ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THÚY LOAN
VẤN ĐỀ MIÊU TẢ NGOẠI HÌNH CON NGƯỜI
TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THÚY LOAN
VẤN ĐỀ MIÊU TẢ NGOẠI HÌNH CON NGƯỜI
TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60220240
2.1.2.3
2.2
Chương 3
3.1
3.2
Mở đầu
Trang
Lý do chọn đề tài
2
Giới thuyết khái niệm
2
Lịch sử vấn đề
3
Phạm vi tư liệu
7
Đóng góp của luận văn
7
Bố cục của luận văn
9
10
Nội dung
Ngoại hình người phụ nữ trong Kho tàng ca dao
10
người Việt
Những công thức miêu tả ngoại hình người phụ nữ
10
Những công thức miêu tả ngoại hình có tần số xuất hiện lớn
(từ 10 lần trở lên)
11
và văn học viết
Những điểm tương đồng
83
Những điểm khác biệt
85
92
Kết luận
94
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. GS: Giáo sư
2. Nxb: Nhà xuất bản
3. PGS: Phó giáo sư
4. sđd: sách đã dẫn
5. Ths: Thạc sĩ
6. tlđd: tài liệu đã dẫn
7. TS: Tiến sĩ
8. tr: trang
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
biệt những lời ấy bằng một hoặc nhiều biện pháp dƣới đây:
+ In cách dòng.
+ Đánh số thứ tự ở tiếng đầu.
Về ngoại hình con ngƣời, chúng tôi quan niệm đó là hình dáng con ngƣời,
các bộ phận bên ngoài ( đầu, tóc, mắt, mũi, chân tay, da,…) cùng trang phục. Nói
tóm lại, tất cả những gì thuộc về con ngƣời mà mắt thƣờng có thể nhìn thấy đƣợc
thì chúng tôi quan niệm đó là ngoại hình con ngƣời.
3. Lịch sử vấn đề
Năm 1932, khi diễn thuyết về tục ngữ, ca dao tại Hà Nội, tác giả Phạm
Quỳnh đã nói rằng, ở đời có nhiều hạng ngƣời, hạng nào ca dao cũng có những
câu khuyên răn, lời châm biếm, “vì ngƣời đời tâm tính thƣờng hiện ra ngoài mặt,
và thói đời hay trông mặt mà bắt hình dong” [26, tr.50]. Sau đó, ông dẫn ra một
loạt lời ca dao:
+
Đàn ông rộng miệng thì sang
Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà.
+
Ngƣời khôn con mắt đen sì
Ngƣời dại con mắt nửa chì nửa thau.
+
Những ngƣời thắt đáy lƣng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con…
Năm 1943, trong cuốn sách Việt Nam văn học sử yếu, nhà giáo Dƣơng
Quảng Hàm trong Các bài dạy những điều thƣờng thức, tác giả cho rằng ca dao
Cuốn Thi ca bình dân Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh
đƣợc nhà xuất bản Sống Mới in năm 1969 tại Sài Gòn. Khi bàn về nền tảng đạo lí
của mỗi dân tộc, các tác giả viết rằng, quan niệm của ngƣời bình dân tuy không
phải là học thuyết nhƣ Lão Tử, song ngự trị về tƣ tƣởng là có phần vững chắc,
nếu Lão Tử xem trí khôn của con ngƣời là một điều tệ hại của xã hội, thì ngƣời
dân Việt Nam xem trí khôn nhƣ một nhu cầu của lẽ sống. Các soạn giả đã dẫn ra
những lời ca dao, ví dụ:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Ngƣời khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
(Dẫn theo [30, tr.4])
Năm 1973, trong khi viết về thơ ca dân gian, PGS Chu Xuân Diên đã có
nhận xét chính xác khi tác giả viết rằng: “Cũng có những trƣờng hợp việc miêu tả
9
diện mạo, tâm trạng nhân vật, dƣờng nhƣ có màu sắc riêng. Nhƣ lời nói sau đây
của “chàng trai” với “cô gái”:
Vỗ vai áo cụt trắng,
Áo cụt trắng không hử, không ừ,
Hay là áo trắng muốn từ nghĩa ta [13, tr.386].
Theo Chu Xuân Diên, đây là một cô gái áo trắng, hơn nữa lại là một cô gái
áo cụt trắng. Dƣờng nhƣ đặc điểm đó nói lên nét riêng của cô gái. Nhƣng dù sao
đó vẫn là một cô gái nói chung, tuy rằng cô gái mặc áo trắng, ngay cả áo cụt
trắng đi nữa, vì việc miêu tả lối ăn mặc đó không có mục đích nêu lên cá tính của
cô gái [13, tr.386]. Ngoài ra, tác giả Chu Xuân Diên cũng đã viết về lời ca dao
“Mƣời thƣơng”.
Năm 1990, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do GS Lê Chí Quế chủ
biên đƣợc xuất bản. Giáo trình này, giáo sƣ không chỉ viết về văn học dân gian
ngƣời Việt, mà còn viết về cả văn học dân gian các dân tộc thiểu số. GS Lê Chí
hiện, có những bài viết: Tìm hiểu những quan niệm về cái đẹp và nghệ thuật trong
văn học dân gian, luận văn sau đại học (1986), của Lê Thị Tây Phƣơng, Đặc
điểm lối miêu tả và biểu hiện trực tiếp trong ca dao trữ tình ngƣời Việt, luận văn
sau đại học (1997), của Đặng Nguyên Hạnh, Hình ảnh trang phục truyền thống
trong ca dao, khóa luận tốt nghiệp đại học (1999), của Nguyễn Thị Thanh Hồng,
Khảo sát dữ liệu hình ảnh vật dụng trong Kho tàng tục ngữ ngƣời Việt, khóa luận
tốt nghiệp đại học (2004), của Thái Thị Sơn, Hình ảnh vật dụng trong kho tàng
tục ngữ ngƣời Việt, khóa luận tốt nghiệp đại học (2005), của Nguyễn Thị Thanh
Lƣu, Cách miêu tả nhân vật trữ tình là ngƣời phụ nữ trong kho tàng ca dao ngƣời
Việt, khóa luận tốt nghiệp đại học(2009), của Phạm Tuyết Nhung. Theo tác giả
Trần Thị thu Trang, luận văn của Lê Thị Tây Phƣơng đã đề cập đến những quan
niệm về cái đẹp của con ngƣời: đẹp ngoại hình và đẹp tính cách thông qua việc
miêu tả ngoại hình; đã bàn đến quan niệm thẩm mĩ của nền văn học dân gian nói
chung và chƣa đề cập đến những nét riêng của đặc trƣng thể loại [30, tr.5-6].
11
Luận văn của Đặng Nguyên Hạnh đã điểm qua diện mạo con ngƣời dƣới góc độ
ca dao trữ tình, song chƣa bàn về việc miêu tả đƣợc thực hiện dƣới sự chỉ đạo của
tƣ tƣởng nào [27, tr.6]. Khóa luận của Nguyễn Thị Thanh Hồng có nhắc đến quan
niệm thẩm mĩ của ngƣời bình dân xƣa, tuy nhiên chƣa đề cập đến vẻ đẹp diện
mạo cụ thể [30, tr.6]. Khóa luận của Nguyễn Thị Thanh Lƣu chỉ ra rằng cùng là
miền chất liệu hình ảnh vật dụng, nhƣng tục ngữ thiên về các hình ảnh vật dụng
mang tính vật chất thuần túy và đặc trƣng ở giá trị sử dụng thực tiễn, còn ca dao
lại quan tâm hơn đến các hình ảnh vật dụng mang đậm nét văn hóa ngoài giá trị
sử dụng thông thƣờng của chúng [19, tr.130].
Luận văn Ths Đặc điểm lối miêu tả diện mạo con ngƣời trong ca dao ngƣời
Việt của Trần Thị Thu Trang, đƣợc bảo vệ năm 2005 tại Trƣờng Đại học sƣ phạm
Hà Nội, dƣới sự hƣớng dẫn của PGS,TS Phạm Thu Yến, là một gợi mở quan
Là ngƣời đi sau, chúng tôi tiếp thu kinh nghiệm thành công và cả kinh
nghiệm chƣa thành công của ngƣời đi trƣớc, cố gắng đem lại những điểm khác.
Về mặt tƣ liệu, tuy cùng khảo sát trên tổng số 12.487 lời ca dao, song chúng tôi
nhận thấy số lời ca dao miêu tả ngoại hình con ngƣời là 749 lời (chiếm 6,0 %),
trong khi nhà giáo Trần Thị Thu Trang khảo sát trên 238 lời miêu tả diện mạo con
ngƣời (chiếm 1,91%). Về nội dung, chúng tôi cũng phân tích việc mô tả ngoại
hình ngƣời nữ, ngƣời nam và việc mô tả trung tính (giống nhƣ Trần Thị Thu
Trang). Song chúng tôi chỉ dừng lại ở chỗ ngoại hình con ngƣời trong ca dao
đƣợc miêu tả nhƣ thế nào, mà không trả lời câu hỏi ngoại hình con ngƣời trong ca
dao đƣợc miêu tả bằng cách nào, nhƣ tác giả Trần Thị Thu Trang (việc này ngƣời
đi trƣớc đã thực hiện xuất sắc). Về việc so sánh, chúng tôi cố gắng thực hiện công
việc này một cách có hệ thống. Rất khó biết ca dao xuất hiện đầu tiên từ bao giờ,
nhƣng thể lục bát đã có mặt từ cuối thế kỉ XV. Vậy sớm nhất có lẽ ca dao cũng có
mặt khoảng thế kỉ XV [17, tr.21]. Chúng tôi sẽ so sánh việc miêu tả ngoại hình
13
con ngƣời trong ca dao và trong dòng thơ trữ tình của văn học viết từ thế kỉ XV
đến trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ở các nhà thơ trung đại, chúng tôi
khảo sát việc miêu tả ngoại hình con ngƣời ở thơ Nôm Nguyễn Trãi, Lê Thánh
Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hƣơng, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn
Khuyến, Tú Xƣơng. Ở các nhà thơ giao thời, chúng tôi khảo sát thơ Tản Đà, thơ
Á Nam Trần Tuấn Khải. Trong các nhà thơ mới 1932-1945, chúng tôi chỉ tìm
hiểu việc miêu tả ngoại hình con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính.
Sau khi khảo sát vấn đề đã nêu trong thơ của từng tác giả nêu trên ở dòng
văn học viết, chúng tôi sẽ tổng hợp và so sánh với việc miêu tả ngoại hình con
ngƣời trong ca dao. Nhà giáo Trần Thị Thu Trang so sánh lối miêu tả diện mạo
con ngƣời trong ca dao ngƣời Việt với lối miêu tả diện mạo con ngƣời trong dân
ca Thái, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, trong thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu,
xuất bản Văn hóa - Thông tin tái bản năm 2001) thì có tới 749 lời ca nói về ngoại
hình con ngƣời. Trong đó, có 523 lời miêu tả ngoại hình ngƣời phụ nữ chiếm
69,8%. Số lƣợt miêu tả ngoại hình ngƣời phụ nữ trong 523 lời là 666 lần.
Trong phần khảo sát chúng tôi tìm các lời ca để xếp theo chi tiết ngoại hình
theo thứ tự trong bảng chữ cái. Miêu tả vẻ đẹp bên ngoài của ngƣời phụ nữ có sự
xuất hiện đậm đặc của một số hình ảnh quen thuộc trên khuôn mặt nhƣ răng, mái
tóc, má, mắt,…trên phƣơng diện tổng thể nhƣ: ngƣời, bóng dáng,…và có một số
chi tiết khác xuất hiện thƣa thớt nhƣ: cổ, lƣng.
Điều thú vị khiến chúng tôi chú ý là những chi tiết ngoại hình nhiều khi
đƣợc trở thành những công thức có sẵn, nói nhƣ một nhà nghiên cứu, nó giống
nhƣ “ những mảng đúc sẵn qua hàng ngàn cuộc hát” [17, tr.86], để ngƣời hát có
thể lắp thêm tình ý nào đó mà tạo ra những lời hát mới. Nhƣ chúng ta đã biết, môi
trƣờng để ca dao sinh thành là môi trƣờng sinh hoạt lao động, hội hè đình đám,
những cuộc đối đáp giao duyên. Vì vậy, những công thức có sẵn kia có ý nghĩa
rất quan trọng trong quá trình ứng khẩu, bộc lộ quan niệm về cái đẹp, thích hợp
15
với mọi hoàn cảnh, đối tƣợng. Đối với ca dao, những công thức này có vai trò
quan trọng trong việc thể hiện tƣ tƣởng và quan điểm thẩm mĩ, thể hiện lối nghĩ,
lối nói và lối sống của nhân dân lao động. Sự xuất hiện của những chi tiết mang
tính công thức ấy đã tạo thành lối mòn trong ca dao. Ngƣời sáng tác luôn dựa vào
những “ dóng thớ” (Ngô Giáp Dậu) có sẵn để sáng tạo. Quan trọng hơn, việc sử
dụng các công thức miêu tả ngoại hình con ngƣời góp phần tạo ra cho đề tài này
một phong cách nghệ thuật độc đáo, khu biệt với thơ ca của văn học viết. Với ý
nghĩa đó, ca dao tình yêu đã sử dụng rất hiệu quả hệ thống công thức miêu tả
ngoại hình. Ở đó, tần số sử dụng rất khác nhau, có chi tiết đƣợc sử dụng nhiều
nhất tới 134 lƣợt (má), có chi tiết chỉ đƣợc lặp 5 lần (cổ). Xuất phát từ sự khác
nhau này, chúng tôi chia thành từng nhóm công thức một để tìm hiểu cụ thể hơn
Bốn thƣơng răng lánh hạt huyền kém thua…( M 595).
Chi tiết đƣợc sử dụng nhiều thứ hai khi miêu tả ngoại hình là người - hình
thể con ngƣời nói chung xuất hiện tới 116 lƣợt trong tổng số 666 lời ca chiếm
17,4 %, trong đó:
- Ngƣời đẹp, tƣơi xuất hiện 20 lƣợt:
Em đẹp nhƣ thể ông sao
Để anh đi lại ra vào mỏi chân ( E 56).
- Ngƣời giòn xuất hiện 13 lần:
Hoa thơm càng héo càng thơm
Em giòn, rách áo đói cơm càng giòn ( H 150).
- Ngƣời ngọc có mặt 6 lần:
Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết rằng quân tử có dùng ta chăng ?
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn nào? ( D 22).
- Ngƣời thục nữ xuất hiện 11 lƣợt:
Sáng qua thơ thẩn vƣờn đào
17
Thấy ngƣời thục nữ ra vào hái hoa… ( S 34).
- Ngƣời xinh xuất hiện 22 lƣợt:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh (T 2028).
Hình ảnh xuất hiện chiếm tần số cao thứ ba là tóc. Có tới 74 lần trong số 666
lƣợt các chi tiết ngoại hình, chiếm 11,1%. Cụ thể hình ảnh tóc xuất hiện trong: tóc
bạc, tóc cánh tiên, tóc dài, tóc dày, tóc đến lƣng, tóc đuôi gà, tóc mai, tóc mái tai,
tóc mây, tóc ngang vai, tóc quăn, tóc rối, tóc sƣơng, tóc tơ, tóc tốt, tóc văn vắn,
tóc xù.
trắng ởn, răng lổ đổ, răng hà, răng hô, răng long.
Nước da cũng đƣợc sử dụng đến 51 lƣợt trong 666 lƣợt chi tiết chiếm 7,7%. Làn
da đƣợc miêu tả đa dạng: da trắng, đen, đỏ hồng hào, xanh mai mái, da mồi, rỗ,
xù xì, có khi là da hắc lào,…
- Da đen chỉ xuất hiện 19 lần, trong khi da trắng là 23 lần:
Ai trắng nhƣ bông lòng tôi không chuộng
Ngƣời đó đen giòn, làm ruộng tôi thƣơng…( A 151).
- Da đỏ hồng hào đƣợc nhắc tới hai lần:
…Gái thời da đỏ hồng hào
Mắt đen lay láy ngƣời nào chẳng yêu ( A 29).
Dáng người, bóng dáng đƣợc nói tới 38 lần trên 666 lƣợt miêu tả ngoại
hình ngƣời phụ nữ chiếm 5,7%. Con ngƣời đƣợc nhận xét qua dáng cao, thấp, bé
nhỏ, yểu điệu, óng ả, nỏ nang, gầy, béo, còng, tồng ngồng, bóng bẩy, găm gắm.
Trong số đó, quan niệm của cha ông ta hƣớng tới con ngƣời nhỏ, bé nhỏ:
Sông sâu cá lƣợn mất tăm
Dẫu em bé nhỏ trăm năm cũng chờ… ( S 183).
Đôi khi dân gian lại hóm hỉnh, hài hƣớc trong cái nhìn, cách đo chiều cao
con ngƣời:
Chồng thấp mà lấy vợ cao
19
Đêm nằm thì phải lấy sào mà đo
Chồng cao vợ thấp không lo
Đêm nằm càng đƣợc cuộn vo vào lòng ( C 1060).
Họ đúc rút kinh nghiệm sống (không phải lúc nào cũng đúng) với những
ngƣời to béo là:
…Những ngƣời béo trục béo tròn
Ăn vụng nhƣ chớp đánh con cả ngày ( N 896).
cƣời hoa, có khi nhoẻn miệng cƣời, cƣời tình, cƣời hớn hở:
+ …Em gặp anh đây, chúm chím miệng cƣời
Cơn sầu giải hết mặt tƣơi hơn hƣờng ( T 1821).
+ Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cƣời hớn hở rằng anh giận gì?( C 1038).
+ Cƣời nụ hay là cƣời tình
Cƣời trăng cƣời gió hay mình cƣời ta ?
Cƣời nụ tôi lại cƣời hoa
Cƣời trăng cƣời gió hay ta cƣời mình?( C 1993).
-
Miệng duyên đƣợc nói tới 3 lần:
Cổ cao ba ngấn cổ cao
Răng đen hột đỗ, miệng chào có duyên ( C 1839).
Bên cạnh hình ảnh miệng là chi tiết mặt, mũi có khi là chỉ mặt mũi nói
chung nói chung. Chi tiết này xuất hiện 24 lần chiếm 3,6%. Cụ thể gƣơng mặt
đẹp phải là mặt hoa, mặt ngọc, mặt tƣơi:
+ Tuổi vừa mƣời chín đôi mƣơi
Mặt hoa mày liễu tựa ngƣời thần tiên…( L325).
+ …Cô nào mặt ngọc má hồng
Tôi đây muốn kết làm chồng nên chăng ?( S 43).
Nhƣng nhân dân ta cũng dành những lời chê cho gƣơng mặt mỏng, mặt trẽn,
mặt mo:
+ …Hỏi em trinh tiết lòng son
Cớ sao mặt mỏng, má mòn rứa em?( H 93).
21
Hình ảnh chân tay cũng chiếm một tỉ lệ tƣơng đối 3,1% với 21 lƣợt xuất
hiện. Chi tiết này thƣờng đi với chân bùn tay lấm, chân đi thất thểu, chân què,
chân cù lèo, kiễng chân, tay đeo nhẫn bạc, tay bạc tay vàng, gót đỏ, gót ngọc.s
- Chi tiết chân bùn tay lấm chỉ ngƣời phụ nữ cần cù, chăm chỉ mà vẫn toát
lên vẻ đáng yêu:
Ai đem em tới giữa đồng
Chân bùn tay lấm mà lòng anh say ( A 15).
- Những ngƣời gót đỏ vẫn là hình ảnh đáng đƣợc yêu chiều:
Những ngƣời gót đỏ nhƣ son
Xƣa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn ( N 887).
- Hầu hết các lời ca miêu tả hình ảnh chân, tay thiên về giải trí, gây cƣời:
+ Ba đồng một bát nƣớc chè
Tuy rằng em đẹp nhƣng què một chân ( B 22).
+ Chồng què lấy vợ kiễng chân
Mƣợn đƣợc thằng ở đứt gân lại què ( C 1056).
+ Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày giần
Răng đen hạt nhót, chân đi cù lèo…( C 1715).
Chi tiết cổ tay có 14 lần xuất hiện chiếm 2,1%. Chủ yếu vẻ đẹp cổ tay đƣợc
thể hiện ở hình ảnh trắng, tròn (13 lần) và cổ tay lƣợn vòng:
+ Cổ tay em trắng nhƣ ngà
Con mắt em liếc nhƣ là dao cau…( C 1752).
+ Đôi dải yếm em, em bỏ thong dong
Cổ tay lƣợn vòng nhƣ nõn chuối non…( Đ 709).
Hình ảnh môi xuất hiện 14 lƣợt chiếm 2,1%. Môi đẹp là môi màu thắm đỏ,
môi son:
+ Trầu say vƣơng vất vân mòng
Nhìn môi em thắm đỏ, khiến trong lòng anh say ( T 1610).
24
- Cổ đƣợc nhắc tới 5 lần chiếm 0,6%. Đó là cổ cao, cổ xây, cổ bong gân và
cổ ngẳng.
Cổ cao là cổ đẹp:
Cổ cao ba ngấn cổ cao
Răng đen hột đỗ miệng chào có duyên (C 1839).
Cổ bong gân đƣợc nhìn hài hƣớc:
Con gái làng nào không đẹp bằng con gái làng này
Cái đít nom gày, cái cổ bong gân… (C 1543).
Qua khảo sát, thống kê chúng tôi nhận thấy rằng: Miêu tả ngoại hình ngƣời
phụ nữ là một mảng đề tài phong phú, thú vị, hấp dẫn trong kho tàng ca dao.
Đằng sau ngoại hình con ngƣời là cảm quan thẩm mĩ của ngƣời Việt. Hành trình
đi tìm vẻ đẹp đích thực của ngƣời phụ nữ vẫn luôn là “miền đất hứa” cho các
công trình nghiên cứu không phải chỉ của văn học mà còn là của nhiều ngành
nghệ thuật khác. Tìm hiểu đề tài giúp chúng ta cảm nhận thêm về chiều sâu quan
niệm thẩm mĩ của cha ông, thêm quí, thêm yêu “ hòn ngọc” của văn học dân tộc.
1.2. Cách miêu tả ngoại hình người phụ nữ
Các tác giả dân gian đã phát hiện, khám phá ngƣời phụ nữ từ nhiều góc độ,
nhiều chiều khác nhau. Có khi là một nhận xét chung chung, có khi lại thiên về
miêu tả cụ thể, chi tiết. Có ngƣời cho rằng: Chỉ vì một mái tóc đẹp, một đôi mắt
có chiều sâu, một cái má lúm, một nụ cƣời duyên,…mà đã phải cƣới cả một cô
gái ! Điều đó nói lên rằng: Mỗi nét ngoại hình con ngƣời đều có những vẻ đẹp,
sức hấp dẫn riêng. Chúng tôi không tìm hiểu các thủ pháp nghệ thuật khi miêu tả
ngoại hình con ngƣời mà đi vào việc cảm nhận, nhận xét về cách miêu tả theo
phƣơng diện: Bộ phận và tổng thể ngoại hình con ngƣời.
1.2.1. Miêu tả cụ thể, bộ phận
Các chi tiết ngoại hình đƣợc ngƣời viết xếp theo bảng chữ cái tiếng Việt.
26
+ Hồng nhan nhƣ bát nƣớc chè
Đẹp thì có đẹp nhƣng què một chân (H 288).
1.2.1.2. Cổ
Ngƣời phụ nữ trở nên đài các hơn khi sở hữu một cổ kiêu ba ngấn:
+ Cổ cao ba ngấn cổ cao
Răng đen hạt đỗ, miệng chào có duyên (C 1839).
+ …Cổ cao ngồn ngộn
Má đỏ hây hây
Ngƣời đấy tôi đây
Nên chăng ngƣời nhẽ ( T 1167).
Cổ đẹp là cổ cao ba ngấn đi đôi với lông mày nét ngang. Còn cổ xấu là cổ
ngẳng, cổ gầy, cổ bong gân. Tục ngữ có câu: “Cổ ngẳng nhƣ cổ cò”. Ngƣời phụ
nữ không mấy hấp dẫn khi thiếu sức sống, gầy gò, gân guốc: “ Cái đít nom gầy,
cái cổ bong gân”. Điều này ngƣợc với tục ngữ: “Đàn ông lông chân, đàn bà gân
cổ”. Miêu tả ngoại hình ngƣời phụ nữ, ca dao ít nói về hình ảnh này.
1.2.1.3. Cổ tay
Ca dao giao duyên phần nhiều tế nhị. Thế nhƣng, chúng ta vẫn không khỏi
giật mình trƣớc sự táo bạo, mạnh mẽ của một chàng trai: “ Gặp đây anh nắm cổ
tay. Anh hỏi câu này có lấy anh không?” hay “Anh thuận nhân tình anh nắm cổ
tay. Nắm rồi anh hỏi cổ tay. Ai nặn nên trắng, ai xây nên tròn ?”. Cổ tay ngƣời
con gái đẹp là cổ tay trắng, tròn:
+Cổ tay vừa trắng vừa tròn
Cầm vào mát rƣợi nhƣ hòn tuyết đông (C 1754).
+ Cổ tay em vừa trắng vừa tròn
Mặt mũi vuông vắn chồng con thế nào ? (C 1755).