ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế nói chung và trong quản
lý bệnh viện nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách, đòi hỏi có sự quan tâm của các cấp
lãnh đạo ban ngành nhằm vói yêu cầu phát triển, để ngành y tế không bị tụt hậu, phát triển
ngang tầm với các ngành khoa học khác và cập nhật với các nước tiên tiến trong khu vực.
ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là thiết thực nâng cao năng lực quản lý và điều
hành của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vì vậy các bệnh
viện phải thực sự quan tâm đầu tư mọi nguồn lực để ứng dụng và phát triển CNTT trong
không dây cho các bác sĩ và những người phục vụ y tế. Đối vói nhiều quốc gia, việc đào
tạo là quốc sách, do đó việc nghiên cứu xây dựng các hệ dạy học y học thông minh là cần
thiết, giúp cho việc đào tạo và tự học từ xa nhằm nâng cao trình độ cho các bác sĩ và
những người làm công tác y tế ở khắp mọi miền đất nước. Ở một số quốc gia phát triển,
chính phủ chú ừọng xây dựng mạng chăm sóc sức khỏe ở nhà phục vụ cho việc chăm sóc
sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi [17]
1.7.100 Công nghệ thông tin là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật to lớn của
thế giới, đã và đang giúp thay đổi toàn diện và hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực khoa học, kỹ
thuật, chính trị, quân sự và đời sống... trong đó có lĩnh vực y tế. Bên cạnh đó CNTT phát
triển nhanh chóng đã giúp ngành y tế đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong công tác
khám chữa bệnh và quản lý bệnh viện hiện đại. CNTT y tế đã phát triển theo các chức
năng:
1.7.101 - Nâng cao kiến thức chuyên môn: Sử dụng thông tin từ các website y
học, forum, sách điện tử, video, bài giảng từ xa... giúp cập nhật kiến thức và san bằng
khoảng cách kiến thức giữa các vùng địa lý. Nhân viên y tế dù ở vùng sâu vùng xa cũng
dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ thuật y tế mới nhất thông qua hệ thống internet. Bác sĩ tại
các nước đang phát triển cũng có thể dễ dàng tiếp cận, cập nhật các kiến thức mới nhất
của các nước tiên tiến.
- Tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị: Máy móc xét nghiệm ngày
nay hoàn toàn tự động hóa, tiết giảm thao tác, nâng cao độ chính xác xét nghiệm. Các
máy móc chẩn đoán hình ảnh đã ứng dụng các kỹ thuật dựng hình để bộc lộ hình ảnh
bệnh lý 3 chiều, phục vụ chẩn đoán và điều trị ngoại khoa. Kỹ thuật nội soi giúp can thiệp
điều tộ một cách hiệu quả và tiết giảm chi phí...
- Hồ trợ đắc lực trong thực hành y khoa: CNTT mang lại nhiều lọi ích trong thực
hành y khoa, đã được chứng minh ừong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa,
giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ y tế từ xa
(telemedicine), lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học...
- Tăng cường chức năng quản lý bệnh viện: Toàn bộ thông tin bệnh viện được sắp
học từ xa đang phát triển với các chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe từ xa cho các
bà mẹ ở nông thôn, giáo dục sức khỏe tâm thần.. .Một số thành công cũng được báo cáo ở
các vùng nông thôn Ấn Độ, Indonesia. Tại châu Phi, bằng chứng về phát triển y học từ xa
là hạn chế nhưng cũng có một số thành công được ghi nhận ở Uganda, Kenya và Ghana.
Không có bằng chứng cho thấy y tế từ xa là hiệu quả về mặt chi phí nhưng đây có thể là
bước khởi đầu cho việc ứng dụng CNTT trong y tế ở các nước đang phát triển. Cuối cùng,
thành công sẽ không đến từ những công nghệ tiên tiến, đắt tiền, cao cấp mà từ các công
cụ đơn giản, thích họp và phù họp với nhu cầu địa phương[30].
1.7.105 Sự tiến bộ của công nghệ thông tin và viễn thông ngày nay cho phép
truyền tức khắc những thông tin không chỉ ở dạng lời nói, văn bản hoặc những hình ảnh
đơn lẻ mà còn cả những hình ảnh động như hình ảnh Xquang động, hình ảnh siêu âm,
điện tâm đồ, não đồ, hình ảnh nội soi... và chức năng hội nghị trực tuyến của công nghệ
truyền thông cũng cho phép các bác sĩ cùng các giáo sư, chuyên gia tiến hành hội chẩn đa
phương với số người tham gia không hạn chế. Hiện nay, y tế từ xa đã được áp dụng ở các
nước phát triển như Anh, Mỹ, Nga, Pháp Đức... và bắt đầu có mặt ở các nước đang phát
triển. Một số nước, lãnh thổ ở khu vực châu Á - Thái
1.7.106
Bình Dương đã triển khai ứng dụng rộng rãi TeleMedicine như ở Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan...
1.7.107 Ở Mỹ, một trong những tổ chức sử dụng mạnh mẽ dịch vụ y tế từ xa nhất
là hội cựu chiến binh Hoa Kỳ. Theo báo cáo trong năm 2013, đã có 600 ngàn cựu chiến
binh Mỹ được khám qua hệ thống y tế từ xa của hội cựu chiến binh tại 150 bệnh viện và
1000 cơ sở y tế của hội trên khắp nước Mỹ với tổng số lượt khám bệnh là 1,7 triệu lượt.
Đa số các cựu chiến binh này sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh và việc sử dụng y tế từ
xa giúp cải thiện rất nhiều chăm sóc y tế cho các cựu chiến binh này. Hội cựu chiến binh
Mỹ đã công bố nhờ ứng dụng y tế từ xa năm 2013 hệ thống y tế của hội đã tiết kiệm được
trung bình 2.000 USD trên một bệnh nhân, giảm 53% ngày nằm viện và 30% số lần nhập
viện [7].
xây dựng các danh mục mã các bệnh viện, làm cơ sở tin học hóa bệnh viện. Năm 2004,
phần mềm Bsoft được nâng cấp thành Medisoft 2003 và thống nhất ban hành trong tất cả
các bệnh viện trên phạm vi toàn quốc. Cho đến nay nhiều bệnh viện đã áp dụng phần
mềm này và một số bệnh viện đã phát triển phần mềm Medisoft 2003 để đạt được mục
tiêu quản lý cao hơn. Tháng 12/2006, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 5573/QĐ-BYT về
“Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý bệnh viện”.
Quyết định này là một văn bản quan trọng, đặt nền tảng cho việc xây dựng phần mềm
quản lý của các bệnh viện. [4]
1.7.111 Theo sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng, các bệnh viện Việt Nam
đã dần dần được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại như máy xét nghiệm tự động, máy
siêu âm 3D, 4D, X quang kỹ thuật số, máy chụp cắt lớp, cộng hưởng từ... giúp nâng cao
chất lượng chẩn đoán và điều trị. Thiết bị y tế hiện đại đã giúp khám và điều tộ hiệu quả
các bệnh khó. Việc trợ giúp chẩn đoán, lưu trữ tư liệu và nghiên cứu hình ảnh X quang là
một trong những ứng dụng tin học phổ biến nhất trong các mạng PACS và Telemedicine.
Việc chuyển tín hiệu từ máy chụp X-quang lên phòng mổ Chấn thương chỉnh hình đã
được nhiều nước áp dụng phổ biến, ở Việt Nam một số cơ sở đã áp dụng phương pháp
này, việc ứng dụng này đã cung cấp cho phẫu thuật viên trong khi mổ có hình ảnh trực
tiếp giúp cho việc mổ được tiến hành hiệu quả hơn, tốt hơn [22], Nhờ các thiết bị này, y tế
Việt Nam đã bắt kịp trình độ y tế trong khu vực. Một số bệnh viện có tiềm năng về tài
chính và công nghệ thông tin đã vươn lên bằng nội lực của chính mình xây dựng hệ thống
phần mềm quản lý bệnh viện đồng bộ và ứng dụng thành công tin học hóa quản lý bệnh
viện. Qua thực tế tại các bệnh viện này cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin đồng
bộ và tổng thể đã giúp các nhà quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh
viện, chống thất thu viện phí, công khai minh bạch tài chính bệnh nhân, giúp kiểm soát sử
dụng thuốc họp lý an toàn, đảm bảo tính ừa cứu thuận tiện, lưu trữ lâu dài và vẹn toàn của
thông tin rút ngắn thời gian thống kê báo cáo [14].
1.7.112 Tại bệnh viện Nhi Đồng 1 - TPHCM, thời gian chờ khám khi chưa ứng
dụng CNTT trung bình khoảng 30 phút, đến nay đã giảm hơn một nửa; thời gian chờ mua
1.6.1.
Các nghiên cứu trên thế giới
1.7.116 Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Devi Shetty, người sáng lập chuỗi bệnh viện
Narayana Hrudayalaya - Ấn độ hiện 70% dân số Ấn Độ sinh sống ở khu vực nông thôn
nhưng có đến 80% bác sĩ và 60% bệnh viện tập trung ở khu vực thành thị. Điều đó giúp
mở ra một cánh cửa mới cho y học từ xa và X-quang chính là lĩnh vực chịu tác động lớn