QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LƯƠNG VĂN TỤY TỈNH NINH BÌNH - Pdf 34

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI

----------

TRNH MINH TON

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
ở trờng trung học phổ thông Chuyên
Lơng Văn Tụy - Tỉnh Ninh Bình
Chuyờn ngnh

: Qun lý giỏo dc

Mó s

: 60.14.01.14

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc : TS. Phm Ngc Long

H NI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo khoa Quản
lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã luôn định hướng, quan tâm,
tạo mọi điều kiện và tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại nhà trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến Tiến sĩ Phạm

Cha mẹ học sinh

CNH - HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

GDĐĐ

Giáo dục đạo đức

GV

Giáo viên

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

HS

Học sinh

QLGD

Quản lý giáo dục

SHCM

Sinh hoạt chuyên môn


Dựa theo thông tin trên, nghiên cứu thực hiện đánh giá thang đo dựa theo tiêu chí:.......38
Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0,4 (đây là những biến
không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo và nhiều nghiên cứu trước đây
đã sử dụng tiêu chí này)................................................................................................38
Chọn thang đo có độ tin cậy Alpha lớn hơn 0,6 (các khái niệm trong nghiên cứu này là
tương đối mới đối với đối tượng nghiên cứu khi tham gia trả lời)..................................38
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả tự đánh giá biểu hiện đạo đức trong nhà trường của học sinh trường
THPT Chuyên Lương Văn Tụy – Ninh Bình................................................................42
Bảng 2.2 Kết quả tự đánh giá biểu hiện đạo đức ngoài nhà trường của học sinh trường
THPT Chuyên Lương Văn Tụy – Ninh Bình................................................................45
Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục đạo đức trong hoạt động
đào tạo của Nhà trường................................................................................................47
Bảng 2.4 Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Chuyên Lương Văn
Tụy – NB thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm..............................................49
Bảng 2.5 Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Chuyên
Lương Văn Tụy thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp................................................51
Bảng 2.6 Đánh giá về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy – NB...............................................................53
Bảng 2.7 Đánh giá về thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn và GV giáo dục đạo đức cho
học sinh trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy – NB..................................................55
Bảng 2.8 Đánh giá về thực trạng chỉ đạo xây dựng kế hoạch chủ nhiệm nhằm giáo dục
đạo đức cho học sinh trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy – NB..............................56
Bảng 2.9 Đánh giá về thực trạng chỉ đạo GVCN tìm hiểu nắm bắt hoàn cảnh, tâm lý học
sinh trong GD đạo đức.................................................................................................58
Bảng 2.10 Đánh giá về thực trạng chỉ đạo GVCN xây dựng biện pháp GD học sinh chưa
ngoan...........................................................................................................................59



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 . Về mặt lý luận
Thế kỷ XXI, thế kỷ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế
tri thức, mỗi quốc gia, dân tộc đều thấy rõ hơn tầm quan trọng của giáo dục và đào
tạo trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu xây dựng và
phát triển đất nước.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của
nền giáo dục toàn diện. Ngày 21 tháng 10 năm 1964 khi về thăm trường ĐHSPHN,
Bác Hồ đã dạy: “ Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận
quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa.
Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng,
đó là cái gốc quan trọng” [27;tr.3 ] Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là:
Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập và
chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có í chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; thực hiện tốt sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và
phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp,
có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa
xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam càng
trở nên đặc biệt quan trọng. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặt
trái của cơ chế thị trường đã có tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ. Các tệ nạn xã hội
tác động tiêu cuwucj đến đạo đức, lối sống của học sinh phổ thông, không ít học
sinh đã sa vào các tệ nạn xã hội, sống tùy tiện, cẩu thả. Đảng ta đã nhận định trong
Nghị Quyết Trung ương II, khóa VII: “ Đặc biệt đáng lo ngại là trong bộ phận
sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối

môn giáo dục công dân nhiều giáo viên và học sinh xem là “môn phụ’’, nặng lí
luận thiếu sự đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên.

- Có một số cán bộ giáo viên còn né tránh, thậm trí còn làm ngơ trước
những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh. Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp còn
một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với học
sinh, chưa có sự quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức học sinh..

2


- Vẫn tồn tại một bộ phận học sinh thường xuyên có biểu hiện vi phạm về đạo
đức, có lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật, xúc
phạm tới nhân cách nhà giáo
- Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh của trường lên một bước
mới, góp phần tạo bước đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 2020. Đáp ứng việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường THPT Chuyên Lương
Văn Tụy – Ninh Bình góp phần đào tạo ra những con người phát triển toàn diện đức,
trí, thể, mỹ - nguồn nhân lực chính thúc đẩy sự phát triển của địa phương và đất
nước trong giai đoạn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
- Vì vậy trong công tác quản lý trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy tỉnh
Ninh Bình, cần phải định hướng tìm tòi các biện pháp quản lí tốt nhất hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục của
nhà trường.
Xuất phát từ những cơ sở, lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức ở trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy – Tỉnh Ninh Bình”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức trong nhà trường phổ thông, đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức ở trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy, Tỉnh Ninh Bình, từ
đó có cơ sở đề xuất các biện pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường THPT
6.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
- Cán bộ quản lý
- Giáo viên
- Học sinh
6.3. Giới hạn về thời gian khảo sát: các số liệu khảo sát điều tra đánh giá
thực trạng từ năm học: 2010 đến năm 2015
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các
tài liệu liên quan đến đề tài nhằm xây dựng những khái niệm công cụ và làm sáng tỏ
một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

4


7.2.1 Phương pháp điều tra viết: bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi,
điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức tại
trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy, từ đó khắc phục những hạn chế, phát huy
những mặt mạnh nhằm thực hiện tốt vai trò quản lý hoạt động giaó dục đạo đức
tại nhà trường.
- Đối tượng sử dụng: Cán bộ quản lý ;Giáo viên; học sinh
-Nội dung hỏi: Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức; Thực trạng quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức; Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Đề tài tiến hành hỏi ý kiến trực tiếp các đối
tượng khảo sát như: Cán bộ Quản lý; giáo viên, học sinh từ đó có thể quan sát dễ
dàng và khách quan các đối tượng khảo sát mà không sợ bị nhầm lẫn quá nhiều.
Mặt khác, các đối tượng khảo sát sẽ cảm thấy tự nhiên hơn, và có dịp đưa ra những
quan niệm, những ý tưởng cũng như những nhận xét của họ.

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức tại trường THPT
Chuyên Lương Văn Tụy, Tỉnh Ninh Bình

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 .Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 . Những nghiên cứu ngoài nước
Trong lịch sự Triết học cổ đại phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là
nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc đồng thời là nhà đạo đức học khai sinh ra
Nho giáo. Ông coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức và quan niệm có tính hệ thống
về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý giáo dục. Nội dung và mục tiêu chủ
yếu của giáo dục Nho giáo được ghi chép lại trong Tứ thư và Ngũ kinh. Nhưng cụ
thể và tập trung nhất là ở trong Luận ngữ ( cuốn sách ghi chép lại lời nói, việc làm
của Khổng tử và môn đồ) là bồi dưỡng những người có đức nhân, người “ quân tử”
có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “ đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Khổng
Tử quan niệm sự hiểu biết không phải sinh ra là đã có sẵn mà phải được tích lũy qua
quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Các đức tính như: nhân, trí, tín, trực,
dũng, cương… cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng
dụng hoàn hảo được. Kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa với việc rèn
luyện đạo đức là ưu tiên số một. Ông từng căn dặn học trò rằng: “ Ở nhà thì ăn ở
hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh
trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành hiện thực, nên thân yêu rộng khắp mọi
người…”. Ông xây dựng học thuyết “ Nhân – Trí – Dũng”, trong đó “ Nhân” là
lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng
trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, ông có chủ trương nổi tiếng truyền lại
đến ngày nay đó là “ Lễ trị”. Lấy “Lễ” để ứng xử ở đời. Muốn vậy, con người phải

tảng và quan trọng trong quá trình giáo dục và hình thành nên nhân cách cho học sinh.
Theo quan niệm của học thuyết Mác – Lê Nin: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu
sự chi phối của tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi
theo. Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Vào khoảng thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng đã
có nhiều nghiên cứu về giáo dục đạo đức học sinh, các nghiên cứu của họ đã đặt

8


nền tảng cho việc giáo dục đạo đức mới trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô:
A.C. Macarenco: Trong tác phẩm Bài ca sư phạm, đã khái quát các vấn đề
giáo dục người công dân ( giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình) đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn
như sự nêu gương, nguyên tắc giáo dục bằng tập thể thông qua tập thể.
V.A. Xukhomlinxky – nhà giáo dục lớn người Nga cũng rất quan tâm đến
những biện pháp quản lý đạo đức cho học sinh, ông có nhiều đóng góp lý luận, kinh
nghiệm giáo dục thế hệ trẻ. Với kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục ở trường nông
thôn Pavlush ông cho rằng: dạy học trước hết là sự giao tiếp về tâm hồn giữa thầy
trò “ dạy trẻ phải hiểu trẻ, thương trẻ và tôn trọng trẻ…”[9; tr.51].
1.1.2 . Những nghiên cứu trong nước
Là một quốc gia vốn có truyền thống dân tộc lâu đời và bề dầy lịch sử hàng
ngàn năm văn hiến, Việt Nam được biết đến với nhiều giá trị tốt đẹp với những
phương châm sống “ Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn”, “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau
cùng”, “tiên học lễ, hậu học văn”…. Từ các triều đại phong kiến trước đây, các giá
trị tốt đẹp của dân tộc đã được lưu vào sử sách, trở thành những nội dung giảng dạy
trong các trường học thời bấy giờ. Đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở nước

xuyên quan tâm đến giáo dục đạo đức cho mọi người. Bác còn căn dặn Đảng ta phải
chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên, học sinh thành
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “ hồng” vừa “ chuyên”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản quan điểm đạo đức cách mạng là: “ Trung
với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, yêu thương con người,
có tinh thần quốc tế trong sáng” [29; tr.16]. Đến năm 1979 Bộ chính trị Ban chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về cải cách giáo dục
và Ủy ban giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học. Quyết định ghi rõ: “ Nội
dung giáo dục đạo đức cần được giáo dục dục cho học sinh từ mẫu giáo đến đại
học, nội dung chủ yếu dựa vào năm điều bác hồ dạy” [12; tr.42]. Trong hội nghị lần
thứ II của BCH TW Đảng khóa VIII, xuất phát từ mục tiêu đào tạo con người trong
giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Đảng ta đã cụ thể bằng văn kiện mang ý
nghĩa chỉ đạo sâu sắc là “ Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức dục, trí dục,
mỹ dục ở tất cacr các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân

10


cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành [11; tr.19]. Nghị quyết TW II
còn nhấn mạnh: “ Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho
sự toàn diện của đất nước, coi trọng nhận cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể
lực, gắn học với hành” [11; tr.23]. Rõ ràng với tư tưởng này, Đảng và Nhà nước ta
đã đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Thấm
nhuần quan điểm này, nhà trường chúng ta đã coi nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho
học sinh trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Lý tưởng giáo dục của nhà
trường không phải ngoài mục đích hình thành và phát triển nhân cách cao đẹp cho
học sinh. Đó là con đường tham gia tích cực vào sự tiến bộ của xã hội. Trong những
năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình đạo đức được các nhà
khoa học biên soạn khá công phu. Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiêm;
giáo trình Đạo đức học của tác giả Nguyễn Ngọc Long , tác giả Phạm Khắc Chương

ngành Quản lý giáo dục “ Một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
ở các trường THPT huyện Kim Bôi – Hòa Bình”, năm 2010.

- Tác giả: Quách Mứng, đề tài luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên
ngành Quản lý giáo dục “ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Hiệu
trưởng trường THPT Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng”, năm 2013.

- …
Nhận xét: Nhìn chung các công trình khoa học và đề tài trên đều tập trung đi
vào nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức, thực trạng công
tác quản lý hoạt động giáo dục đạo và đề xuất được các biện pháp phù hợp và khả
thi áp dụng tại cơ sở. Tuy nhiên, ở Tỉnh Ninh bình nói chung và trường THPT
Chuyên Lương Văn Tụy nói riêng về lý luận và thực tiễn vấn đề này chưa được
nghiên cứu một cách có hệ thống dựa trên đặc điểm đặc thù của địa phương. Vì
việc, việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp cho công tác quản lý giáo dục đạo đức tại
nhà trường sở tại trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, có
tính thực tiễn cao.
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó được
xem xét dưới rất nhiều góc độ và quan niệm khác nhau:
Dưới góc độ triết học, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin: “ Đạo
đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống
cộng đồng xã hội, phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội”[9; tr.21].
Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm
những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ
với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá

12


- Góc độ cá nhân: Đạo đức là hệ thống những phẩm chất nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ

13


trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và
với chính bản thân mình.
Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người là quá trình tác
động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hóa những nguyên tắc, yêu cầu,
chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho
cá nhân đó được trưởng thành về mặt đạo đức, công dân và đáp ứng được yêu cầu
xã hội. Theo đó, đạo đức sẽ có những chức năng cơ bản là:

- Chức năng nhận thức
- Chức năng giáo dục
- Chức năng điều chỉnh hành vi.
Ba chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau: có nhận thức đúng về
xã hội, về những quan điểm, những hành vi, những chuẩn mực đạo đức thì mới giúp
con người định hướng được những lý tưởng, tình cảm, thái độ ứng xử với cộng
đồng và môi trường, mới hình thành được những quan điểm, những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức cơ bản được xã hội chấp nhận, mới thấy được giá trị của nó. Từ
đó, con người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức
xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân mình để
điều chỉnh hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội.
Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu, trong
toàn bộ hoạt động sống của con người, trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của
họ, dù diễn ra trong hoàn cảnh và điều kiện nào thì mọi hình thái ý thức hoạt động
và giao lưu nếu được ý thức đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất và nội dung
của quan hệ đạo đức đều có khả năng ảnh hưởng đến dự hình thành mặt đạo đức

chính trị, thế giới quan và phẩm chất đạo đức. Do đó giáo dục đạo đức mà chúng tôi
nói đến ở đây sẽ bao gồm giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, giáo dục tư tưởng
chính trị và giáo dục các phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người mới cho học
sinh. Như vậy, giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị, tư
tưởng và giáo dục pháp luật. Đó là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng
khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội; trong đó, nhà trường giữ vai trò rất
quan trọng. Bản chất của giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ

15


thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh chuyển những chuẩn
mực, qui tắc, nguyên tắc đạo đức… từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của
riêng mình, mà mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu
của chuẩn mực xã hội. Giáo dục đạo đức không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ
những khái niệm, những tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục
đạo đức phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của mình.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục truyền thống tốt đẹp của ông cha
ta, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc và sự kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa
của nhân loại; giúp cho học sinh thấy được và biết giữ gìn những thành quả cách
mạng. Vì thế, giáo dục đạo đức trong nhà trường chỉ có được kết quả khi nhà giáo
dục biết tổ chức phù hợp, hình thức đa dạng, phong phú, khơi dậy được tính tích
cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học. Người học biết chuyển hóa
những cái tốt đẹp đó thành phẩm chất nhân cách của mình, phục vụ cho cuộc sống
xã hội. Như vậy, giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục
đích có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục ( học
sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu câu của xã
hội.[21; tr. 44]
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Quản lý

Theo quan điểm của kinh tế học: QL là sự tính toán, sử dụng hợp lý các
nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Theo Hà Sĩ Hồ: QL là một quản trình tác động có định hướng, có chủ đích,
tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng
của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn
định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [20;tr12].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể QL đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể QL) nhằm thực
hiện mục tiêu dự kiến [22; tr.18].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “QL là sự tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận
hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [22;tr. 16].

17


Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “QL là một quá trình định hướng, quá
trình có mục tiêu; QL là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt
được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ
thống mà người QL mong muốn” [22; tr.17].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “QL là một hệ thống xã hội, là khoa học và
nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu
quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [22; tr.13].
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lí là hoạt động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí
(người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đích của tổ chức” [2; tr.16].
Như vậy, theo chúng tôi, “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có
mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ
chức đó vận hành và đạt được mục tiêu đã đề ra”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status