ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
ĐIỂN CỐ, ĐIỂN TÍ CH TRONG KHO TÀNG
CA DAO NGƢỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN H ỌC
Hà Nội – 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
ĐIỂN CỐ, ĐIỂN TÍ CH TRONG KHO TÀNG
CA DAO NGƢỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 36.
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Xn Kính
Nxb
:
nhà xuất bản
PGS
:
phó giáo sƣ
STT
:
số thƣ́ tƣ̣
TS
:
tiến sĩ
TSKH
:
tiến sĩ khoa học
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4
3. Tình hì nh nghiên cƣ́u
4. Phạm vi đề tài
5
6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
6. Cấu trúc luận văn
Chƣơng 1 : Giới thuyết khái niệm và phạm vi tƣ liệu
1.1 Giới thuyết khái niệm về điển cớ, điển tích
1.2 Giới thuyết về tƣ liệu nghiên cứu
Chƣơng 2 : Mô tả và phân loại điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao
ngƣời Việt
2.1. Kết quả khảo sát và phân loại nhƣ̃ng bài ca dao sƣ̉ dụng điển cớ , điển tích
trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
6
8
8
21
26
26
Ca dao là một thể loại tiêu biểu trong các sáng tác dân gian, sự tiêu biểu
thể hiện ở cả phƣơng tiện nội dung và hình thức nghệ tḥt. Về nợi dung, tuy
chƣa có sức khái qt tổng hợp nhƣ mợt bợ bách khoa tồn thƣ về cuộc sống
nhƣng ca dao chứa đựng khá đầy đủ những tri thức về tự nhiên, xã hội, về đời
sớng tình cảm, về nhân tình thế thái, về triết lý c̣c đời… Về hình thức nghệ
tḥt, ca dao tập hợp trong đó những phƣơng thức, biện pháp, phƣơng tiện
nghệ thuật truyền thống độc đáo, đặc thù. Bởi vậy, tiến hành nghiên cứu ca
dao, chúng ta sẽ tiếp cận đƣợc những vấn đề khoa học có giá trị và mang
nhiều ý nghĩa.
Là viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian, bên cạnh những yếu
tố đặc sắc về nội dung, ca dao Việt Nam còn sử dụng nghệ thuật phong phú và
độc đáo. Trong các yếu tố nghệ thuật ấy, không thể không kể đến nghệ thuật
dùng điển. “ Điển” là mợt khái niệm rợng bao gồm điển tích, điển cố đƣợc
biểu hiện trong tác phẩm văn học dƣới hình thức mợt chữ, mợt ngữ hay mợt
câu, đƣợc tác giả rút gọn từ những chuyện xƣa, tích cũ, câu thơ, câu văn trong
kinh, sách đời trƣớc. Nhờ sự “giải mã” ngƣời đọc sẽ thấy đƣợc ý nghĩa biểu
trƣng của điển thể hiện trong tác phẩm cũng nhƣ thấy đƣợc ngụ ý của tác giả
chuyển tải thông qua điển. Điển đƣợc coi là biện pháp tu từ đƣợc vận dụng
vào sáng tác văn chƣơng. Điển giữ vị trí, vai trị quan trọng trong việc giúp
ngƣời sáng tác xây dựng những hình tƣợng nghệ tḥt mang tính ƣớc lệ,
tƣợng trƣng và sinh động, sử dụng ngôn từ cô đọng hàm súc, ý tại ngôn ngoại,
kết cấu đảm bảo ngắn ngọn, súc tích, hợp lý. Chúng tơi lựa chọn điển cớ, điển
tích gắn với văn hoá, văn học Trung Hoa , Việt Nam làm đối tƣợng khảo sát ,
phân tí ch . Kết quả này sẽ có giá trị cho việc nghiên cứu không chỉ Kho tàng
8
ca dao ngƣời Việt mà sẽ cịn có giá trị trong việc nghiên cứu thơ ca, văn học
nói chung, trong việc nghiên cứu văn hoá và giao lƣu văn hoá Trung-Việt, tìm
đới với đợc giả, đặc biệt là đợc giả bình dân khi ḿn tìm hiểu, giải thích nội
dung, ý nghĩa của tác phẩm ca dao ấy.
Đặc biệt hơn nữa trong thời đại ngày nay, điển cố, điển tích khơng cịn là
tài sản riêng của văn học mà đã đƣợc dẫn ra trong các tài liệu chính trị-xã hợi,
triết học, kinh tế… Do tính hàm súc, cơ đọng ở mức đợ rất cao, khả năng kích
thích liên tƣởng mạnh mẽ nên điển không chỉ đƣợc các nhà văn nhà thơ, nhà
chính luận mà cả các nhà kinh tế sử dụng trong các tác phẩm của mình. Ngơn
ngữ hàng ngày cũng khơng xa lạ với điển cớ, điển tích.
Chính vì những lẽ đó, chúng tơi đã chọn Điển cố, điển tích trong Kho
tàng ca dao ngƣời Việt làm đề tài nghiên cứu để khám phá vẻ đẹp của những
bài ca dao sử dụng điển cớ, điển tích đầy hàm súc, lời ít, ý nhiều. Cơng việc ấy
hứa hẹn nhiều điều lí thú và bổ ích.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Tập hợp, dẫn dụ tƣơng đối đầy đủ những cách hiểu về khái niệm điển
cố, điển tích, đi đến mợt khái niệm dễ hiểu và cụ thể nhất
- Mô tả và phân loại điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt,
tập hợp những bài ca dao có sử dụng điển cớ, điển tích, đƣa ra mợt cái nhìn
định lƣợng và nhận xét bƣớc đầu.
- Trong phạm vi tài liệu có thể tiếp cận đƣợc, chúng tơi tiến hành phân
tích nợi dung của ca dao sử dụng điển cớ, điển tích, phân loại nó và đƣa ra
những so sánh, nhận xét ban đầu.
- Nêu ra đƣợc những tác dụng và hạn chế cơ bản của việc sử dụng điển
cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
- Thiết lập từ điển điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
làm cơng cụ tra cứu. Từ điển này sẽ có giá trị cho việc nghiên cứu không chỉ
10
Kho tàng ca dao ngƣời Việt mà sẽ cịn có giá trị trong việc nghiên cứu thơ ca,
Đặng Tuyên (1999) với Ca dao nửa Việt nửa Hán trong Kho tàng ca dao
ngƣời Việt, Trần Văn Nam (2003), Điển tích trong ca dao Nam Bộ: tiếp nhận
11
và cách tân, Vũ Tớ Hảo (1986), Tìm hiểu một số trƣờng hợp dùng chữ Hán và
điển tích trong ca dao dân ca, Nguyễ n Xuân Kí nh (2007) với bài viết ảnh
hƣởng của văn học chƣ̃ Hán Trung Quốc với thơ ca dân gian ngƣời Việt … đã
bƣớc đầu tì m hiểu điển cố , điển tí ch trong ca dao nhƣng chƣa thấy có mợt tác
giả nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu hoặc trình bày mợt cách có hệ thớng, cụ
thể, chi tiết trong mợt cơng trình có bề dày.
4. Phạm vi đề tài
Chúng tơi xem xét hơn một nghì n lời ca dao về điển cố điển tích trong
ćn Kho tàng ca dao ngƣời Việt do tác giả Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật chủ biên. Đây là tài liệu chính để tiến hành phân tích, khảo sát. Tƣ liệu
ấy đã đƣợc tập hợp từ tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đƣợc biên soạn từ cuối
thế kỷ XVIII đến năm 1975. Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ góp phần cùng
với các cơng trình nghiên cứu khác khắc hoạ rõ nét hơn về một nét nghệ thuật
đặc sắc của ca dao trong folklore Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi phối hợp sử dụng nhiều
phƣơng pháp: phƣơng pháp so sánh, đối chiếu văn bản, phƣơng pháp phân
tích, miêu tả, thao tác thớng kê phân loại, kết hợp phân tích tổng hợp với phân
tích kỹ, hiểu sâu từng tác phẩm ca dao cụ thể…. những thao tác ấy giúp cho
những nhận xét, kết luận trong bài có cơ sở khoa học và tính thuyết phục. Đới
với việc nghiên cứu văn học dân gian thì phƣơng pháp thống kê nếu đƣợc sử
dụng tốt, sẽ đem lại hiệu quả khả quan. Mặc dù biết đƣợc những khả năng to
lớn của việc sử dụng các phƣơng pháp phân tích chính xác, nhƣng ta vẫn thấy
rõ những giới hạn của chúng nhƣ Prop đã từng nhận xét những phƣơng pháp
hoạt động và thấu hiểu đƣợc nhiều lẽ mang ý nghĩa văn chƣơng và triết lý” [7,
tr.21].
- Lê Huy Tiêu không tách bạch điển cớ ra mà gọi đó là thành ngữ điển cớ
khi coi đó là loại thành ngữ có cớt trụn thƣờng có x́t xứ từ trụn lịch sử,
cổ tích, ngụ ngơn hay văn thơ của các tác giả nổi tiếng. Ơng cho rằng vì vậy
đọc điển cớ trở nên lí thú và hấp dẫn. Lời tựa nhà xuất bản trong cuốn Từ
điển thành ngữ điển cố Trung Quốc của ông là xác đáng khi nhận xét: “Khi
đọc một văn bản Hán văn, ngƣời ta thƣờng gặp khơng ít thành ngữ, thành ngữ
vớn đã súc tích mà thành ngữ điển cớ càng súc tích hơn và đƣợc viết bằng cổ
văn rất khó hiểu” [44, tr.5]. Định nghĩa của Lê Huy Tiêu coi điển cớ là thành
ngữ có lẽ do hầu hết các đơn vị điển cố Trung Quốc của ông sƣu tập và tƣờng
14
giải đều có hình thức của mợt đơn vị thành ngữ. Ví dụ: “Khơ mợc phùng
xn” (Cây khơ gặp mùa xn), “Bạch bích vi hà” (Ngọc trắng có tì vết). Qủa
thực những điển cố này không khác những thành ngữ gớc Hán khác về mặt
hình thức : “Dƣơng chất hổ bì” (Mình dê da cọp), “Thuỷ trích thạch xun”
(Nƣớc chảy đá mòn)
-Trác Hiên Triệu Hữu Lập viết : Mấy lời của ngƣời hiệu đính in trong
sách Từ điển văn liệu của Long Điền Nguyễn Văn Minh có đề cập đến định
nghĩa điển cố : “Ngƣời ta làm văn tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải
dùng chữ, dùng điển ở trong Tứ Thƣ, Ngũ Kinh, Chƣ sử, các chuyện để phụ
diễn ra thành văn thì lời văn mới hay mới đẹp, lời nói châu ngọc hàng hàng
gấm thêu” [27, tr.7]. Khi làm sách này, tác giả và ngƣời phụ giúp ấn lốt đều
nhận thấy mợt tình trạng Hán học bị suy sút khi Quốc ngữ phát triển, song
vốn học của cha ơng cần đƣợc giữ gìn và phát huy nên cần có những sách kê
biên khảo cứu nhƣ từ điển, chun ḷn về điển cớ, điển tích. Trong cách hiểu
về văn liệu ở đây có hai yếu tớ là “chữ” và “điển” tức là điển cớ và điển tích.
lƣợng âm tiết nên thƣờng đƣợc khắc phục bằng cách sử dụng điển cớ. Ví dụ
trong phú đời Hán sớ lƣợng điển cớ thƣờng có mợt tỉ lệ rất cao. Do xu hƣớng
chuộng cổ bắt chƣớc ngƣời xƣa vốn là truyền thống của văn chƣơng xƣa kia
nên điển cố ngày càng đƣợc vận dụng rộng rãi đến mức không thuộc điển cố
ngƣời đọc nhiều khi không hiểu đƣợc ý nghĩa của câu thơ văn cổ. Nguồn khai
thác điển cố chủ yếu là các sự tích thời Xuân Thu Chiến Quốc đƣợc ghi chép
trong các trƣớc tác Tiên Tần và văn thơ đời Đƣờng, Tớng, ngồi ra cịn có thể
kể đến Kinh sử hay thƣ tịch nổi tiếng các đời khác.
Khi các từ ngữ này trở thành điển cố và đƣợc đƣa vào sáng tác với cấp độ
ý nghĩa thứ hai, tức là cấp độ biểu trƣng để thay thế cho mợt sự tích, mợt câu
nói, mợt tứ thơ thì nó đƣợc gọt giũa thêm để trở nên hàm súc hơn, ý tại ngôn
ngoại, tức là cố gắng chuyển tải đƣợc một nội dung lớn hơn nhiều so với sức
hàm chứa của bản thân từ ngữ. Điển cớ thì ngƣợc lại, bao giờ nó cũng bao hàm
16
hai cấp đợ nghĩa: Tính lịch sử cụ thể và tính biểu trƣng hay giá trị phong cách
học.
- Đinh Gia Khánh cũng phần nào định nghĩa điển cố khi ông giải thích
cách thức lựa chọn các đơn vị mục từ trong ćn Điển cố văn học x́t bản
năm 1977. Ơng cho biết các điển cố trong sách là thông dụng để xây dựng
hình tƣợng trong văn học cổ, chúng bao gồm các sự tích nhƣ “gác vàng”,
“Chƣơng Đài”…, những nhân vật nhƣ Di Tề, Tô Tần…, những thành ngữ
nhƣ “Quạt nồng ấp lạnh”, “Sửa dép vƣờn dƣa”… Bên cạnh đó cịn mợt sớ từ
ngữ Hán học nhƣ “Ngũ giới”, “lục cục” , “hoa đàm”…vv [19, tr.8]
Từ điển này thu thập các đơn vị điển cố Hán học sử dụng trong văn thơ
Nôm, một số dùng trong văn học viết bằng chữ Hán thời xƣa, cũng nhƣ trong
văn học dân gian. Tuy chƣa có định nghĩa cơ đọng nhƣng qua giải thích cũng
thấy rõ quan niệm về điển cớ là gồm các điển tích (sự tích), danh nhân, các
- Dƣơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, chƣơng viết về
điển cố đã định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu
có ám chỉ một việc cũ, một tích xƣa khiến cho ngƣời đọc sách phải nhớ đến
việc ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của câu văn. Dùng điển chữ nho gọi là
dụng điển hoặc sử sự, nghĩa đen là khiến việc, ý nói sai khiến việc đời xƣa
cho nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình” [57]. Ơng cịn nói các văn sĩ
của ta và của Trung Quốc thƣờng mƣợn một số sự tích xƣa hoặc một câu văn,
câu thơ cổ diễn tả ý tình. Các điển cố có thể ám chỉ đến các việc thực đƣợc
chép từ sử, truyện, hoặc là những chuyện hoang đƣờng, đƣợc chép từ truyện
cổ tích, ngụ ngôn, có khi là một vài chữ từ câu văn, câu thơ cổ
1.1.2 Định nghĩa điển tích
- Từ điển tiếng Việt do Hồng Phê chủ biên coi điển cố là sự việc câu
chữ trong sách đời trƣớc, đƣợc dẫn lại trong thơ văn và coi điển tích là câu
chuyện trong sách đời trƣớc đƣợc dẫn lại cô đúc trong tác phẩm [31, tr.138].
Định nghĩa này phản ánh chính xác bản chất của điển cớ và điển tích. Điển cớ
18
bao gồm các sự kiện vấn đề, từ ngữ, câu chữ từng đƣợc ghi trong các thể loại
văn học thời xƣa đƣợc dẫn nguyên hay thu gọn lại. Tích chính là chuyện, là
sự tích từng đƣợc kể trong sách xƣa đƣợc tóm tắt thật ngắn gọn, trong mợt vài
từ. Tuy nhiên mới liên hệ giữa điển cớ và điển tích chƣa đƣợc làm rõ.
- Mợng Bình Sơn khơng phân biệt điển cớ và điển tích mà gọi gợp
chung hai khái niệm này là điển tích. Ơng viết : “Điển tích là những câu nói
ngắn hoặc những câu chuyện trong sách đời trƣớc chứa đựng một nội dung xã
hội và văn học sâu sắc đƣợc lƣu truyền qua sử sách và đƣợc các học giả của
mọi thời kỳ thừa nhận giá trị điển tích của nó” [38, tr.7]. Ơng cho rằng do trải
qua nhiều giai đoạn phát triển, cách tân mà văn học đã dần dần loại bỏ nhiều
điển tích ( theo cách hiểu của Mợng Bình Sơn). Ơng lƣu ý bạn đọc rằng ngày
dệt vải rất siêng năng. Trời đem gả cho Khiên Ngƣu (Chàng Ngƣu) làm nghề
chăn trâu. Hai vợ chồng quá âu yếm nhau không giữ đúng phép trời. Trời phạt
đem đày mỗi ngƣời ở một bên sông Ngân Hà. Mỗi năm, Trời chỉ cho phép hai
vợ chồng qua sông gặp nhau một lần vào đêm mồng bảy tháng bảy âm lịch
(thất tịch) đi qua cái cầu của chim Ô Thƣớc (Chim quạ và chim khách) bắc
(cầu Ô). Vợ chồng gặp nhau than khóc về cảnh li biệt, nƣớc mắt chan chứa rơi
xuống trần gian thành mƣa dầm tầm tã tục gọi là “mƣa ngâu tháng bảy
Thực ra khái niệm điển cố gồm hai vế “điển” và “cớ”. “Điển” là
những gì mà trong định nghĩa điển cớ đã nêu, cịn “cớ” chính là nợi dung của
điển tích. Điển cớ nào cũng có x́t xứ, nguồn gớc hoặc trong sách xƣa thuộc
văn chƣơng, kinh bổn, hoặc các sự kiện từng diễn ra trong lịch sử.
1.1.4 Nguồn gốc của việc sử dụng điển cố, điển tích
Sau khi khơng thắng nổi nƣớc Âu Lạc trong cuộc tấn công năm 210
TCN (trƣớc công nguyên), Triệu Đà rắp tâm xâm lƣợc một lần nữa. Năm 207
TCN, y bất ngờ đem binh lính tập kích An Dƣơng Vƣơng và chiếm Âu Lạc
rồi sáp nhập vào quận Nam Hải của mình, bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc, một thời
kỳ lịch sử nƣớc ta bị các thế lực phong kiến Trung Quốc đô hộ. Cũng từ thời
20
điểm đó, Nho giáo đƣợc truyền bá vào nƣớc ta kéo theo những kênh giao lƣu,
sự tiếp xúc về văn hố, văn học giữa Vịêt Nam và Trung Q́c. Theo hầu hết
các nhà nghiên cứu, có các lí do chủ yếu sau khiến Nho giáo có thể đƣợc tiếp
nhận ở Vịêt Nam:
- Việc truyền bá này mang tính chất lợi dụng, đồng thời bợc lợ tính áp đặt
từ phía chính quyền đô hộ của phong kiến Trung Quốc:
Vào cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị
và "Hán hóa" vùng đất nƣớc cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân,
văn hóa Hán bắt đầu đƣợc truyền bá vào Việt Nam, với tên tuổi hai viên quan
các nhà thơ nổi tiếng nhƣ Đỡ Thẩm Ngơn, Thẩm Thun Kì, Lƣu Vũ Tích…
trú ngụ tạm thời ở nƣớc ta. Đến thời Nam Tống, quân Ngun xâm nhập
Trung Q́c, nhiều danh sĩ Trung Q́c có khí tiết đã lánh qua nƣớc ta để
mƣu tính việc khơi phục. Thời nhà Thanh có phong trào những ngƣời Minh
hƣơng chống đối sự cai trị của ngƣời Mãn đã chạy sang nƣớc ta. Dù ở trên đất
Việt lâu hay chóng, họ là lực lƣợng quan trọng hàng đầu góp phần giới thiệu
văn hố Trung Q́c cho ngƣời Việt.
Khơng chỉ có ngƣời Trung Q́c đƣa văn học sang Việt Nam mà chính
ngƣời Việt cũng chủ đợng theo cách nào đó tiếp nhận văn học Trung Quốc.
Đọc những tác phẩm văn xuôi chữ Hán, những truyện Nôm bác học loại tài tử
giai nhân ta dễ thấy dấu vết ảnh hƣởng của tác phẩm các thể loại văn học
Trung Quốc, đọc ca dao ta thấy sử dụng rất nhiều điển cố điển tích Trung
Q́c…Theo nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu : Sách chữ Hán sang Việt Nam
“theo phỏng đốn lâu nay có ba con đƣờng” : “do quan lại Trung Quốc đem
sang, do lái buôn bên kia biên giới đƣa tới và do các thành viên trong đoàn sứ
giả mang về” [41]. Theo Trần Nho Thìn, về lí thuyết, sở dĩ có hiện tƣợng tiếp
nhận ảnh hƣởng là vì dân tợc tiếp nhận có nhu cầu nợi tại mà nền văn hố có
ảnh hƣởng đáp ứng đƣợc nhu cầu đó. Giao lƣu ảnh hƣởng văn học là mợt hiện
tƣợng văn hố, do đó tính chất lựa chọn mợt cách tự ngụn ảnh hƣởng là
22
hiển nhiên. Chúng ta đều biết rõ là sau khi giành đƣợc đợc lập, chính các triều
đại phong kiến Việt Nam đã chủ đợng tìm đến với Nho giáo [41].
- Bản thân Nho giáo cũng nhƣ các hệ tƣ tƣởng khác, luôn luôn vận động
ảnh hƣởng tới các xứ sở lân cận. Ngƣời ta không lấy làm lạ khi thấy văn hóa
của một nƣớc nhỏ chịu ảnh hƣởng sâu đậm văn hóa của một nƣớc láng giềng
lớn. Văn hóa Pháp và nhiều nƣớc Âu châu cũng chịu ảnh hƣởng của văn hóa
Hy- La (Hy lạp và La mã). Trong khi đó, nhiều nƣớc Á châu (nhƣ Triều Tiên,
23
phải nhƣ vậy. Chúng ta có thể tìm thấy trong các truyện kể khuyết danh, ca
dao tục ngữ, dấu ấn của văn hóa bác học. Một số tƣ liệu nhƣ vậy có trong thƣ
viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một số trong kho tàng truyện cổ tích, một số
trong các chùa... Chúng ta cũng dễ nhận thấy rấ t nhiều điển cố , điển tí ch đi
vào ca dao qua việc sử dụng những ngữ liệu , văn liệu trong các tác phẩm lớn
của dân tộc do các Nho sĩ sáng tác nhƣ
: Truyện Kiều của Nguyễn Du , Lục
Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu…vv Nhƣ̃ng tác phẩm này thƣờng có nguồn
gốc tƣ̀ Trung Hoa nhƣ
Truyện Kiều đƣợc lấy cốt truyện tƣ̀
Kim Vân Kiều
Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân . Văn hóa dân gian là văn hóa hình thành
trong dân gian và lƣu hành, tàng trữ trong dân gian có mới liên hệ với văn hóa
bác học lƣu hành trong giới trí thức thƣợng lƣu. Ngƣời bắc cầu cho mối liên
hệ đó là các ông đồ làng quê.
Nho giáo vào Việt Nam thông qua tiếng Hán. Hán văn cổ ở Việt Nam
phần nào thể hiện Hán ngữ cổ của các đời Đƣờng, Tớng và có liên hệ chăt chẽ
với Hán ngữ trƣớc Tần – Hán. Lê Trí Viễn nhận xét: “Trong tay sử dụng của
ngƣời Việt Nam, nó (Hán ngữ) không thể không tăng cƣờng từ vựng, linh
hoạt cú pháp, sáng tạo thêm cách diễn đạt mới, trở thành một thể Hán văn
Việt Nam rất gần gũi với tiếng Việt” [ 51, tr.3].
Đặc điểm nổi bật của các văn bản Hán văn cổ thể hiện ở các tính ngắn
xƣa, ngƣời viết phải tuân thủ theo mọi quy định. Ở phạm vi hạn hẹp của số
câu nhất định, ngƣời viết phải bộc lộ tài năng của mình qua câu thơ mang một
tƣ tƣởng bay bổng, phóng khoáng, mạnh mẽ, vƣợt ra ngoài khoảng sông núi,
đất trời, sao cho ngƣời đọc vừa hoài niệm chuyện xƣa, nghiệm lấy chuyện
nay.
- Có những sự việc hoặc lớn hoặc nhỏ cần đƣợc diễn tả sâu sắc, đầy đủ
nhƣng diễn đạt thật dài dòng khó nói đƣợc hết ý, nếu khéo dùng điển cố thì
những chữ ngắn gọn hàm chứa hai nghĩa đen và bóng là phƣơng tiện diễn đạt
tốt nhất, giúp lời, ý thêm đậm đà, lý thú.
25
- Trong khi bộc lộ ý tƣởng, tác giả gặp những điều khó nói, nếu nói ra
một cách thông thƣờng thì lời thơ, ý văn trở nên thô tục, khiếm nhã, họ phải
nhờ đến điển cố, một “trợ thủ đắc lực” để lời đƣợc nhẹ nhàng, ý đƣợc thanh
nhã, nghiêm túc.
- Điển cố lắm khi là những ví dụ, những chứng cớ xác thực để chứng
minh lập luận của tác giả. Khơng phải mất cơng dài dịng để kể lại việc xƣa
một cách chi tiết, chỉ cần trích dẫn những hình ảnh, những chuyện tích xƣa
cho chính xác, phù hợp cũng đủ cho lý lẽ trở nên vững chắc, xác thực.
- Do tác giả muốn tự khẳng định mình, muốn tác phẩm tỏ ra uyên bác,
họ càng phải tìm tòi những từ ngữ tinh hoa của dân gian, sáng tạo ngôn ngữ
chặt chẽ, kết hợp với điển cố để thực hiện nhiều đề tài về mọi khía cạnh của
xã hội và con ngƣời. Mục đích nhằm xây dựng số chữ ít nhƣng hàm ý càng
nhiều mà không phải là những lời mang tính lý thuyết khô khan, cứng nhắc.
Điển cố đƣợc sử dụng trong thơ ca càng làm tăng thêm màu sắc sống động, ý
nghĩa thêm phong phú, trong các bài nghị luận làm tăng nhiều lần tính thuyết
phục.
- Ngoài ra có thể cắt nghĩa hiện tƣợng dùng điển cố điển tích do yêu cầu
do tác giả Nguyễn Xn Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, khơng sử dụng
bản khác. Trong sách này, khối lƣợng tƣ liệu tƣơng đƣơng với số liệu về ca
dao, dân ca của tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đã đƣợc biên soạn từ cuối
thế kỷ XVIII đến năm 1975. Tất cả có 12.487 đơn vị ca dao. Đây là tài liệu có
dung lƣợng lớn nhất, đáng tin cậy nhất hiện nay để tiếp cận khảo sát thống kê
1.2.2 Nội dung sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt
- Kho tàng ca dao ngƣời Việt sắp xếp theo trật tự chữ cái của tiếng
đầu.
- Bảng tra cứu ca dao theo chủ đề
- Bảng tra cứu tên đất
- Bảng tra cứu tên ngƣời
27