niên luận: Số phận người vợ lẽ trong kho tàng ca dao và truyện cổ tích của người Việt - Pdf 34

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................Trang
1. Lí do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................4
3.1.
Phương pháp thống kê, so sánh...............................................................4
3.2.
Phương pháp phân tích tổng hợp.............................................................5
3.3.
Phương pháp so sánh, đối chiếu..............................................................5
4. Mục đích, ý ngĩa của đề tài...........................................................................5
5. Cấu trúc niên luận.........................................................................................6
B. PHẦN NỘI DUNG

Chương I. Điểm tương đồng giữa hình tượng người vợ lẽ trong ca dao và
trong tuyện cổ tích
Hình tượng văn học và hình tượng người vợ lẽ trong văn học dân gian. 6
1.1.1. Hình tượng nhân vật trữ tình trong ca dao.........................................7
1.1.2. Hình trượng nhân vật trong truyện cổ tích.........................................9
1.1.3. Bối cảnh lịch sử xã hội.....................................................................10
1.2.
Nội dung biểu hiện................................................................................12
1.2.1. Phẫn uất về kiếp chồng chung..........................................................12
1.2.2. Sự bần cùng hóa của người nông dân...............................................14
1.2.3. Sự phụ thuộc của cha mẹ, chế độ phong kiến..................................16
1.3.
Than thân...............................................................................................18
1.4.
Giá trị của người vợ lẽ tượng trưng cho người phụ nữ cổ xưa..............21
1.1.

dao và quyển 2,tập II tuyển tập văn học dân gian đã nói lên khá đầy đủ các thể loại
của văn học dân gian. Trong quá trình tiếp cận đó tôi nhận thấy có một bộ phận
sáng tác đề cập đến số phận người vợ lẽ và những nét riêng về số phận của họ
trong ca dao và truyện cổ tích. Do vậy để mở rộng khảo sát hơn tôi dã mạnh dạn
chọn đây là đối tượng khảo sát chính cho niên luận của mình với đề tài: Số phận
người vợ lẽ trong kho tàng ca dao và truyện cổ tích của người Việt
2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ca dao, truyện cổ tích là một thể loại ra đời từ rất sớm, nó trải qua một quá

trình lâu dài với những chặng đường hình thành và biến đổi. Vì thế trong văn học
dân gian đã có nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả thuộc nhiều lĩnh
vực khác nhau như: Công trình nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca dân gian người
Việt về con cò, cái bống của Vũ Ngọc Phan, rồi ca dao có mở đầu bằng từ “thân
em”, rồi “trách giận” hay tìm hiểu về một lĩnh vực cụ thể nào đó trong truyện cổ
tích. Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam có nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Chu
Xuân Diên, Võ Quang Nhơn đã đề cập đến hình ảnh người phụ nữ dưới chế dộ
phong kiến xưa. Trong cuốn tục ngữ ca dao của Vũ Ngọc Phan, phương pháp
nghiên cứu dân gian của Chu Xuân Diên và quyển 2, tập II tuyển tập văn học dân
gian đã có ít nhiều đề cập đế hình ảnh người phụ nữ.

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 3


Với chuyên luận Thi pháp ca dao, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính đã
tìm hiểu các vấn đề ngôn ngữ hình tượng, kết cấu, thể thơ, thi pháp diễn xướng,
thời gian, không gian nghệ thuật trong ca dao. Theo tác giả thì không gian nghệ
thuật trong ca dao truyền thống chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị,
phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hóa, mang tâm trạng tình cảm

các khía cạnh để cảm nhận cùng với đời sống con người. Bên cạnh đó ta có thể
thấy được các bước đi của các nhà nghiên cứu trước đó để rồi áp dụng, sáng tạo
thêm và tìm ra điểm mới mà các tác giả dân gian muốn truyền đạt tới người đọc
thông qua ngôn ngữ.
3.3

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Thông qua ca dao và cổ tích để tiến hành phương pháp này để thấy rõ những
đặc điểm và chỉ ra sự kế thừa của các bài, các tác giả khác nhau ở từng thời đại so
với xã hội phong kiến xưa.
4.

Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Ca dao là tiếng hát trữ tình phản chiếu đời sống tâm hồn. Nó chứa đựng nhiều
nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa dạng những tâm trạng, những tư tưởng
và tình cảm của đời sống con người. Nên nhân vật trữ tình trong ca dao nói chung
và số phận người vợ lẽ trong ca dao nói riêng luôn tìm được sự đồng cảm, cảm
thông sâu sắc từ phía người đọc. Còn truyện cổ tích thường có tinh thần lạc quan
phản ánh triết lí sống, đạo lý làm người và ước mơ công lý của nhân dân, phản ánh
mặt tốt, thói xấu ở đời, về sinh hoạt, tư tưởng của con người nên luôn nhận được
sự phê phán, lên án từ phía người tiếp nhận. Vì thế khi đi vào đề tài này tôi mong
muốn có được cách nhìn nhận mới hơn về số phận người vợ lẽ trong một nhóm ca
dao, cổ tích có vị trí không nhỏ trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Thông qua những bài ca dao, truyện cổ tích đề cập đến số phận người vợ lẽ này
chúng ta có thể thấy rõ hơn những đặc trưng thi pháp thể loại của nó và phần nào

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 5


phản ánh sinh động cuộc sống thực tế, chất liệu chủ yếu dùng để sáng tạo nên tác
phẩm văn học dân gian là ngôn từ. Ngông từ đóng vai trò quan trọng để tạo nên nội
dung, ý nghĩa tác phẩm. Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể
và tồn tại được dưới hình thức truyền miệng do đó mà nội dung của nó vô cùng
phong phú. Cho nên bản sắc văn hóa của con gười Việt Nam, đặc biệt là số phận
của người phụ nữ đã được in dậm trong văn học dân gian. Khác với hình ảnh thực
trong xã hội phong kiến, hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt hơn là số phận người vợ
lẽ đã được phản ánh trong các thể loại văn học dân gian luôn xuất hiện với giá trị,
vẻ đẹp và thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng được đề cao của người phụ nữ.
1.1.1

Hình tượng nhân vật trữ tình trong ca dao
Trong kho tàng ca dao người Việt, hình ảnh người vợ lẽ được nói đến với

những con người đảm đang, có tính kiên nhẫn và có sức chịu đựng cao:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công
Đến tối chị giữ mất chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Đến sáng chị gọi: Bớ Hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo
Vì chưng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 7


Qua bài ca dao trên ta thấy người làm lẽ ở đây thường làm đủ mọi việc trong
cuộc sống từ đi cấy, đi cày rồi nấu cám, thái khoai, băm bèo mà không một lời than
thở nào, đến cả đi cấy, đi cày những công việc được cho là của đàn ông nhưng họ

Không may hồng bẹp, một đồng ba đôi
Than rằng: "Ðất hỡi, trời ơi!
Trời cho bảy vợ như tôi làm gì?
Văn học dân gian không chỉ đem đến cho con người hiểu được số phận người
vợ lẽ trong ca dao. Để biết thêm về hình ảnh cũng như con người của họ, ta đi tìm
hiểu thêm các nhân trong những câu truyện cổ tích.
1.1.2

Hình tượng nhân vật trong truyện cổ tích
Nếu như trong ca dao hội tụ khá đầy đủ những đức tính tốt đẹp của người phụ

nữ làm vợ của người Việt xưa thì đến với truyện cổ tích thì những người làm vợ
cũng có nhiều nét đẹp như vậy. Nhưng vẻ đẹp đó lại được hội tụ ở người vợ cả, còn
số phận người làm lẽ lại thể hiện ít hơn rất nhiều, thậm chí là không có được những
đức tính tốt đẹp này.
Trong văn học dân gian, truyện cổ tích là hiện thân của những giấc mơ đẹp của
người Việt cổ hướng tới một xã hội công bằng, con người được sống trong no ấm
dân chủ, hạnh phúc. Các tác giả dân gian đã thể hiện những giấc mơ đó thật rõ ràng
qua cái thiện và cái ác. Trong truyện cổ tích, tiêu chí của cái thiện nằm ở chính
nghĩa. Có nghĩa thì sẽ gặp được người tốt giúp đỡ, nhận được những phép màu kỳ
diệu. còn cái ác, cái phi nghĩa thì nhất định sẽ bị trừng trị thích đáng. Bởi thế mà số
phận người vợ lẽ trong truyện cổ tích thường có sự phân tuyến rõ ràng theo hướng
“tuyệt đối” tốt hoặc xấu. cũng không có nhân vật nào bí ẩn. Dường như hình ảnh
Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 9


người vợ lẽ hiện lên trong cổ tích thường đa số là những người xấu. người gì ghẻ.
Còn nhân vật đại diện cho lý tưởng tốt đẹp lại là người vợ cả, những người có số
phận bi thảm, là những con người “thấp cổ bé họng”, thậm chí họ phải chết đi sống
lại rất nhiều lần nhưng cuối cùng lại được hưởng tự do và hạnh phúc. Số phận như

giáo là sản phẩm mê muội của loài nguời, khi khả năng và sự hiểu biết của cha ông
ta rất hạn chế. Ở nước ta lúc đó Đạo Phật đã dùng phật Thoại và Đạo Thần tiên đã
dùng Tiên Thoại để làm cho giáo lí của mình đi sâu vào quần chúng nhân dân.
Những câu chuyện kể về các vị thần giúp đỡ như cô Tấm (Tấm cám) đuợc tiên
giúp đỡ và đuợc hồi sinh đến bốn lần, vợ của Rồng (Vợ chồng chàng rồng) cũng vì
cá nuốt mà đuợc sống. Hơn nữa truyện cổ tích lúc đó chủ yếu phản ánh cuộc đấu
tranh xã hội, nội dung của chính lịch sử đó. Truyện cổ tích sản sinh trong một giai
đoạn lịch sử dài. Ở nước ta hơn hai nghìn năm duới chế độ phong kiến kể từ sau
khi nước Âu Lạc bị xâm luợc, đó là thời đại của truyện cổ tích. Tóm lại, nguồn gối
chính
Cùng với truyện cổ tích thì ca dao cũng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế xã hội
lúc bấy giờ. Lúc đó xã hội phong kiến ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nho giáo
nên con người, nhất là những số phận phụ nữ, những con người hỏ bé, những
người vợ lẽ được cho là thấp kém nhất của xã hội thì không được hưởng một hạnh
phúc thực sự. Ca dao dân ca phản ánh lịch sử lúc đó. Hơn nữa, ca dao còn có mặt
ngay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động, nên có còn là kho tài
liệu về phong tục tập quán của nhân dân ta thời kỳ đó. Theo phó Giáo sư, Tiến sĩ
Đặng Văn Lung, trưởng ban văn học dân gian phát biểu: “Tất cả các dân tộc trên
thế giới suốt mấy nghìn năm, chỗ nào cũng có ca dao và dân ca”. Và “Nó tồn tại
từ rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây,
các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện
ra, muốn nói lên. Những điều đó được gọi là ca dao” [9].

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 11


1.2 Nội dung biểu hiện
1.2.1 Phẫn uất về kiếp

chồng chung

những con người nhỏ bé đó đã thể hiện giá trị nhân đạo của cổ tích, phẩm chất của
người phụ nữ chính là đại diện cho phẩm chất cao quý của nhân dân.
Nỗi đau của những người vợ cả có lẽ không được đề cập một cách rõ nét
trong ca dao, bởi ít nhất họ cũng có danh phận. Ngược lại đối với truyện cổ tích thì
lại được nhắc đến nhiều. Nhưng trong niềm cảm thương cho những kiếp chồng
chung, thấp thoáng đâu đó ta bắt gặp trong ca dao có những nạn nhân của thói “có
mới nới cũ”. Người đời thường nói: đàn ông yêu bằng mắt. Bởi vậy, những người
vợ cả thường là những kẻ yếu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chốn tình
trường. Nhưng xét cho cùng, sự phai tàn xuân sắc của họ là kết quả của những
tháng năm dài hi sinh vì chồng, vì con. Ấy vậy mà đáp lại mong ước giản dị của
họ là sự phụ bạc phũ phàng của những ông chồng gió trăng:
-Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông.
Hay:
-Sông bao nhiêu nước cũng vừa
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.
Như vậy, ca dao và truyện cổ tích đã nói lên được những tâm tư, tình cảm và
sự phẫn uất của con người đặc biệt là những người làm vợ, làm lẽ trong xã hội
Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 13


phong kiến xưa. Ở hai thể loại này của văn học dân gian đã cho ta thấy hình ảnh
cũng như số phận của họ đều là nạn nhân của nhiều tầng áp bức và là hạng người
đau khổ nhất. Đời sống của họ đầy rẫy sự chịu đựng. Nếu có niềm vui nào thì cũng
chỉ là niềm vui hi sinh cho chồng con.
1.2.2

Sự bần cùng hóa của người nông dân

hơn nữa họ còn phải chịu cảnh ghen ghét, lòng đố kỵ, sự tàn ác và ích kỷ của
những người vợ cả để rồi đẩy con người đến bước đường cùng của sự sống.
Số phận con người bị rơi vào cảnh bần cùng hóa như vậy không chỉ có ở
trong ca dao mà còn được các tác giả dân gian thể hiện cả trong những câu chuyện
cổ tích chắc hẳn ai cũng có mật lần được nghe, được học. Tiêu biểu nhất vẫn là
truyện Tấm Cám. Tấm là một người vợ, nhưng là người vợ cả và phải chịu những
số phận chẳng kém gì những người vợ lẽ trong ca dao. Nhưng ở đây lại có phần bi
thảm hơn. Dường như giữa những người vợ họ chịu chung một số phận, rơi vào
còn đường ngõ cụt, thậm chí ở trong cổ tích thì những người phụ nữ không có
tiếng nói còn phải nhiều lần chết đi rồi sống lại mơi có thể tìm được hạnh phúc
chân chính của chính mình. Như cô Tấm phải trải qua nhiều kiếp nạn lúc thì hóa
thân thành khung cửi, thành con chim sẻ rồi lại quả thị. Nhưng cuối cùng cái thiện
vẫn thắng cá ác và những số phận như thế lại trở về với cuộc sống nguyên bản của
nó. Bên cạnh đó còn có hàng loạt các câu chuyện khác cũng được kể, đặc tả về số
phận cũng như con người của họ như truyện Inh và Ính, Chàng Tơ Rá Trang Lan…
Còn người làm lẽ trong cổ tích lại còn có một kết cục chung nhất, đó là cái ác chết
đi, cái thiện ở lại rồi để lại đó bao bài học về sự sống, số phận cho con người bao
hế hệ.

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 15


Dù ở trên bất cứ phương diện nào đi chăng nữa suy cho cùng thì số phận
người phụ nữ xưa đặc biệt là những người vợ lẽ đã cho thấy họ không có quyền lựa
chọn cho cuộc sống của họ giữa sự sống, ước mơ và những lý tưởng cao đẹp về
một cuộc sống hạnh phúc hơn, họ bị rơi vào cảnh bần cùng hóa bởi lẽ họ còn bị
ràng buộc ở một nền gia đình và một chế độ lễ giáo phong kiến lạc hậu xưa.
1.2.3 Sự phụ thuộc của cha mẹ, chế độ phong kiến
Ca dao và cổ tích rất phong phú và đa dạng phản ánh mọi mặt của đời sống con
người và xã hội. Thông qua ca dao và truyện cổ tích cách tác giả dân gian đã phản

Cho nên cú ở với tiên cùn đời
Bao giờ mãn kiếp con cú kia ơi
Thì tiên với cú mới rời được nhau.
Hay:
Đường đi những ngách cùng lau
Cha mẹ tham giàu ép gả duyên con.

Điều đó đồng nghĩa với việc làm tròn bổn phận của một chữ “hiếu”, đó là phải
đạo đối với cha mẹ. những đạo lí như vậy là một trong những đức điển hình của
người phụ nữ xưa nói riêng và những người phụ nữ Việt Nam nói chung và là nét
đẹp của văn hóa Việt Nam thời bấy giờ.

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 17


1.3

Than thân
Văn học dân gian phản ánh đa dạng về mọi mặt của đời sống con người, xã hội

cũng như phản ánh tâm tư tình cảm của con người. Khi đến với ca dao để tìm hiểu
về số phận người vợ lẽ thì ở đó ta thấy phần lớn những bài ca dao nói về số phận
người vợ lẽ đều mở đầu bằng từ “thân em” đều diễn tả thân phận, cuộc đời bị phụ
thuộc, không được quyền quyết định, chịu thân phận không có tình yêu để rồi từ đó
gợi cho người đọc, người nghe sự đồng cảm sâu sắc. Đó cũng là lời chung của
người phụ nữ về thân phận nhỏ bé, yếu ớt đắng cay và tội nghiệp của họ dưới chế
độ xưa.
Những người phụ nữ ở đây than cho số kiếp của một kẻ lẻ mọn:
Thân em làm lẽ chẳng hề
Như chính như thất mà lê giữa đường

đối.
Giữa cái xã hội bất công, xã hội mà ở đó không có công lý, không có một sự
bình đẳng nào thì những người phụ nữ, người vợ, những số phận bất hạnh kia họ
chỉ còn biết than thân, trách phận, trách sao số mình sinh ra lại khổ, lại rơi vào
cảnh trớ trêu. Họ không thể làm được gì ngoài cam chịu số phận bởi ngoài kia là
một xã hội quá tàn nhẫn và bất công:
Bao giờ bánh đúc có xương
Thì bà gì ghẻ mới thương con chồng
Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 19


Người phụ nữ xưa phải sống trong xã hội đầy rẫy những bất công, cho dù thế
họ vẫn luôn khắc khoải, khao khát được thoát khỏi cuộc sống tăm tối, tủi nhục đó:
Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không cất nỗi mình mà bay.
Qua những lời ca dao đó chúng ta có thể thấy được cuộc sống đầy bất hạnh của
người phụ nữ ngày xưa. Họ mượn ca dao để nói lên tiếng nói từ trong tâm khảm
của mình. Ở họ còn có những phẩm chất vô cùng đáng quý. Qua những câu ca ấy,
chúng ta cảm nhận được cả tiếng nói phê phán, lên án sự bất công, những hủ tục
lạc hậu của xã hội lúc bấy giờ đã đè nặng lên số phận người phụ nữ để họ phải chịu
bao nhiêu trái ngang, cay đắng.
Sự bất công, bất bình đẳng đó không chỉ có trong ca dao xưa mà ngay cả truyện
cổ tích cũng được nói đến nhiều. Nhưng số phận phải chịu đựng lại rơi vào mẹ con
người vợ cả để rồi xảy ra mâu thuẫn hạnh phúc giữa gì ghẻ và con chồng. Nhưng
để có những mâu thuẫn, xung đột đó còn phải có yếu tốt kì ảo làm kéo dài thêm
những kiếp nạn mà các nhân vật phải trải qua. Như ở truyện cổ tích vợ chồng
chàng rồng thì hai mẹ con nhà vợ rồng phải trải qua kiếp nạn sống trong bụng cá
cho tới khi cá chết dạt vào bờ mới chui ra được. Tất nhiên ở những thể loại truyện
cổ tích khác như Thạch Sanh, Sọ Dừa… cũng không dễ dàng gì để đi đến một hạnh
phúc. Nhưng khác với truyện cổ tích sinh hoạt thì trên hành trình các nhân vật đã

cũng là lúc họ đang ý thức được giá trị thực tại của mình.
Nếu như ở dòng văn học cách mạng giai đoạn kháng chiến chống Pháp có nhân
vật Mị đã đi vào trang Văn của Tô Hoài với một sức mạnh phản kháng mạnh mẽ,
không cam chịu số phận tủi nhục, Mị đại diện cho những người phụ nữ để khao
khát một cuộc sống tốt đẹp hơn thì đến với ca dao xưa ta lại thấy sự khao khát của
người phụ nữ ở đây không phải là khao khát mang tính bản năng thuần túy mà là
một khát kháo cho hạnh phúc chính đáng nhất của con người. Vì thế mà họ đã
nhắn nhủ nhau rằng:
Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 21


-Đói thì ăn nắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng
Một thuyền một lái chẳng xong
Một chĩnh đối gáo còn nong tay vào.
-Chồng con là cái nợ nần
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.
Người phụ nữ không phải chỉ biết có chịu đựng. Trong văn học dân gian Việt
Nam, tiếng nói đấu tranh của người phụ nữ đã từng đẻ ra nhiều tác phẩm có nội
dung xã hội sâu sắc. Trong ca dao, nhiều câu hát trữ tình đã trở thành những câu
hát cửa miệng của nhân dân. Những bài ca mang nội dung đấu tranh này trình bày
một nét nổi bật của tâm trạng người phụ nữ, đó là tình trạng phản ánh mạnh mẽ đối
với tình trạng sống cay cực của mình. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Con giun xéo
lắm cũng phải quằn”. Nhiều câu ca dao của người phụ nữ thể hiện thái độ dứt
khoát trong cuộc đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của thành kiến xã hội.
Ca dao xưa đem đến cho chúng ta thấy ở đó toát lên những mảnh đời, những số
phận trắc ẩn và không có phần mạnh mẽ. Khi đến với cổ tích cũng vậy, ta thấy rõ
thêm phần trắc ẩn đó. Họ cũng đại diện cho nhiều lớp phụ nữ khác cùng cảnh đứng
lên đấu tranh cho số phận, cũng khát khao hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc mà
người vợ lẽ trong cổ tích lại không phải là một hạnh phúc chính đáng nhất. Ở đó có

những tác phẩm đó là tiếng nói đau đớn của những số phận, tiếng nói đó đã đại
diện cho cả một cộng đồng dân tộc để khẳng định giá trị của mình.

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 23


Như vậy trong văn học dân gian việt nam, hình tượng người phụ nữ nói chung
và những người vợ lẽ nói riêng đã có một vị thế quan trọng, họ được đề cao, được
nói lên khát vọng tự do, họ đấu tranh cho khát vọng hạnh phúc của mình. Mặc dù
số phận và cuộc đời cũng như vị trí của người phụ nữ trong xã hội cũ, xã hội phong
kiến thường chịu nhiều bất công, oan khổ. Nhưng trong văn học dân gian thì hình
tượng người phụ nữ vẫn là một hình tượng đẹp tượng trưng cho người phụ nữ cổ
xưa.
Chương II: Điểm khác biệt về hình tượng người vợ lẽ giữa ca dao và truyện
cổ tích
2.1 Nội dung
Quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam là quá trình lao động sáng
tạo và cũng là quá trình đấu tranh chống những giai cấp áp bức nhân dân lao động.
Cuộc đấu tranh xã hội của nhân dân Việt Nam ở tất cả các thời kỳ lịch sử đã từng
là đề tài phong phú cho các sáng tác dân gian. Dưới chế độ phong kiến, nhất là vào
những suy thoái, cuộc đấu tranh đó diễn ra thường xuyên trên hai lĩnh vực chính:
Đấu tranh chống giai cấp địa chủ và đấu tranh chống chính quyền phong kiến. Vì
vậy ca dao, dân ca trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội chủ yếu ra đời trong
thời kì lịch sử này, phản ánh những tâm trạng đau khổ, uất ức, thái độ phản kháng
của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ
và chính quyền phong kiến [1, tr458].
Cùng với các đề tài về tình yêu nam nữ, đề tài đời sống xã hội thì đề tài đời
sống sinh hoạt gia đình mà ta đang nhắc đến trong nghiên cứu này với những tiếng
hát trữ tình đã vang lên với nhiều âm điệu khác nhau: Khi là tiếng hát ca ngợi tình
yêu đối với gia đình, khi là tiếng than thở, khi là tiếng hát phẫn uất đấu tranh.

Nguyễn Thanh Hằng – K57 Sư phạm Ngữ VănPage 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status