Luận văn Thạc sĩ Văn học: So sánh một số kiểu truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Thủy

SO SÁNH MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN
CỔ TÍCH CỦA CÁC TỘC NGƯỜI SỬ
DỤNG NGỮ HỆ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM
VÀ INDONESIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Thủy

SO SÁNH MỘT SỐ KIỂU
TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA CÁC
TỘC NGƯỜI SỬ DỤNG NGỮ
HỆ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM
VÀ INDONESIA
Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG



MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng là nơi lưu giữ mối quan hệ văn hóa
tộc người và các dân tộc có chung quá trình lịch sử văn hóa. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Đông
Nam Á trên bình diện chung rất được quan tâm nhưng ở những khía cạnh văn học dân gian chưa
thực sự có sự đầu tư nghiên cứu đúng mức. Nhất là những ảnh hưởng qua lại giữa các quốc gia
những giai đoạn khởi nguyên. Sự đối sánh nền văn học dân gian các dân tộc giữa các quốc gia là
con đường đã và đang được thực hiện cho thấy nhiều hứa hẹn. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định
đây là con đường khả dĩ cho sự tiếp cận vấn đề này.
Việt Nam là một nền văn hóa đa tộc người. Nhưng chủ yếu trước nay, các nhà nghiên cứu
vẫn chú trọng đến văn học dân gian người Việt nhiều hơn. Riêng việc tìm hiểu mối tương đồng, dị
biệt giữa văn học dân gian các dân tộc ở Việt Nam với các nước trong khu vực còn hạn chế.
Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam tuy số lượng người không nhiều nhưng đã có những dấu
ấn văn hóa riêng tạo nên một bức tranh văn hóa, ngôn ngữ và văn học phong phú, đa sắc của Việt
Nam. Khi so sánh với “xứ sở vạn đảo” khác ở Đông Nam Á, chúng tôi bắt gặp những điểm tương
đồng thú vị… Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến Indonesia, một quốc gia đa dân tộc nhưng hầu hết
đều sử dụng ngữ hệ Nam Đảo.
Từ đó, người viết chọn đề tài “So sánh một số kiểu truyện cổ tích của các tộc người sử
dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia” để nghiên cứu trong luận văn này. Chúng tôi kỳ
vọng cho việc đặt một hướng đi mới để nhìn nhận hai nền văn hóa ở buổi sơ khai với những điểm
tương đồng và khác biệt, được biểu hiện qua bộ phận văn học dân gian dưới góc độ tộc người.
2. Mục đích nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đặt ra mục đích giải quyết những vấn đề sau:
- Tìm hiểu các hệ ngôn ngữ Đông Nam Á và vai trò của ngôn ngữ như là một yếu tố tham
chiếu có ảnh hưởng đến văn hóa nói chung và văn học dân gian nói riêng. Trong đó, định hướng vai

của Indonesia và Malaisia và xác định những nền tảng dân tộc và văn hóa cho sự ra đời truyện cổ
tích ở hai quốc gia này. Hai quốc gia hình thành trên lãnh thổ Nusantara, có cơ tầng văn hóa chung
gọi là Mã Lai – Indonesia. Ông phân loại truyện cổ tích Indonesia thành: TCT Thần kỳ; TCT Sinh
hoạt; TCT động vật. Theo đó, tác giả cho rằng: “Việc phân loại thành 3 kiểu loại truyện cổ tích theo
nội dung và các yếu tố hình thức như trên là cách thức tối ưu để trình bày khái quát về truyện cổ
tích Mã Lai – Indo” 1
0F
P

Đi sâu vào từng tiểu loại, Đức Ninh chứng minh rằng: Truyện cổ tích thần kì ở đây đã có
những thay đổi căn bản so với thần thần thoại, một thể loại mà nó trực tiếp có mối quan hệ họ hàng.
Chẳng hạn như một loạt truyện cổ tích thần kì đã kể về hôn nhân người và vật, mang ý nghĩa tô tem
-

1

trang 84, Một số vấn đề văn hóa dân gian (Folklore) Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 2008.


giáo; cách xây dựng nhân vật chính diện và quan niệm thiện thắng ác; thể hiện những xung đột gia
đình sau khi chế độ thị tộc-bộ lạc hay “đại gia đình” tan vỡ. Sau đó, tác giả này khẳng định rằng
nhân vật truyện cổ tích thần kỳ của Indo - Malai cũng không đi ngoài nhận định của Melechinski
(Nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, Matxcova): “hình tượng con người dần thay thế đường nét màu
nhiệm, con người đạt được mục đích bằng chính sức lực của mình, chiến thắng và điều khiển được
con vật”.
Truyện cổ tích sinh hoạt và động vật phản ánh đầy đủ hơn, toàn diện hơn những mối quan hệ
giữa con người với con người và với con vật so với truyện cổ tích thần kì. Thế giới động vật mang
sắc thái của con người và qua đó để phê phán những thói hư tật xấu, đề cao luân lý. Hình tượng con
can chi ( Cerita Kancil - con hươu, đối với Mã Lai là con Pelanduk) phổ biến thành chuỗi truyện;
đây là con vật đại diện cho trí thông minh của con người, đây là cách quy chụp “phiên bản” xã hội

đối sánh với truyện cổ Indonesia. Những sự so sánh này dựa trên nguyên tắc khách quan phi định
kiến, không lấy nền văn học nào làm điểm quy chiếu cho nền văn học khác với cái nhìn thiên lệch.
Tất nhiên, khi so sánh dựa trên sự tương quan cùng thứ bậc của các truyện cổ, không có sự phân
hạng cao thấp. Nguyên tắc so sánh liên ngành được sử dụng trong quá trình khảo sát mang lại cái
nhìn toàn diện và đánh giá vấn đề chính xác hơn.
Quá trình so sánh các kiểu truyện của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và
Indonesia được nghiên cứu từ sự so sánh ở nhiều cấp độ nên nguyên tắc so sánh tổng hợp được áp
dụng trong suốt quá trình nghiên cứu với sự so sánh từ kiểu truyện (type) và motif đồng thời với quá
trình so sánh trong nhiều hệ thống sẽ giúp nhìn nhận ý nghĩa tiềm ẩn và đánh giá tương quan giá trị
của nó.
- Phương pháp cấu trúc được sử dụng trong quá trình phân giải mỗi tác phẩm để định hình
cấu trúc của truyện. Cấu trúc nội tại của mỗi truyện là nền tảng cho những khái quát và mô hình hóa
thành những kiểu truyện; cũng như sự đối sánh các thành tố cấu thành nên tác phẩm là cơ sở khoa
học cho những kết luận chi tiết.
b. Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian:
- Nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa: đặt văn học dân gian tộc người trong
sinh quyển văn hóa của nó để nghiên cứu với các dân tộc sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và
Indonesia có sự ảnh hưởng từ văn hóa ngôn ngữ Nam Đảo đã dẫn đến những tương đồng như thế
nào. Quá trình biến đổi theo sinh quyển văn hóa đã tạo nên những nét riêng ghi dấu trong truyện cổ
tích các tộc người.
- Nghiên cứu theo phương pháp loại hình học trong văn học dân gian được áp dụng để
làm nền tảng định hình cho những cấu trúc truyện theo loại hình truyện cổ tích và phân chia thành
các yếu tố, cũng như tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng. Sự xác định từ loại hình sẽ giải quyết vấn đề
từ sự giới thuyết ở loại hình truyện cổ tích và áp dụng các lý thuyết thi pháp để phân loại nhỏ hơn,
quá trình di chuyển, biến dạng của thể loại theo thời gian, không gian để phân thành truyện cổ tích
loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng để nghiên cứu truyện cổ tích của văn
học dân gian trong sự tác động không ngừng của các ngành khác trong folklore. Các tác động của



Sau nhiều tranh cãi cuối cùng, Tiếng Việt được xếp hẳn vào ngữ hệ Nam Á; còn tiếng Thái
thì tách thành một ngữ hệ riêng. Như vậy, hiện nay ở Đông Nam Á có 4 ngữ hệ:
1. Ngữ hệ Nam Á
2. Ngữ hệ Nam Đảo
3. Ngữ hệ Hán – Tạng
4. Ngữ hệ Thái
Riêng ngữ hệ Nam Đảo (Malayo – Polinêdia) được phân bố ở các nước như: Ngữ hệ Nam
Đảo tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaixia. Ngoài ra, ngữ hệ này còn được
sử dụng ở một số nước: Campuchia, Việt Nam và Xingapo. Nhóm Pôlinêdia chủ yếu ở đại lục Úc
và các đảo Nam Thái Bình Dương.
Có thể thấy, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á vô cùng đa sắc đã gần như là một thế giới thu
nhỏ với nhiều tộc người sử dụng các hệ ngôn ngữ khác nhau. Điều đặc biệt là địa bàn phân bố ngôn
ngữ không mang tính tập trung theo một địa vực, tính chất phân tán của tộc người đã làm nên sự
phân tán của ngôn ngữ. Nhưng chính điều này đã làm nên nền văn hóa và văn học đa dạng phong
phú của từng vùng lãnh thổ, đồng thời quá trình thiên di của tộc người với ngôn ngữ đã mang theo
những nét truyền thống và những đặc điểm thích nghi mới. Văn hóa của các tộc người Nam Đảo (sử
dụng ngữ hệ Nam Đảo), với sự khỏi phát từ vùng biển đảo đã để lại dấu ấn trong văn hóa đa đảo rõ
nét đến ngày nay như ở Indonesia, Malaysia, Mianma, Philippin; Singapor… Riêng các tộc người
sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam, quá trình phát triển văn hóa không chỉ dừng lại ở đó khi đến


Việt Nam. Do điều kiện sống, nền văn hóa hải đảo của họ không tiếp tục phát triển mạnh. Sự thích
nghi của một nền văn hóa rừng núi đã tạo thêm nét văn hóa đặc thù cho những tộc người này khi di
chuyển địa bàn sinh tụ đến miền rừng núi dọc Trường Sơn – Tây Nguyên. Vì vậy sự hòa trộn, chồng
lắp các chồng văn hóa trong truyện dân gian trở thành thách đố cho công việc khảo cứu.
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình tư duy và phát triển của loài người
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện vật chất để biểu đạt tư duy mà còn là công cụ hoạt động
tư duy, tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển của tư duy con người. Ngôn ngữ là
một trong những đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Một ngôn
ngữ cụ thể bao giờ cũng gắn liền với một tộc người nhất định. Ngôn ngữ là một biểu hiện của văn

tích hợp văn hóa để hình thành nên văn hóa quốc gia dân tộc mang tên là Việt Nam. Quả thật, chỉ có
ở Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á mới có một bức tranh đa dạng, đa sắc, đa hương, đa vị
như vậy. Đó là những gam màu đậm nhạt khác nhau: nơi giàu chất núi, nơi thấm đượm chất biển,
nơi mỡ màng chất đồng bằng. Nói cách khác, cũng là màu xanh nhưng có xanh núi rừng, xanh màu
lúa, xanh nước biển. Hơn thế nữa ở đây không chỉ có “đa” mà còn có “ẩn” trong ký ức của thời
gian. Thời gian đã dệt nên những bức màn lịch sử với bao sự biến động thăng trầm cũng là nơi hội
tụ đủ các bộ tộc thuộc tất cả các dòng ngôn ngữ Đông Nam Á: Nam Á, Nam Đảo, Hán – Tạng, Môn
– Khơ me, Việt Mường…
Khó có thể đi đến tận cùng sự miêu tả chi tiết văn hóa tộc người. Người Tày – Thái đã có
một đóng góp cực kỳ quan trọng vào nền văn hóa Việt Nam. Đó là văn hóa lúa nước. Chính người
Việt đã áp dụng mô hình này vào vùng Châu thổ Bắc Bộ và sau này nhân rộng ra cả nước. Trong
khi đó các nhóm Môn Khmer đại diện cho văn hóa núi, sống rải rác trên vùng cao làm nương rẫy,
ngôn ngữ bị vỡ vụn ra thành từng mảnh. Nhưng đó chính là những cư dân bản địa cổ nhất, còn bảo
lưu được những yếu tố tiền cốc loại và những người chủ thực sự của Cao Nguyên. Đặc biệt, người
Chăm cùng với các dân tộc Êđê, Giarai, Raglai, Churu tạo thành nhóm ngôn ngữ Nam đảo trên lục
địa. Văn hóa Chăm đậm chất biển. Chính người Chăm đã có đóng góp to lớn vào phức thể văn hóa
Việt Nam - yếu tố văn hóa biển, làm cho nền văn hóa Việt Nam hội đủ ba yếu tố: núi, đồng bằng và
biển.
Trong bức tranh đa sắc tộc của Việt Nam, ở phía Bắc có một số bộ tộc nói ngôn ngữ Hán Tạng, phần lớn là cư dân Tạng Miến và Mèo Dao. Họ là những người chuyển tải văn hóa từ Bắc
xuống Nam, mang lại cho văn hóa Việt Nam một chút hương vị phương Bắc, nối Cao nguyên Vân
Quý với Châu thổ Sông Hồng và biển Đông. Nhóm H’mông – Dao là một nhóm hỗn hợp mà ngôn
ngữ của họ có cơ tầng Môn Khmer và cơ chế Tạng Miến. Người Dao vào Việt Nam sớm hơn người
H’mông, sống du canh du cư, làm rẫy, ở nhà đất, nửa đất nửa sàn hay nhà sàn, thờ Bàn vương, khi
chết vẫn được đưa hồn về Dương Châu, Trung Quốc.
Rất nhiều dân tộc ít người sống xen kẽ với nhau, thậm chí có những nhóm nhỏ bị tách biệt,
có nguy cơ bị mất tiếng mẹ đẻ, nhưng họ lại bảo lưu những ngôn ngữ và văn hóa rất xưa và có giá
trị lịch sử…


Chỉ với từng ấy thôi chúng ta đã thấy được bức tranh đa sắc tộc của Việt Nam với những nét

Trong ngữ hệ Nam Đảo, việc xác định nguồn gốc tên họ của ngôn ngữ tương đối khó khăn.
Đây không chỉ có vấn đề làm thế nào phân định ranh giới ngôn ngữ và phương ngữ mà còn là vấn
đề làm thế nào phán đoán tên gọi ngôn ngữ và danh xưng của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó có phải
một hay không. Chẳng hạn tên gọi các phương ngữ tiếng Dayak phía Tây Bắc Kalimantan và
Sarawak, theo các số liệu điều tra có đến 70 tên, nhưng qua nghiên cứu cho thấy trong đó một số
“phương ngữ” khác nhau rất xa, đến nỗi nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, nên xem chúng là hững ngôn
ngữ độc lập riêng biệt. Do đó, chỉ một “ngôn ngữ Dayak” có lẽ đã chứa trong đó cả chục ngôn ngữ
khác nhau. Tình hình này gây khó khăn rất lớn trong công tác thống kê ngôn ngữ. Một nguyên nhân


khác dẫn đến tình trạng ngôn ngữ phức tạp này là địa bàn phân bố của ngữ hệ Nam Đảo vẫn còn sử
dụng rất nhiều ngôn ngữ Creole và Pidgin, do hoạt động thương mại khu vực này phát triển, nên
việc sử dụng tiếng Creole và Pidgin cũng có chiều hướng tăng lên. Ngoài ra, mọi người còn dùng
rộng rãi các ngôn ngữ giao tiếp khác nhau (lingua franca)- đặc biệt tiếng Indonesia, tiếng Bazaar
Malay, tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Pháp, đây là ngôn ngữ dùng để giao lưu giữa những người nói
tiếng mẹ đẻ khác nhau.
Tính tương đồng về nguồn gốc một số ngôn ngữ trong ngữ hệ Nam Đảo, do một nhà nghiên
cứu người Hà Lan phát hiện đầu thế kỉ XVIII. Trong hơn một thế kỉ sau, số ít các nhà nghiên cứu
lấy lý do về mặt nhân chủng, tin rằng tiếng nói của người Indonesia và Polynesia có quan hệ thân
thuộc nhưng không có quan hệ gần gũi với tiếng của người Melanesia. Giữa thế kỉ XIX, một nhà
ngôn ngữ học đã chỉ ra các ngôn ngữ Polynesia và Melanesia có nguồn gốc chung.
Vào thế kỉ XX, có nhà nghiên cứu đã mô tả tiếng Nam Đảo nguyên thủy (ProtoAustronesian) và bắt đầu tiến hành so sánh các loại hình trong toàn bộ ngữ hệ. song về thành phần
cụ thể trong ngữ hệ Nam Đảo, các nhà nghiên cứu có những ý kiến khác nhau. Thông thường có hai
phương pháp phân loại, một là chia thành 4 nhóm: Indonesia, Micronesia, Melanesia, Polynesia, hai
là chia thành hai nhóm lớn” nhóm Tây (còn gọi là nhóm Indonesia) và nhóm Đông (còn gọi là
“nhóm đại dương”, với đảo New Guinea là ranh giới. Sau đây là phần giới thiệu khái quát hai nhóm
này:
1. Nhóm Tây (nhóm Indonesia): về số lượng ngôn ngữ trong nhóm này, hiện nay vẫn chưa
có số thống kê chính xác, các dự đoán của các nhà ngôn ngữ học có độ chênh lệch khá lớn, thông
thường cho vào khoảng 200-400 loại với số người sử dụng gần 200 triệu. phân bố ở Madagascar,

đa số các ngôn ngữ thuộc nhóm Đông đều tập trung vùng này. Ước tính nhánh Melanesia có hơn
200 ngôn ngữ. Chúng phân bố ở Fiji – phía Nam xích đạo, New Guinea, New Britain, New Ireland,
quần đảo Sosomon, quần đảo New Hebrides và đảo New Caledonian,… Các ngôn ngữ đều có số
lượng người sử dụng rất ít, từ vài trăm đến vài ngàn, chỉ có tiếng Fiji là có số người sử dụng nhiều:
tiếng Motu, tiếng Kerebuto.
Rất khó đưa ra một mô tả khái quát về những đặc điểm chung của ngữ hệ Nam Đảo do tính
chất muôn hình vạn trạng của các ngôn ngữ thành phần. Nói chung nhóm ngôn ngữ Đại Dương có
rất ít; sự thay đổi hình thái của các danh từ và động từ thường khá đơn giản; việc lặp lại từ gốc động
từ có thể diễn đạt nhiều chức năng từ thường dùng phần nhiều song âm tiết; trong hệ thống đại từ,
đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều có hai hình thức “chúng ta” (inclusive personal pronoun) và
chúng tôi (exclusive personal pronoun); tên riêng, danh từ chung, danh từ chỉ phương hướng phải
them vào đó những quán từ khác nhau; trật tự từ thông thường là chủ ngữ - động từ - tân ngữ, tuy
nhiên, ở nhóm ngôn ngữ Polynesia là động từ - chủ ngữ - tân ngữ; đa số từ gốc vừa có thể dùng làm
danh từ, vừa có thể dùng làm động từ, nhánh Tây về ngữ âm và hình thái càng tỏ ra bảo thủ hơn,
càng ít biến hóa hơn so vói nhánh Đông.
Do khác biệt quá lớn về kết cấu giữa những ngôn ngữ Nam Đảo, nên các nhà nghiên cứu ước
đoán lịch sử phát triển ngữ hệ Nam Đảo trải qua ít nhất 4000 năm. Những chứng cứ khảo cổ học và
ngôn ngữ học cho thấy ngữ hệ Nam Đảo có khả năng hình thành từ New Guinea. Nhưng dù những


năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu rộng rãi ngữ hệ Nam Đảo, lịch sử sơ khởi
của ngữ hệ này vẫn còn nhiều điểm khá mơ hồ, luôn gây tranh cãi, việc phân loại trong nội bộ ngữ
hệ cũng không thống nhất.
Về bối cảnh và chi tiết cuộc di dân các dân tộc ngữ hệ Nam Đảo cho đến nay vẫn còn mơ hồ.
Song có vết tích chứng tỏ, từ hơn 1500 năm trước, họ đã lần lượt định cư trên các đảo thuộc Thái
Bình Dương. Sau đó một nhánh trong tộc Malay – Polynesia tách ra từ Kalimantan – Indonesia
ngày nay di cư về phía Tây, sau cùng đến đảo Madagascar châu Phi; họ chính là tổ tiên của cư dân
quần đảo Madagascar ngày nay. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao
địa bàn phân bố ngữ hệ Nam Đảo lại rộng lớn đến thế.
Chữ Indonesia xuất phát từ từ Indus trong tiếng Latinh, có nghĩa "Ấn Độ", và từ nesos

T
7

Indonesia. Thay vào đó, họ dùng thuật ngữ Quần đảo Malay (Maleische Archipel); Đông Ấn Hà
Lan (Nederlandsch Oost Indië), khái quát chung Indië; phương Đông (de Oost); và thậm chí
Insulinde.
Indonesia là một kết hợp của khoảng 250 chủng tộc, phần đông có họ hàng gần gũi với nhau
trên phương diện ngữ học và nhân chủng học thuộc nhóm tộc Mã Lai. Nhiều chủng tộc còn giữ
được truyền thuyết là tổ tiên họ di cư đến bằng thuyền từ phương bắc. Trên đảo Java đã đào được
nhiều trống đồng cùng kiểu với trống đồng Đông Sơn. Nhiều sách giáo khoa lịch sử Indonesia dạy
7T

T
7

bài mở đầu với nền văn minh trống đồng.
Các di tích hoá thạch của người Homo erectus, thường được gọi là "Người Java", cho thấy
7T

T
7

T
7

T
7

quần đảo Indonesia đã có người ở từ hai triệu năm tới 500.000 năm trước. Người Austronesian, là
T



Indonesia ở Đông Nam Á là quần đảo giữa Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương, Tây
Bắc giáp Malaysia, Đông giáp Papua New Guinea. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Indonesia ( tiếng
Bahasa Indonesia) có nguồn gốc tiếng Malay (ngôn ngữ thương mại Malaysia thời thuộc địa). Do
phạm vi sử dụng rộng rãi tiếng Indonesia được xem là nền tảng tiếng nói chung của các dân tộc.
Ngoại trừ một số ngôn ngữ miền Đông (chủ yếu là tiếng Marinde và tiếng Ningbola) có quan
hệ với ngôn ngữ Papua, các ngôn ngữ khác đều thuộc ngữ hệ Nam Đảo (hoặc gọi là ngữ hệ Malayo
– Polynesian). Phạm vi phân bố của ngữ hệ này khá rộng từ đảo Madagasca chạy đến Đông Nam Á
và các quần đảo Melanessia, Micronesia và Polynesia. Tuy nhiên, 80% số người sử dụng các ngôn
ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo đều sinh sống ở Indonesia và trên 50% số đó tập trung ở đảo Jawa.
Tiếng Jawa, một ngôn ngữ lớn ít được nhiều người biết đến trên thế giới, có đến hơn 80 triệu người
sử dụng (gồm cả những người dùng làm ngôn ngữ thứ hai). Mẫu tự, ngữ pháp và thay đổi thanh
điệu đều hoàn toàn không giống với tiếng Indonesia. Tiếng Jawa, tiếng Sundanese và tiếng
Madurese đều có truyền thống văn học rất lâu đời.
Ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam có 5 dân tộc sử dụng : Giarai, Êđê, Chăm, Ra-glai, Churu.
Dân tộc Chăm ở việt nam còn có tên gọi khác là Chàm, Chim Thành, Hời, sống tập trung ở
hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số nơi khác như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thành
phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm; Tây Nam Bình Định và Tây Bắc Phú
Yên có người Chăm thuộc nhóm Hroi.
Ngôn ngữ: Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo ( Malayô – Polinêsien) của
ngữ hệ Nam Đảo ( Autronesian). Tôn giáo: Bên cạnh tôn giáo bản địa, người Chăm theo đạo Hồi và
đạo Bà – La – Môn. Đạo Hồi có hai nhóm: Bàni ( Hồi giáo cũ), Ixlam (Hồi giáo mới), đạo Bà – La
– Môn thu hút khoảng 3/5 dân số Chăm vùng Ninh Thuận, Bình Thuận.
Dân tộc Ê đê hay còn có tên gọi khác là Rađê, Đê, Kpa, Adham, Krung, Ktul, Dlie Ruê, Blô,
Êpan, Mdhur, Bich, cư trú tập trung ở tỉnh Đaklak, phía nam của tỉnh gia lai và miền tây của 2 tỉnh
Khánh Hoà và Phú Yên của Việt Nam. Tại một số quốc gia khác như Campuchia, Thái lan, Hoa kỳ,
Canada và các nước Bắc Âu cũng có một số người Ê đê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.
Ngôn ngữ: người Ê đê thuộc ngôn ngữ mã lai- polinesia, so với các dân tộc ít người khác tại việt
nam, người Ê đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái la tinh khá sớm, có chữ viết từ thập niên

Người Nam đảo cũng tiến công vào vùng vịnh Bắc Bộ, song không thu được kết quả như ở
phía Nam. Họ chiếm cứ được vùng Vân Đồn và vùng đất của tỉnh Quảng Ninh ngày nay (rất có thể
người Nam đảo là chủ nhân của văn hóa Hạ Long), song không chiếm sâu được vào vùng đất sông
Hồng, sông Mã.
Không thể phủ nhận, tộc người Nam đảo là một trong ba nhóm tộc người – ngôn ngữ lớn chủ
T
0
1

yếu ở Đông Nam Á. Tộc người này đóng vai trò quan trọng ở Malaysia, Indonexia, Philippines.
Việc tìm hiểu nguồn gốc xuất phát của những người Nam Đảo ở Việt Nam, không tách rời
công cuộc nghiên cứu nguồn gốc và những đợt di dân của những người Nam Đảo trên thế giới.
Chính vì vậy, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc giải quyết vấn đề nguồn gốc
xuất phát của những người Nam Đảo ở Việt Nam. Những nhà nghiên cứu ủng hộ giả thuyết của


R.Heiner Geldern cho rằng họ từ miền duyên hải Nam Trung Hoa trên đường di cư xuống phía Nam
và dừng chân trên địa bàn miền Nam Đông Dương.
Ý tưởng thứ hai cho rằng họ từ miền duyên hải Nam Trung Hoa trên đường di cư đến các
vùng đảo ở Đông Nam Á, sang Tân Madagasca rồi từ đó mới di cư đến miền Nam Đông Dương…
Những ý tưởng gần gũi với quan điểm của W.G.Solheim II thì cho rằng nguồn gốc xuất phát của
người Nam Đảo ở Việt Nam là từ các vùng hải đảo thuộc châu Úc di cư về phía Bắc…
Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, những người Nam Đảo ở Việt Nam là một bộ phận cư
dân Malayo – Polinesien ở Indonesia, đặc biệt từ các đảo phía Đông Kalimantan (Brunei) di cư
đến… Đây là ý kiến của W.F. Stutterheim được đăng tải trong bài viết Lịch sử những mối tương
quan giữa Đông Dương và Java trong thời cổ, Văn hóa Á Châu, số 10 năm 1959, trang 77-85.
Theo tác giả Nguyễn Tuấn Triết, “cội nguồn lịch sử của những người Mã Lai – Đa đảo ở
Việt Nam là một trong những hệ quả từ quá trình thiên di của lớp người Deutero – Malais vào thời
đồ đá. Trong quá trình thiên di ấy, một bộ phận của lớp người này đã tiếp cận và dừng chân trên
vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Bộ phận này tụ cư thành nhiều nhóm trên khắp địa bàn

và Quỳ Chử (bắt đầu từ năm 1100 TCN), tức là sau hơn 400 năm xâm nhập và phát triển tại Miền
Trung. Chính những điều này giải thích địa bàn sinh tụ của những người Nam Đảo ở Việt Nam.
Đối với nguồn gốc hình thành các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam, những nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Tuấn Triết chỉ ra:
Vào thời đại Đá Mới, trên địa bàn thuộc miền Trung và Nam Trung Bộ của Việt Nam ngày
nay đã có lớp người Deuterco – Malais sinh sống. Lớp người này phân chia thành nhiều nhóm, dừng
chân trên địa bàn riêng, có những đặc thù về địa lý sinh thái. Đời sống của mỗi nhóm như vậy phải
thích nghi và chịu tác động của những yếu tố địa lý – sinh thái – nhân văn đặc thù. Điều này dần dần
làm biến đổi và tạo ra những khác biệt nhất định so với ban đầu trong các yếu tố văn hóa, ngôn
ngữ… Đó là một quá trình lịch sử lâu dài. Trong đó, sự tự thân vận động của mỗi nhóm trong không
gian sinh tồn của mình không thể tránh khỏi những tác động nhất định từ bên ngoài vào do quan hệ
và pha trộn tộc người, do chính những người cùng chủng tộc và ngữ hệ từ nhiều vùng trên thế giới
đến. Con đường phân ly của lớp người Deutero - Malais ở miền Nam Đông Dương đã diễn ra như
vậy để định hình những nhóm người có nét riêng trong văn hóa và hình thành tâm lí tộc người riêng.
Có thể khi bước vào thời đại kim khí, thì những người Malayo- Polynesian ở miền Nam Đông
Dương đã hình thành 5 nhóm người:
- Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Gia Lai – Kontum sinh tụ trên vùng đất có nhiều
dòng sông chảy qua (như Ia Yun, Ia Ly, Ia Pa…vv.) và có nhiều thác nước. Nhóm này định hình
nên một tộc người, tự nhận mình là người Giarai. Trong ngôn ngữ Nam Đảo, từ “giơ-rai” có nghĩa
là “thác nước”.
- Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Đắc Lắc màu mỡ, sinh tụ trên một vùng đất có nhiều
suối và rừng tre. Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là “Orang Ede”. Trong
ngôn ngữ Nam Đảo, từ “orang” nghĩa là “người”, “Ede” có nghĩa là “tre”.
- Một nhóm dừng chân trên vùng thung lũng Đran tương đối bằng phẳng thuộc cao nguyên
lang Bian, gần nơi cư trú của tộc người Cơ ho (thuộc ngữ hệ Môn – Khmer). Nhóm này định hình
nên một tộc người, tự nhận mình là người Cru (sau phiên ấm là Chu – ru). Trong ngôn ngữ Nam
Đảo, từ “Cru” có nghĩa là “chiếm đất mới”.
- Một nhóm dừng chân trên vùng rừng rậm, núi non hiểm trở thuộc rìa đông của nam Trường
Sơn – Tây Nguyên. Nhóm này định hình nên tộc người, tự nhận mình là “Orang Glai”. Trong ngôn
ngữ Nam Đảo, Glai có nghĩa là “rừng rậm”. Tên gọi “Orang Glai”còn ám chỉ sự phân biệt với

+ Truyện cổ dân gian Chăm, Trung Tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận; NXB
Văn Hóa dân tộc Hà Nội 2000.
58 truyện cổ, trong đó sử dụng nghiên cứu 30 truyện
Truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Indonesia:
2.1.1. Văn bản chính:
+Truyện cổ Indonesia, Ngô Văn Doanh- Nguyễn Đức Ninh- Bùi Văn Trọng Cường biên
dịch, NXB Văn hóa Hà Nội – 1988: Chỉ sử dụng 17/39 truyện để khảo sát
+“Truyện cổ Đông Nam Á - Indonesia” do Ngô Văn Doanh biên dịch, Viện Nghiên Cứu
Đông Nam Á, NXB Văn hóa Thông Tin, 1995 : 27 truyện
+Truyện

cổ

Indonesia

được

tập

hợp

từ

website: tổng số truyện khoảng 100
U
T
7

T
7

• Đứa trẻ bị bắt cóc
2.2. Xử lý nguồn tư liệu
Trước khi đi vào khảo sát so sánh một số kiểu truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ
hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia thì việc xác lập một tiêu chí cho quá trình lựa chọn văn bản
là điều cần thiết. Các tư liệu về văn bản truyện của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt
Nam cũng như Indonesia được nêu ra ở trên có sự khác nhau về cách sưu tập và phân chia. Việc
xem xét nguồn tư liệu đi kèm với quá trình lựa chọn những văn bản truyện sẽ được chúng tôi khảo
sát trong chương này.
- Đối với nguồn tư liệu về truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt
Nam:
Nguồn tư liệu mang tính tập trung dưới dạng tổng tập là chủ yếu. Đây là những công trình
lớn. Các tác giả đã có một quá trình khảo sát tư liệu khá công phu cho việc tổng hợp truyện cổ tích
của các tộc người thiểu số ở Việt Nam. Việc xếp các tộc người Nam Đảo trong tổng tập này thuộc
dân tộc thiểu số khẳng định: ở Việt Nam, sự hiện diện của các tộc người này là không nhiều. Chính


vì vậy, việc khảo sát các nguồn truyện cổ tích của họ cũng không phải là việc làm dễ dàng và khó
tránh khỏi những thiếu sót. Với “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi, đây
được xem là một công trình đồ sộ về truyện cổ tích nhưng lại chỉ thiên về những tập hợp, đánh giá
truyện cổ tích của người Việt. Truyện cổ tích của các tộc người thiểu số nói chung và tộc người
Nam Đảo ở Việt Nam nói riêng không được đề cập trong công trình này.
Trong hai tổng tập được khảo sát được cho là nguồn tư liệu lớn nhất về văn học dân gian các
tộc người thiểu số ở Việt Nam đều có nhan đề “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số
Việt Nam” của Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia (2002) và Viện nghiên cứu văn hóa
(2009) đã đề cập đến truyện cổ tích các tộc người Nam đảo ở Việt Nam theo 2 cách khác nhau:
Trong Tổng Tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập 2: Truyện cổ dân
gian), Trung Tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện Văn học, NXB Đà Nẵng, 2002. Các
tác giả này tổng hợp văn học dân gian các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong tập 2: truyện dân
gian với sự phân chia theo tộc người thiểu số sử dụng các ngữ hệ khác nhau, gồm:
- Truyện cổ các dân tộc Môn – Khơ Me



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status